BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGÔ THỊ HƯƠNG
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA CÁC DÂN
TỘC THIỂU SỐ VÙNG ĐÔNG BẮC
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGÔ THỊ HƯƠNG
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA CÁC DÂN
TỘC THIỂU SỐ VÙNG ĐÔNG BẮC
VIỆT NAM HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN ........ 7
1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án .............................. 7
1.1.1. Nghiên cứu về văn hóa, bản sắc văn hóa, bản sắc văn hóa các
dân tộc thiểu số.............................................................................................. 7
1.1.2. Nghiên cứu về giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc
thiểu số vùng Đông Bắc .............................................................................. 23
1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra đối với luận án....... 27
Tiểu kết chương 1 .......................................................................................... 31
Chương 2: LÝ LUẬN VỀ GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN
HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM ..... 32
2.1. Bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số.................................................... 32
2.1.1. Văn hóa và bản sắc văn hóa .............................................................. 32
2.1.2. Những vấn đề cơ bản của bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số .............. 42
2.2. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số vùng
Đông Bắc ........................................................................................................ 45
2.2.1. Bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc...................... 45
2.2.2. Thực chất của việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số
vùng Đông Bắc............................................................................................... 67
2.3. Những yếu tố tác động đến việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa
các dân tộc thiểu số. ...................................................................................... 77
Tiểu kết chương 2 .......................................................................................... 81
Chương 3: THỰC TRẠNG GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN
HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM ...........82
3.1. Thành tựu của giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc
thiểu số vùng Đông Bắc................................................................................. 82
3.1.1. Thành tựu của việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể .......... 83
3.1.2. Thành tựu của việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa phi
4.2.3. Đầu tư một cách cân xứng, hài hòa giữa nguồn lực kinh tế và
nguồn lực phát triển văn hóa ..................................................................... 142
4.2.4. Nâng cao trình độ, năng lực của đồng bào các dân tộc thiểu số với tư
cách là chủ thể của giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc mình......... 145
Tiểu kết chương 4 .......................................................................................... 149
KẾT LUẬN .................................................................................................. 150
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 153
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
VH
: Văn hóa
VHDT
: Văn hóa dân tộc
BSVH
: Bản sắc văn hóa
BSVHDT
: Bản sắc văn hóa dân tộc
DT
đi BSVH truyền thống vốn có của các DTTS.
Vùng Đông Bắc Việt Nam là vùng đất sinh sống của hơn hai mươi DT, chủ
yếu là các DTTS không nằm ngoài xu thế chung của cả nước. BSVH của đồng bào
các DTTS nơi đây vô cùng phong phú, đa dạng về các sắc thái biểu hiện thông qua
các giá trị VH vật thể và VH phi vật thể nhưng đều chứa đựng những giá trị VH đặc
trưng, cốt lõi tồn tại lâu đời trong lịch sử như tinh thần đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ lẫn
nhau; lối sống giản dị, mộc mạc, chân tình, hài hòa với con người, với thiên nhiên
núi rừng Đông Bắc; sự sáng tạo, cần cù, chịu khó trong lao động, sự thích ứng cao
với thiên nhiên có phần khắc nghiệt và luôn biết cách đảm bảo sự cân bằng tâm lý...
Những giá trị VH này đã tạo nên cốt cách, bản lĩnh của cả cộng đồng các DTTS
vùng Đông Bắc, giúp cho đồng bào tồn tại, phát triển bền vững trong lịch sử. Bối
2
cảnh và các điều kiện của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nhất là quá trình phát
triển kinh tế thị trường và xây dựng xã hội hiện đại ở nước ta hiện nay, một mặt đã
tạo ra những điều kiện thuận lợi cho đồng bào các DTTS tiếp tục duy trì, tồn tại,
phát triển các giá trị VH theo hướng hiện đại, mặt khác cũng làm cho các giá
trị VH đó bị pha tạp, biến đổi thậm chí mai một, mất dần BSVHDT như một
thách thức lớn.
