VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN XUÂN BÌNH
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP
GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN XUÂN BÌNH
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP
GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG
Ngành: Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm
Mã số: 8.38.01.05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐINH THỊ MAI
HÀ NỘI, năm 2019
CHƯƠNG 3. DỰ BÁO VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA
TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG............................................................................................................................. 68
3.1. Dự báo hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng......................................................................................................................... 68
3.2. Giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng............................................................................................................... 71
KẾT LUẬN....................................................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BLHS
: Bộ luật hình sự
CGTS
: Cướp giật tài sản
TAND
: Tòa án nhân dân
TP
: Thành phố
VKSND
Trước tình hình phức tạp của tình hình tội CGTS, Đảng bộ, các ban
ngành và Chính quyền thành phố đã ban hành các chủ trương, chính sách, các
kế hoạch, chuyên đề về đấu tranh, phòng ngừa đối với tình hình tội
2
phạm CGTS. Tuy nhiên, trong thực tế công tác phòng ngừa với loại tội phạm
này vẫn còn những hạn chế nhất định như chưa huy động được sức mạnh tổng
hợp của toàn xã hội tham gia vào các hoạt động phòng ngừa đối với loại tội
phạm này, cơ chế phối hợp giữa các lực lượng còn nhiều bất cập, trong công
tác tuyên truyền nâng cao tinh thần cảnh giác trong nhân dân chưa được
thường xuyên, liên tục, chưa được chú trọng đúng mức đã ảnh hưởng không
nhỏ đến tình hình tội cướp giật tài sản tại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng,
đáng báo động phương thức, thủ đoạn hoạt động của loại tội phạm này diễn
biến ngày càng phức tạp về quy mô, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã
hội. Bên cạnh những nguyên nhân về khách quan, chủ quan, thì ý thức tự bảo
vệ tài sản của du khách và tham gia bảo vệ tài sản của người khác trong nhân
dân chưa cao cũng góp phần ảnh hưởng đến tình hình tội cướp giật tài sản.
Trên cơ sở các tài liệu tổng kết về công tác phòng ngừa đối với tội cướp
giật tài sản và xuất phát từ yêu cầu thực tiễn về nâng cao hiệu quả trong hoạt
động phòng ngừa đối với tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng, tôi chọn đề tài “Phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sĩ luật học là hoàn toàn cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản đã
được một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu và công bố, điển hình như:
-
Luận văn thạc sĩ: “Tội cướp giật tài sản trên địa bàn tỉnh An Giang:
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, trong quá trình nghiên cứu luận văn cần giải
quyết các nhiệm vụ sau:
+
Làm rõ cơ sở lý luận của phòng ngừa tội cướp giật tài sản và hoạt động
phòng ngừa tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
+
Làm rõ thực trạng hoạt động phòng ngừa tội cướp giật tài sản trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2014 đến 06 tháng đầu năm 2019.
+
Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động phòng
ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tình hình, chủ thể, cơ sở và thực trạng hoạt động phòng ngừa tình hình
tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Địa bàn thành phố Đà Nẵng.
- Phạm vi về thời gian: từ năm 2014 đến 06 tháng đầu năm 2019.
4
5.
Là tài liệu nghiên cứu, tham khảo đối với các lực lượng đang trực tiếp
làm phòng ngừa, đấu tranh đối với tội cướp giật tài sản. Những dự báo và đề
xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tình
hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phòng ngừa tình hình tội cướp giật
tài sản.
Chương 2: Thực trạng phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Dự báo và giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội
cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
5
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
1.1. Khái niệm, mục đích, ý nghĩa phòng ngừa tình hình tội cướp
giật tài sản
- Khái niệm phòng ngừa tình hình tội phạm
Ở
nước ta hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về phòng ngừa tình
hình tội phạm.
