VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN XUÂN BÌNH
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH
TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN XUÂN BÌNH
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH
TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Ngành: Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm
Mã số: 8.38.01.05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐINH THỊ MAI
HÀ NỘI, năm 2019
TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG ............................................................................................. 68
3.1. Dự báo hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng.......................................................................................... 68
3.2. Giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng ................................................................................... 71
KẾT LUẬN .................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BLHS
: Bộ luật hình sự
CGTS
: Cướp giật tài sản
TAND
: Tòa án nhân dân
TP
: Thành phố
VKSND
ngành và Chính quyền thành phố đã ban hành các chủ trương, chính sách,
các kế hoạch, chuyên đề về đấu tranh, phòng ngừa đối với tình hình tội
2
phạm CGTS. Tuy nhiên, trong thực tế công tác phòng ngừa với loại tội
phạm này vẫn còn những hạn chế nhất định như chưa huy động được sức
mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia vào các hoạt động phòng ngừa đối
với loại tội phạm này, cơ chế phối hợp giữa các lực lượng còn nhiều bất cập,
trong công tác tuyên truyền nâng cao tinh thần cảnh giác trong nhân dân
chưa được thường xuyên, liên tục, chưa được chú trọng đúng mức đã ảnh
hưởng không nhỏ đến tình hình tội cướp giật tài sản tại trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng, đáng báo động phương thức, thủ đoạn hoạt động của loại tội
phạm này diễn biến ngày càng phức tạp về quy mô, tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội. Bên cạnh những nguyên nhân về khách quan, chủ
quan, thì ý thức tự bảo vệ tài sản của du khách và tham gia bảo vệ tài sản
của người khác trong nhân dân chưa cao cũng góp phần ảnh hưởng đến tình
hình tội cướp giật tài sản.
Trên cơ sở các tài liệu tổng kết về công tác phòng ngừa đối với tội cướp
giật tài sản và xuất phát từ yêu cầu thực tiễn về nâng cao hiệu quả trong hoạt
động phòng ngừa đối với tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng,
tôi chọn đề tài “Phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sĩ luật học là hoàn toàn cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản đã
được một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu và công bố, điển hình như:
- Luận văn thạc sĩ: “Tội cướp giật tài sản trên địa bàn tỉnh An Giang:
tình hình,nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa”, của Lê Ngọc Hớn – Học
viện khoa học xã hội – TP Hồ Chí Minh, năm 2010.
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tình hình, chủ thể, cơ sở và thực trạng hoạt động phòng ngừa tình hình
tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Địa bàn thành phố Đà Nẵng.
- Phạm vi về thời gian: từ năm 2014 đến 06 tháng đầu năm 2019.
4
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà
nước ta về phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, bảo vệ ANQG và giữ
gìn TTATXH.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
+ Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp.
+ Phương pháp tọa đàm, trao đổi.
+ Phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung vào lý luận về phòng
ngừa tình hình tội cướp giật tài sản.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Là tài liệu nghiên cứu, tham khảo đối với các lực lượng đang trực tiếp làm
phòng ngừa, đấu tranh đối với tội cướp giật tài sản. Những dự báo và đề xuất
giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tình hình tội
cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới.