Tình hình đó đang đặt ra vấn đề bức xúc hiện nay là làm thế nào để hội nhập
quốc tế và phát triển kinh tế thị trường, xây dựng xã hội hiện đại để phát triển nhanh
mà vẫn giữ gìn và phát huy được BSVH các DTTS; làm thế nào để giữ gìn, phát huy
BSVH các DTTS vùng Đông Bắc một cách hiệu quả để biến sức mạnh VH vùng
Đông Bắc vào sức mạnh chung của sự phát triển đất nước; giải pháp nào để có thể
nâng cao hiệu quả việc giữ gìn và phát huy BSVH các DTTS vùng Đông Bắc góp
phần đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới? Vấn đề này có ý nghĩa thiết thực đối
với sự phát triển vùng Đông Bắc nói riêng và cả nước nói chung, bởi “VH thực sự là
nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng đảm bảo sự
phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc”[34]. Với lý do đó, nghiên cứu sinh
+ Vùng Đông Bắc theo sự phân chia của Tổng cục Thống kê gồm 10
tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Yên
Bái, Lào Cai, Bắc Giang, Phú Thọ. Tuy nhiên, luận án chỉ nghiên cứu BSVH các
DTTS ở 6 tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc
Kạn vì ở đó đậm nét các BSVH vùng này.
+ BSVH các DTTS vùng Đông Bắc được thể hiện hết sức đa dạng.
Trong khuôn khổ một luận án tiến sĩ, luận án chỉ tập trung nghiên cứu BSVH
đó ở một số khía cạnh của VH vật thể và VH phi vật thể; chủ thể, nội dung,
cách thức giữ gìn, phát huy BSVH các DTTS.
+ Trong các Văn kiện của Đảng và Nhà nước ta, thuật ngữ “dân tộc”
được sử dụng với cả nghĩa rộng để chỉ DT quốc gia (nation) và cả nghĩa hẹp
để chỉ tộc người (ethnic). Trong luận án này, thuật ngữ các DTTS được sử
dụng đồng nghĩa với khái niệm tộc người (ethnic) - tức là theo cách gọi chung
ở nước ta hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận.
4
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước về việc giữ gìn và phát huy BSVH các DTTS trong chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung, DTTS vùng Đông Bắc
nói riêng. Luận án kế thừa kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa
học, tài liệu tổng kết thực tiễn của cơ quan Đảng, Nhà nước và địa phương
liên quan đến đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu.
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
và các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: lịch sử và logic, phân tích
và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, so sánh, lý luận gắn với thực tiễn, tham quan,
hội, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự nỗ lực của hệ thống chính trị ở cơ
sở cũng như sự chủ động, tích cực, tự giác của đồng bào các DTTS mà các giá
trị VH vật thể và các giá trị VH phi vật thể cơ bản vẫn tiếp tục được giữ gìn,
phát huy trong chính đời sống của đồng bào. Bên cạnh đó luận án cũng phân
tích, làm rõ được sự mai một, mất dần BSVH biểu hiện trong VH vật thể và
VH phi vật thể của đồng bào các DTTS trước tác động của kinh tế thị trường,
của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cũng như sự hạn chế về nhận thức, hoạt
động kém hiệu quả của các chủ thể trong việc giữ gìn, phát huy BSVH đó.
- Luận án đã đưa ra được một số quan điểm hợp lý cần được quán triệt sâu
sắc, đó là: Giữ gìn, phát huy BSVH các DTTS theo nguyên tắc thống nhất trong đa
dạng và tiên tiến hóa nền VH Việt Nam; gắn với nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của đồng bào; phát huy vai trò chủ thể của đồng bào. Trên cơ sở đó, luận án đã
đưa ra những giải pháp cụ thể, khả thi để nâng cao hiệu quả giữ gìn, phát huy
BSVH các DTTS vùng Đông Bắc trong bối cảnh và điều kiện hiện nay như là:
Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa hình thức, nội dung giáo dục, tuyên truyền;
Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa đáp ứng yêu cầu giữ gìn, phát huy
bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số; Đầu tư một cách hài hòa, cân xứng giữa mục
tiêu phát triển kinh tế với mục tiêu phát triển văn hóa; Nâng cao trình độ, năng lực
của đồng bào các dân tộc thiểu số với tư cách là chủ thể giữ gìn, phát huy bản sắc
văn hóa của dân tộc mình.