Theo từ điển Bách khoa nghiệp vụ Công an thì: phòng ngừa tội phạm là
sự vận dụng tổng hợp những biện pháp chính trị, tư tưởng, kinh tế, pháp luật...
còn có ý nghĩa phòng ngừa chung[29]. Việc trừng trị kẻ phạm tội và ngăn
chặn nó không phạm tội mới còn có ý nghĩa tác động đối với những người
xung quanh làm cho họ từ bỏ ý định phạm tội. Tuy nhiên, phòng ngừa tình
hình tội phạm còn được thể hiện ở việc cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội,
xóa bỏ các nguyên nhân và điều kiện phạm tội, hình thành các điều kiện tích
cực cho sự hình thành, hoàn thiện nhân cách con người mới. Theo quan niệm
này, phòng ngừa tình hình tội phạm bao hàm không chỉ ngăn ngừa tội phạm
xảy ra mà còn trừng trị người phạm tội nhằm giáo dục và cải tạo họ thành
người có ích cho xã hội [28].
Hiện nay, các nhà nghiên cứu trong lực lượng CAND quan niệm rằng:
phòng ngừa tình hình tội phạm là hệ thống các biện pháp của Nhà nước và xã
hội nhằm khắc phục nguyên nhân và điều kiện của tình trạng phạm tội làm
giảm tội phạm. Phòng ngừa tình hình tội phạm là tư tưởng chỉ đạo trong đấu
tranh phòng, chống tội phạm, bao gồm các hình thức và biện pháp được thực
hiện nhằm ngăn ngừa không để tội phạm xảy ra, nếu tội phạm xảy ra thì phải
hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả tác hại... [12]. Theo quan điểm này thì
phòng ngừa tình hình tội phạm bao gồm các hoạt động để phát hiện và khắc
phục nguyên nhân, điều kiện của tình trạng phạm tội từ đó tiến hành các biện
pháp nhằm ngăn ngừa không để tội phạm xảy ra, đồng thời hạn chế đến mức
7
thấp nhất tác hại khi tội phạm xảy ra. [11].
- Khái niệm tội cướp giật tài sản
Điều 171 Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
2015 quy định:
“Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm
đến năm năm”.
Căn cứ vào điều luật và qua thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử thì hành vi
8
già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
3.
h)
Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
i)
Tái phạm nguy hiểm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy
năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000
đồng;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ
tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
Thứ hai, mặt khách quan của tội cướp giật tài sản
Mặt khách quan của tội cướp giật tài sản thể hiện ở hành vi công khai và
nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác.
Hành vi “công khai” về mặt khách quan, chủ tài sản có khả năng biết
ngay khi hành vi này xảy ra. Về ý thức chủ quan của người phạm tội, người
phạm tội khi thực hiện hành vi chiếm đoạt biết hành vi chiếm đoạt của mình
có tính chất công khai và hoàn toàn không có ý định che giấu hành vi đó. Đây
cũng là một dấu hiệu đặc trưng để phân biệt với các trường hợp phạm tội khác
như hành vi trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản…
“Nhanh chóng” là dấu hiệu phản ánh thủ đoạn của người phạm tội. Đó là
thủ đoạn nhanh chóng tiếp cận tài sản, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và
nhanh chóng tẩu thoát.
Để giật được tài sản, người phạm tội lợi dụng sơ hở của chủ tài sản, sơ
hở này có thể sẵn có (như đeo dây chuyền lộ ra trên cổ, túi xách để ở giỏ xe,
sử dụng điện thoại di động khi đang chạy xe…) hoặc do người phạm tội chủ
động tạo ra (như giả vờ tiếp cận hỏi thăm chuyện với chủ tài sản, vào cửa
hàng giả vờ xem mua tài sản…) và nhanh chóng tiếp cận, nhanh chóng chiếm
đoạt và nhanh chóng tẩu thoát. Ví dụ, giật lấy túi xách của người đi đường và
10
nhanh chóng tẩu thoát…[37]
Thủ đoạn nhanh chóng này được thực hiện dưới nhiều hình thức khác
nhau và phụ thuộc vào đặc điểm của tài sản, cách thức giữ tài sản…, thông
thường đây là những tài sản gọn nhẹ, dễ giật lấy, dễ mang đi như: túi xách,
dây chuyền, máy ảnh, điện thoại di động…
Một số trường hợp, người phạm tội lúc đầu chỉ có ý định cướp giật tài
sản nhưng trong quá trình thực hiện hành vi bị chủ tài sản chống cự, giằng lấy
lại tài sản, người phạm tội đã có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực
Khung 2 (Cấu thành tăng nặng): quy định hình phạt tù từ 03 năm đến
10 năm.