người phạm tội nào có thể tránh khỏi hình phạt của pháp luật. Đây là nội dung
quan trọng trong mọi thời kỳ của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.[11]
Thứ hai, bằng mọi biện pháp không cho tội phạm xảy ra, không để cho một
thành viên nào của xã hội phải chịu hình phạt của pháp luật, xã hội không
phải chịu hậu quả của tội phạm, các cơ quan bảo vệ pháp luật không phải có
những chi phí cần thiết cho việc điều tra, khám phá, xử lý người phạm tội và
điều quan trọng hơn là đảm bảo cuộc sống bình thường cho mọi công dân
trong xã hội, làm cơ sở cho mọi công dân có thể cống hiến sức lực của mình
vào sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Theo quan niệm này phòng ngừa tội
phạm khác với công tác điều tra khám phá, xử lý tội phạm.[11]
6
Theo giáo trình Tội phạm học của Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm
phòng ngừa tội phạm không chỉ bao gồm các hoạt động nhằm thủ tiêu nguyên
nhân và điều kiện phạm tội, không để cho tội phạm xảy ra mà còn bao gồm cả
những hoạt động ngăn chặn tội phạm, phát hiện điều tra khám phá tội phạm
và xử lý nghiêm minh các hành vi phạm tội nhằm trừng trị giáo dục người
phạm tội trở thành người công dân có ích cho xã hội [29]. Truy cứu trách
nhiệm hình sự cũng là một hình thức phòng ngừa tình hình tội phạm chủ động
và có hiệu quả. Thông qua hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và buộc kẻ phạm
tội phải chịu một hình phạt không những có ý nghĩa phòng ngừa cá biệt mà
còn có ý nghĩa phòng ngừa chung[29]. Việc trừng trị kẻ phạm tội và ngăn
chặn nó không phạm tội mới còn có ý nghĩa tác động đối với những người
xung quanh làm cho họ từ bỏ ý định phạm tội. Tuy nhiên, phòng ngừa tình
hình tội phạm còn được thể hiện ở việc cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội,
xóa bỏ các nguyên nhân và điều kiện phạm tội, hình thành các điều kiện tích
cực cho sự hình thành, hoàn thiện nhân cách con người mới. Theo quan niệm
này, phòng ngừa tình hình tội phạm bao hàm không chỉ ngăn ngừa tội phạm
năm 2015 quy định:
1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm
đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba
năm đến mười năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000
đồng;
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người
8
già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
i) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy
năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000
đồng;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
Thứ hai, mặt khách quan của tội cướp giật tài sản
Mặt khách quan của tội cướp giật tài sản thể hiện ở hành vi công khai và
nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác.
Hành vi “công khai” về mặt khách quan, chủ tài sản có khả năng biết
ngay khi hành vi này xảy ra. Về ý thức chủ quan của người phạm tội, người
phạm tội khi thực hiện hành vi chiếm đoạt biết hành vi chiếm đoạt của mình
có tính chất công khai và hoàn toàn không có ý định che giấu hành vi đó. Đây
cũng là một dấu hiệu đặc trưng để phân biệt với các trường hợp phạm tội khác
như hành vi trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản…
“Nhanh chóng” là dấu hiệu phản ánh thủ đoạn của người phạm tội. Đó là
thủ đoạn nhanh chóng tiếp cận tài sản, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và
nhanh chóng tẩu thoát.
Để giật được tài sản, người phạm tội lợi dụng sơ hở của chủ tài sản, sơ
hở này có thể sẵn có (như đeo dây chuyền lộ ra trên cổ, túi xách để ở giỏ xe,
sử dụng điện thoại di động khi đang chạy xe…) hoặc do người phạm tội chủ
động tạo ra (như giả vờ tiếp cận hỏi thăm chuyện với chủ tài sản, vào cửa
hàng giả vờ xem mua tài sản…) và nhanh chóng tiếp cận, nhanh chóng chiếm
đoạt và nhanh chóng tẩu thoát. Ví dụ, giật lấy túi xách của người đi đường và
10
nhanh chóng tẩu thoát…[37]
Thủ đoạn nhanh chóng này được thực hiện dưới nhiều hình thức khác
nhau và phụ thuộc vào đặc điểm của tài sản, cách thức giữ tài sản…, thông
thường đây là những tài sản gọn nhẹ, dễ giật lấy, dễ mang đi như: túi xách,
dây chuyền, máy ảnh, điện thoại di động…
Một số trường hợp, người phạm tội lúc đầu chỉ có ý định cướp giật tài
sản nhưng trong quá trình thực hiện hành vi bị chủ tài sản chống cự, giằng lấy
lại tài sản, người phạm tội đã có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực
100.000.000 đồng.