6
6. Ý nghĩa của luận án
- Ý nghĩa lý luận:
+ Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm phong phú và sâu hơn
lý luận về giữ gìn, phát huy BSVHDT, đặc biệt là của các DTTS vùng Đông
Bắc Việt Nam.
+ Cung cấp cơ sở khoa học cho công tác hoạch định chiến lược, chính
sách phát triển VH ở đồng bào các DTTS vùng Đông Bắc nước ta.
cạnh của VH đó là các giá trị tinh thần, còn các giá trị vật chất không được
ông đề cập đến và nó nằm ngoài khái niệm VH.
Hội nghị thế giới về chính sách văn hóa do UNESCO tổ chức tại
Mexico từ ngày 26-7 đến ngày 6-8-1982 đã thông qua Tuyên bố chung, trong
đó nêu rõ bản chất của VH là tổng thể những nét nổi bật về tinh thần, vật chất,
trí tuệ và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội. Nó không
chỉ gồm nghệ thuật và văn học mà còn cả lối sống, các quyền cơ bản của con
người, các hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng.
8
Định nghĩa về VH của UNESCO năm 1982 đã trình bày một cách có hệ
thống và toàn diện các thành tố của VH theo nghĩa rộng nhất của nó. Quán
triệt tinh thần cơ bản trên, nhân dịp phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn
hóa (1988-1997) trên phạm vi toàn cầu, ngài Tổng giám đốc UNESCO
Federico Mayor đã nhấn mạnh thêm rằng: “VH là tổng thể sống động các hoạt
động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng
tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu những yếu tố xác định đặc tính riêng của DT....”[90; 33,34]. Quan điểm của ngài
Mayor thể hiện rõ bản chất của VH là hoạt động sáng tạo của con người tạo ra các
giá trị, và nó làm nên đặc tính riêng của các DT để phân biệt DT này với DT khác.
Như vậy, các nhà khoa học, các nhà hoạt động VH, các tổ chức quốc tế
đã nhận diện VH ở các góc độ khác nhau, qua đó vấn đề bản chất của VH
được bộc lộ. Có công trình tiếp cận VH theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm các giá
trị tinh thần, có công trình tiếp cận VH theo nghĩa rộng, bao gồm cả các hoạt
động sáng tạo của con người và kết quả của hoạt động sáng tạo đó là các giá
trị vật chất và tinh thần.
Trong định nghĩa VH của mình, Hồ Chí Minh cũng đã chỉ ra các thành tố
chủ yếu tạo nên VH đó là ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn
giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các
phương thức sử dụng. Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh đặc trưng sáng tạo
với gia đình, với xã hội...) các thành tựu của VH tổ chức đời sống (bao gồm các
thang giá trị trong cách tổ chức đời sống gia đình, cộng đồng, xã hội...). Như vậy,
không thể coi VH là tất cả mà VH chỉ là những thành tựu được thăng hoa thành vẻ
đẹp. Cũng không thể hiểu VH quá hẹp, ví dụ như nâng cao trình độ VH, thường chỉ
dùng để chỉ học vấn, kiến thức ...
Công trình “Văn hóa, một số vấn đề lý luận”[88] của tác giả Trường
Lưu, trong phần tiếp cận khái niệm, bản chất VH, tác giả đã cho rằng VH là
sản phẩm cụ thể gắn với cái DT, những thành tựu và tinh hoa của nó góp vào
kho tàng sáng tạo của loài người. Ngoài tính DT, VH còn có tính nhân loại
10
phổ quát mang đậm dấu ấn nhân tính tạo nên giá trị nhân văn. Bất cứ sáng tạo
của lĩnh vực nào mang tính giá trị, gắn với lợi ích con người đều bao hàm ý
nghĩa nhân văn ở cấp độ khác nhau, trực tiếp hoặc gián tiếp theo đặc thù của
mỗi lĩnh vực. Như vậy, tác giả đã tiếp cận VH ở góc độ hoạt động sáng tạo ra
các giá trị và đồng thời tác giả cũng chỉ ra tính chất của VH đó là tính DT
(gắn với các điều kiện đặc thù của DT) và tính nhân loại (hướng tới các giá trị
chung mang tính phổ quát).