+
Khung 3: quy định hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
+
Khung 4: quy định hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, hoặc
chung thân.
Ngoài ra, người phạm tội còn bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến
100.000.000 đồng.
- Khái niệm phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
Trên cơ sở thống nhất về mặt nhận thức về khái niệm phòng ngừa tình
hình tội phạm và nhận thức về tội cướp giật tài sản nói trên, chúng ta có thể
đưa ra khái niệm phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản như sau:
Phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản là hoạt động của các cơ quan
nhà nước, tổ chức xã hội và công dân bằng nhiều biện pháp hướng đến việc
thủ tiêu những nguyên nhân, điều kiện của tội cướp giật tài sản, nhằm ngăn
chặn, làm hạn chế và từng bước loại trừ tội phạm này ra khỏi đời sống xã hội
nói chung và nói riêng.
Hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản là hoạt động rất
phức tạp, đa dạng với sự tham gia của đông đảo các lực lượng, tổ chức xã
hội…Vì vậy, để phòng ngừa tình hình tội phạm này cần phải giải quyết tốt các
nhiệm vụ như nghiên cứu làm rõ các nguyên nhân, điều kiện của tình trạng
phạm tội cướp giật tài sản; soạn thảo các giải pháp, biện pháp phòng ngừa và
tổ chức tiến hành các hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản.
Hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản là việc tiến hành
đồng bộ các biện pháp, sử dụng đồng bộ nhiều lực lượng nhằm khắc phục
quy định rõ về trách nhiệm của các cơ quan, người tiến hành tố tụng trong
việc xác định nhanh chóng tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội,
cũng như trách nhiệm của các cơ quan tư pháp trong tổ chức đấu tranh phòng
ngừa tình hình tội phạm.
Ngoài ra, trong quá trình tiến hành các hoạt động phòng, chống tội phạm
nói chung và phòng, chống tội cướp giật tài sản nói riêng, lực lượng CSND và
13
các cơ quan pháp luật luôn bám sát vào đường lối, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm và những nội dung
phòng, chống tội phạm trong từng giai đoạn luôn được thể hiện trong các Chỉ
thị, Thông tư, Nghị quyết của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và của
ngành Công an. Những văn bản quy phạm này quy định chức năng, nhiệm vụ,
thẩm quyền của các lực lượng chuyên trách và là cơ sở pháp lý làm căn cứ
điều chỉnh các hoạt động nghiệp vụ của lực lượng CSND trong đấu tranh
phòng chống tội phạm nói chung và hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp
giật tài sản nói riêng trong thời gian qua [41]. Cụ thể là các văn bản sau:
-
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tại Điều 6 quy định: “Trong quá
trình tiến hành tố tụng hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có
trách nhiệm phát hiện nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu, kiến nghị
cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và phòng ngừa”.
-Bộ luật hình sự năm 2015, tại Điều 4 quy định: “Cơ quan Công an,
Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và cơ quan hữu quan khác có trách
nhiệm thi hành đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đồng thời
hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức, công dân đấu
trang nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANQG, đấu
tranh phòng, chống tội phạm” và tại khoản 2, Điều 15 Luật CAND năm 2013
quy định nhiệm vụ và quyền hạn của lực lượng CAND nêu rõ “Chủ động
phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động
xâm phạm an ninh quốc gia, loại trừ nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia; bảo vệ
Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống
nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh trong
các lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, kinh tế, quốc phòng, đối ngoại, thông tin, xã
hội, môi trường và các lợi ích khác của quốc gia; bảo vệ khối đại đoàn kết
toàn dân tộc; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền
tự do, dân chủ của công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức,
cá nhân”.