- Khái niệm phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
Trên cơ sở thống nhất về mặt nhận thức về khái niệm phòng ngừa tình
hình tội phạm và nhận thức về tội cướp giật tài sản nói trên, chúng ta có thể
đưa ra khái niệm phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản như sau:
Phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản là hoạt động của các cơ quan
nhà nước, tổ chức xã hội và công dân bằng nhiều biện pháp hướng đến việc
thủ tiêu những nguyên nhân, điều kiện của tội cướp giật tài sản, nhằm ngăn
chặn, làm hạn chế và từng bước loại trừ tội phạm này ra khỏi đời sống xã hội
nói chung và nói riêng.
Hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản là hoạt động rất
phức tạp, đa dạng với sự tham gia của đông đảo các lực lượng, tổ chức xã
hội…Vì vậy, để phòng ngừa tình hình tội phạm này cần phải giải quyết tốt
các nhiệm vụ như nghiên cứu làm rõ các nguyên nhân, điều kiện của tình
trạng phạm tội cướp giật tài sản; soạn thảo các giải pháp, biện pháp phòng
ngừa và tổ chức tiến hành các hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật
tài sản.
Hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản là việc tiến hành
đồng bộ các biện pháp, sử dụng đồng bộ nhiều lực lượng nhằm khắc phục
những sơ hở thiếu sót trong các mặt công tác không để đối tượng phạm tội
cướp giật tài sản có thể lợi dụng hoạt động phạm tội. Cần phải nghiên cứu
những đặc điểm hình sự của tội cướp giật tài sản để thấy được những nguyên
12
nhân trực tiếp làm nảy sinh, phát triển loại tội phạm này, từ đó khắc phục
nhằm ngăn chặn không để cho chúng có thể xảy ra.
1.2. Cơ sở, nguyên tắc của phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
Cơ sở pháp lý của hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
phòng, chống tội phạm trong từng giai đoạn luôn được thể hiện trong các Chỉ
thị, Thông tư, Nghị quyết của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và của
ngành Công an. Những văn bản quy phạm này quy định chức năng, nhiệm vụ,
thẩm quyền của các lực lượng chuyên trách và là cơ sở pháp lý làm căn cứ điều
chỉnh các hoạt động nghiệp vụ của lực lượng CSND trong đấu tranh phòng
chống tội phạm nói chung và hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài
sản nói riêng trong thời gian qua [41]. Cụ thể là các văn bản sau:
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tại Điều 6 quy định: “Trong quá
trình tiến hành tố tụng hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có
trách nhiệm phát hiện nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu, kiến nghị
cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và phòng ngừa”.
- Bộ luật hình sự năm 2015, tại Điều 4 quy định: “Cơ quan Công an,
Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và cơ quan hữu quan khác có trách
nhiệm thi hành đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đồng thời
hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức, công dân đấu
tranh phòng ngừa và chống tội phạm, giám sát và giáo dục người phạm tội tại
cộng đồng”.
- Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015: Tại khoản 2, Điều 5
quy định: Cơ quan điều tra của lực lượng CSND bao gồm Cơ quan CSĐT Bộ
Công an, Cơ quan CSĐT cấp tỉnh, Cơ quan CSĐT cấp huyện và tại khoản 4,
Điều 8 quy định Cơ quan điều tra tiến có nhiệm vụ tìm ra nguyên nhân, điều
kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện
pháp khắc phục và ngăn ngừa.