1.4. Các biện pháp phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
Tội phạm là một hiện tượng xã hội phức tạp, chịu sự chi phối của nhiều
yếu tố lịch sử - xã hội, do đó việc phòng ngừa chúng cũng đòi hỏi phải được
15
tiến hành một cách đồng bộ nhiều biện pháp, giải pháp khác nhau. Thực tiễn
pháp lý và các kết quả nghiên cứu khoa học cho phép chúng ta khái quát vấn
đề được nêu thành một hệ thống các biện pháp liên hoàn cần áp dụng để từng
bước giải quyết tình hình tội phạm nói chung và tội cướp giật tài sản nói
riêng. Có nhiều cách khác nhau để phân chia, tuy nhiên để thấy "Phòng ngừa
và đấu tranh chống tội phạm là trách nhiệm của toàn xã hội" như: Hiến pháp
năm 2013, Bộ luật hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã
quy định, thì việc phân loại các biện pháp phòng ngừa dựa vào phạm vi tác
động của các biện pháp là hợp lý nhất. Theo cách phân chia này thì hệ thống
các biện pháp phòng ngừa sẽ bao gồm 02 nhóm đó là: các biện pháp phòng
ngừa xã hội (phòng ngừa chung) và các biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ
Thứ hai, phối hợp giữa các lực lượng hữu quan xây dựng kế hoạch tổ
chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật để từng bước nâng cao ý thức
pháp luật cho người dân. Tuyên truyền giáo dục giúp cho quần chúng nhân
dân nhận thức rõ quy luật hoạt động và hậu quả tác hại của tội cướp giật tài
sản , từ đó có ý thức cảnh giác, tự bảo vệ mình, bảo vệ tài sản, tự giác tham
gia trong đấu tranh phòng chống tội cướp giật tài sản. Phát huy hiệu quả công
tác vận động, giáo dục cá biệt đối với những đối tượng có khả năng và điều
kiện phạm tội.
Thứ ba, phát động phong trào toàn dân tham gia phòng chống tội phạm
nói chung và tội cướp giật tài sản nói riêng. Phối hợp chặt chẽ với các cơ
quan, ban ngành, đoàn thể xã hội tăng cường vận động thực hiện phong trào
“Toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc”, đảm bảo huy động sức mạnh
của cả hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở tham gia phòng chống tội phạm.
Thứ tư, các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng tạo điều kiện công
ăn việc làm cho những người không có việc làm ổn định, đưa các đối tượng
nghiện ma túy đi cai nghiện, mở các trung tâm chữa bệnh, bảo trợ xã hội cho
những người là nạn nhân của tệ nạn xã hội, giúp họ từ bỏ con đường lầm lỗi.
Hoạt động phòng ngừa nghiệp vụ của lực lượng CAND đối với tội cướp
giật tài sản nói chung và nói riêng là quá trình sử dụng các biện pháp, phương
17
tiện nghiệp vụ của mình nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và phát hiện tội cướp
giật tài sản. Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao, các lực lượng CAND
cần tiến hành các biện pháp phòng ngừa cụ thể sau:
Một là, công tác điều tra cơ bản: Công tác ĐTCB của lực lượng CAND
là một hoạt động điều tra, nghiên cứu được tiến hành nhằm thu thập một cách
rộng rãi, toàn diện và hệ thống về tình hình, tài liệu, số liệu ở một địa bàn,
tuyến, lĩnh vực, một hệ đối tượng đấu tranh có liên quan đến công tác quản lý
tình hình của các loại đối tượng, chủ động phát hiện và có biện pháp tác động
đấu tranh, ngăn chặn không để tội phạm xảy ra. Đây là một trong những công
tác NVCB đặc biệt quan trọng đối với lực lượng CAND trong phòng ngừa,
phát hiện, điều tra tội phạm nói chung và tội cướp giật nói riêng.
Tiến hành sưu tra phải nắm được diễn biến của các đối tượng sưu tra có
điều kiện, khả năng hoặc có biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội cướp giật
tài sản nói chung và tội cướp giật tài sản nói riêng; nắm lai lịch, tiền án, tiền
sự, các mối quan hệ xã hội của đối tượng một cách có hệ thống, chính xác và
kịp thời. Trên cơ sở đó nghiên cứu phân loại đối tượng một cách chuẩn xác để
có kế hoạch quản lý, giáo dục, cảm hóa thích hợp hoặc tiến hành các biện
pháp nghiệp vụ để phòng ngừa, ngăn chặn mọi hoạt động liên quan đến tội
phạm của đối tượng.
Theo quy định tại Thông tư 19/2013/TT-BCA-C41 của Bộ trưởng Bộ
Công an, quá trình thực hiện công tác sưu tra, lực lượng CSND tiến hành sưu
tra theo danh mục gắn với địa bàn nơi cư trú, nơi làm việc hoặc hoạt động của
đối tượng và tiến hành sưu tra theo hệ loại đối tượng. Sau đó, dựa vào kết quả
sưu tra, phân loại đối tượng đã được xác định để phân cấp nhiệm vụ, trách
nhiệm của từng cấp trong việc áp dụng các biện pháp quản lý nghiệp vụ cho
từng đối tượng sưu tra. Đặc biệt cần chú ý đến số đối tượng có tiền án, tiền sự,
đối tượng sống lang thang, số đối tượng nghiện ma túy, bởi vì đây là số đối
tượng có khả năng phạm tội cướp giật tài sản trong đó có cướp giật tài sản.
Sau đó, dựa vào kết quả sưu tra, phân loại đối tượng đã được xác định để phân
cấp nhiệm vụ, trách nhiệm của từng cấp trong việc áp dụng các biện
19
pháp quản lý nghiệp vụ cho từng đối tượng sưu tra.
Để công tác sưu tra quản lý đối tượng có hiệu quả đòi hỏi khi thực hiện
phải gắn với các mặt công tác cơ bản khác, nhất là công tác quản lý tuyến, địa
tố cấu thành mặt khách quan của tội cướp giật tài sản. Để có cơ sở xác lập,
xác minh hiềm nghi, cần tiến hành công tác sưu tra, quản lý đối tượng một
cách có hệ thống gắn với công tác ĐTCB ở các địa bàn khác nhau để nắm mọi
diễn biến hoạt động của các loại đối tượng có tiền án, tiền sự và đối tượng có
biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội cướp giật tài sản [12].
Việc xác lập, xác minh hiềm nghi là cần thiết nhằm tập trung vào đối
tượng “điểm” nổi cộm cần đấu tranh, tránh dàn trải và áp dụng các biện pháp
nghiệp vụ tràn lan, kém hiệu quả. Trên thực tế có nhiều vụ việc, hiện tượng
“nghiêm trọng” bước đầu mới có dấu hiệu nghi liên quan đến hoạt động phạm
tội cướp giật tài sản , nhưng chưa có đầy đủ căn cứ để kết luận, do vậy cần
thiết phải có bước xác lập hiềm nghi để áp dụng các biện pháp nghiệp vụ làm
rõ. Tuy nhiên, việc xác lập, xác minh hiềm nghi về người chỉ tiến hành đối với
các trường hợp đối tượng hoạt động nghiêm trọng, có phương thức thủ đoạn
tinh vi, xảo quyệt, cần thiết phải áp dụng các biện pháp nghiệp vụ trinh sát cao
hơn mới làm rõ được.
Bốn là, công tác đấu tranh chuyên án: Chuyên án của lực lượng CSND
là hoạt động điều tra trinh sát, được tiến hành với sự chỉ đạo tập trung, thống
nhất, phối hợp chặt chẽ nhiều lực lượng, sử dụng đồng bộ các biện pháp,
phương tiện kỹ thuật, chiến thuật nghiệp vụ nhằm vào những đối tượng đã xác
định để phòng ngừa, ngăn chặn và khám phá, truy bắt tội phạm.
Đấu tranh chuyên án là bước phát triển, giai đoạn quan trọng của công
tác điều tra trinh sát, trực tiếp giải quyết các yêu cầu mà hoạt động điều tra
riêng lẻ không thể giải quyết được. Do vậy, quá trình thực hiện phải tuyệt đối
chấp hành các nguyên tắc: tuân thủ pháp luật, đảm bảo yêu cầu chính trị,
nghiệp vụ của ngành Công an; đảm bảo bí mật; tập trung, thống nhất, nhanh
chóng, kịp thời. Đồng thời, phải căn cứ vào yêu cầu, tính chất quy mô cụ thể
của chuyên án để tính toán việc sử dụng đặc tình, cơ sở bí mật hợp lý; kết hợp