1.3. Chủ thể phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
Chủ thể hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản là các cá
nhân, tổ chức có trách nhiệm và quyền hạn hoạt động đấu tranh phòng, chống
14
15
tiến hành một cách đồng bộ nhiều biện pháp, giải pháp khác nhau. Thực tiễn
pháp lý và các kết quả nghiên cứu khoa học cho phép chúng ta khái quát vấn
đề được nêu thành một hệ thống các biện pháp liên hoàn cần áp dụng để từng
bước giải quyết tình hình tội phạm nói chung và tội cướp giật tài sản nói
riêng. Có nhiều cách khác nhau để phân chia, tuy nhiên để thấy "Phòng ngừa
và đấu tranh chống tội phạm là trách nhiệm của toàn xã hội" như: Hiến pháp
năm 2013, Bộ luật hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã
quy định, thì việc phân loại các biện pháp phòng ngừa dựa vào phạm vi tác
động của các biện pháp là hợp lý nhất. Theo cách phân chia này thì hệ thống
các biện pháp phòng ngừa sẽ bao gồm 02 nhóm đó là: các biện pháp phòng
ngừa xã hội (phòng ngừa chung) và các biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ
(phòng ngừa riêng).
Phòng ngừa xã hội là hệ thống các biện pháp kinh tế, chính trị, văn hoá,
xã hội, giáo dục và pháp luật nhằm góp phần hạn chế tiến tới loại trừ các yếu
tố có thể trở thành nguyên nhân và điều kiện thực hiện tội phạm; phòng ngừa
xã hội được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các tập
thể lao động cũng như bản thân từng công dân - cá nhân, thành viên của xã
hội, trong đó lực lượng CAND là nòng cốt thực hiện chức năng tham mưu,
hướng dẫn và trực tiếp tiến hành các mặt hoạt động đấu tranh phòng ngừa tình
hình tội phạm [38].
Để thực thi các biện pháp phòng ngừa xã hội, các lực lượng cần tiến
hành một số công tác cụ thể sau đây:
Thứ nhất, làm tốt công tác tham mưu, đề xuất với các cấp ủy Đảng,
chính quyền xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật có liên
quan đến việc quản lý con người, quản lý xã hội; công tác đấu tranh phòng,
chống tội phạm nói chung và tội cướp giật tài sản nói riêng. Tổ chức thực
hiện tốt các chủ trương, chính sách hiện hành của Đảng và Nhà nước về
công tác phòng, chống tội phạm, đặc biệt là phòng chống tội cướp giật tài
Hoạt động phòng ngừa nghiệp vụ của lực lượng CAND đối với tội cướp
giật tài sản nói chung và nói riêng là quá trình sử dụng các biện pháp, phương
17
tiện nghiệp vụ của mình nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và phát hiện tội cướp
giật tài sản. Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao, các lực lượng CAND
cần tiến hành các biện pháp phòng ngừa cụ thể sau:
Một là, công tác điều tra cơ bản: Công tác ĐTCB của lực lượng CAND
là một hoạt động điều tra, nghiên cứu được tiến hành nhằm thu thập một cách
rộng rãi, toàn diện và hệ thống về tình hình, tài liệu, số liệu ở một địa bàn,
tuyến, lĩnh vực, một hệ đối tượng đấu tranh có liên quan đến công tác quản lý
nhà nước về lĩnh vực hoạt động của CAND; về phương thức, thủ đoạn hoạt
động, nguyên nhân, điều kiện của các loại đối tượng để nghiên cứu tổng hợp
rút ra kết luận và đề ra đối sách thích hợp trong công tác bảo vệ ANQG và giữ
gìn TTATXH. Kết quả công tác ĐTCB là cơ sở để lực lượng Công an tham
mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp chỉ đạo các ngành tổ chức công
tác đảm bảo an ninh, phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ
quốc, khắc phục những sơ hở, thiếu sót trong việc thực hiện chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước ở cơ sở; phát hiện nhiều vấn đề liên quan đến
ANTT nhất là các yếu tố có tính quy luật chi phối tình hình tội phạm, làm nền
tảng cho toàn bộ hoạt động nghiệp vụ của lực lượng Công an. ĐTCB được
tiến hành ở tất cả các đơn vị nghiệp vụ trong ngành Công an một cách thường
xuyên, liên tục và lâu dài.
Điều 3, Thông tư 18/2013/TT-BCA-C41, ngày 01/4/2013 của Bộ Công
an quy định đối tượng công tác ĐTCB gồm: địa bàn (xã, phường, thị trấn, cơ
quan doanh nghiệp…); tuyến, mục tiêu, lĩnh vực; hệ, loại đối tượng. Do vậy,
để phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản lực lượng CAND cần tiến hành
công tác ĐTCB những địa bàn tập trung đông và dễ có nhiều tài sản có thể
nhiệm của từng cấp trong việc áp dụng các biện pháp quản lý nghiệp vụ cho
từng đối tượng sưu tra. Đặc biệt cần chú ý đến số đối tượng có tiền án, tiền
sự, đối tượng sống lang thang, số đối tượng nghiện ma túy, bởi vì đây là số
đối tượng có khả năng phạm tội cướp giật tài sản trong đó có cướp giật tài
sản. Sau đó, dựa vào kết quả sưu tra, phân loại đối tượng đã được xác định để
phân cấp nhiệm vụ, trách nhiệm của từng cấp trong việc áp dụng các biện
19
pháp quản lý nghiệp vụ cho từng đối tượng sưu tra.
Để công tác sưu tra quản lý đối tượng có hiệu quả đòi hỏi khi thực hiện
phải gắn với các mặt công tác cơ bản khác, nhất là công tác quản lý tuyến, địa
bàn và công tác vận động toàn dân tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, gắn liền
với kết quả công tác điều tra cơ bản, xác minh và đấu tranh phòng chống tệ
nạn xã hội để bổ sung tài liệu phục vụ công tác sưu tra đối tượng.
Ba là, công tác xác minh hiềm nghi: Hiềm nghi trong đấu tranh phòng
chống tội phạm, giữ gìn TTATXH là những người, việc, hiện tượng nghi
vấn hoạt động phạm tội mà lực lượng CSND phải khẩn trương tiến hành xác
minh làm rõ để kịp thời phòng ngừa, ngăn chặn. Hiềm nghi được xác lập khi
có căn cứ. Công tác xác minh hiềm nghi của lực lượng CSND là xác lập và
tập trung xác minh làm rõ nghi vấn và đi đến kết luận có hoạt động phạm tội
hay không.
Thực chất của công tác xác minh hiềm nghi thường là bước chuyển tiếp
và phát triển của công tác sưu tra nhằm tập trung xác minh làm rõ những dấu
hiệu nghi vấn về hoạt động phạm tội cụ thể của đối tượng; những vấn đề nghi
vấn và đi đến kết luận vấn đề nghi vấn ấy có phải là tội phạm; có hành vi
phạm tội hay không. Xác định khi một người có hành vi giống với hành vi
của người đang chuẩn bị hoặc đang hoạt động phạm tội cướp giật tài sản nói
chung và nói riêng; có dấu hiệu nghi vấn che dấu tung tích, thay đổi nhận
nhất, phối hợp chặt chẽ nhiều lực lượng, sử dụng đồng bộ các biện pháp,
phương tiện kỹ thuật, chiến thuật nghiệp vụ nhằm vào những đối tượng đã xác
định để phòng ngừa, ngăn chặn và khám phá, truy bắt tội phạm.
Đấu tranh chuyên án là bước phát triển, giai đoạn quan trọng của công
tác điều tra trinh sát, trực tiếp giải quyết các yêu cầu mà hoạt động điều tra
riêng lẻ không thể giải quyết được. Do vậy, quá trình thực hiện phải tuyệt đối
chấp hành các nguyên tắc: tuân thủ pháp luật, đảm bảo yêu cầu chính trị,
nghiệp vụ của ngành Công an; đảm bảo bí mật; tập trung, thống nhất, nhanh
chóng, kịp thời. Đồng thời, phải căn cứ vào yêu cầu, tính chất quy mô cụ thể
của chuyên án để tính toán việc sử dụng đặc tình, cơ sở bí mật hợp lý; kết hợp