Công trình “Văn hóa và phát triển”[59] của tác giả Đỗ Huy đã lược
khảo các quan niệm về VH ở phương Đông và phương Tây theo dòng lịch sử,
quan niệm Mácxít và quan niệm của Hồ Chí Minh về bản chất của VH. Trên
cơ sở đó, tác giả đưa ra quan niệm của mình về VH, nó chính là tổng thể các
giá trị do con người tạo ra, đó là các giá trị vật chất, các giá trị tinh thần và
bản thân sự phát triển của con người. Tác giả cho rằng, trong VH, cả ba giá trị
này đều tương tác và gắn bó với nhau. Trong các giá trị vật chất có các giá trị tinh
thần và trong các giá trị tinh thần đều hàm chứa các giá trị vật chất. Trong hai giá trị
đó cũng hàm chứa sự phát triển năng lực bản chất của con người.
Tóm lại, các nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động VH trên thế giới cũng
như ở Việt Nam đã có sự nhận diện VH là khác nhau về độ rộng hẹp của vấn
trong tựa như tấm căn cước của mỗi DT.
Công trình nghiên cứu“Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc vai trò của nghiên cứu và giáo dục”[120] bao gồm nhiều bài viết của nhiều
tác giả đề cập đến vấn đề VH và BSVHDT. Bài viết “Về tính bền vững và
biến đổi trong bản sắc văn hóa dân tộc”[120;178] của tác giả Hồ Anh Dũng
đã đề cập đến quan niệm, đặc trưng, kết cấu của VH và BSVHDT, làm cơ sở
để tìm hiểu tính bền vững và biến đổi trong BSVHDT. Từ đó, tác giả đi đến
khẳng định: Trong công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường, mở
cửa, giao lưu, hợp tác với các nước có chế độ chính trị khác nhau thì chỉ có
dựa trên cơ sở giữ gìn và phát huy tốt BSVHDT, chúng ta mới có nội lực để
tiếp thu được những tinh hoa VH của thời đại, làm tăng nguồn lực để phát
12
triển nhanh và bền vững. “Bản sắc văn hóa dân tộc bắt nguồn từ bản lĩnh dân
tộc”[120;52] của tác giả Hồ Lê đã xem xét vấn đề BSVHDT theo hai bình
diện: BSVH của DT Việt Nam và BSVH của từng DT trong nước Việt Nam.
Đồng thời, tác giả cũng khẳng định bản lĩnh DT là cội nguồn của bản sắc DT,
BSVHDT cũng có tác động ngược lại củng cố bản lĩnh DT, giúp cho DT tự
tin, phát huy tốt hơn bản lĩnh của mình để vượt qua các thử thách của lịch sử.
Công trình “Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu
hóa”[64] do tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn và tác giả Nguyễn Văn Huyên (đồng
chủ biên) gồm nhiều bài viết về vấn đề BSVH như: “Toàn cầu hóa và một số
vấn đề đặt ra đối với bản sắc văn hóa Việt Nam”[64;223] của tác giả Nguyễn
Văn Huyên; “Bản sắc văn hóa dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa”[64;236] của
tác giả Trần Văn Bính. Tác giả bài viết cho rằng, BSVH không chỉ biểu hiện rõ
rệt trong đạo đức, trong lối sống, trong các hoạt động nghệ thuật mà còn tiềm ẩn
trong phong tục tập quán, những cách cảm nhận riêng về thế giới về không gian
và thời gian.
Công trình “Bản sắc văn hóa dân tộc”[129] của tác giả Hồ Bá Thâm đã
chỉ ra bản chất của BSVHDT, tác giả cho rằng BSVHDT đó là một kiểu tổ hợp,
đặc trưng của VH, được hình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử
lâu dài của DT. Các đặc trưng VH ấy mang tính bền vững, trường tồn, trừu
tượng và tiềm ẩn, muốn nhận biết được BSVH phải thông qua vô vàn những
sắc thái VH, với tư cách là sự biểu hiện của BSVH ấy. Tác giả cũng cho rằng,
nhiều khi hiểu BSVH chính là các giá trị VH khi coi đó như là cái căn cước,
cái đặc thù của mỗi cộng đồng, phân biệt nó với cộng đồng khác.
Tất cả các bài viết, các công trình khoa học này đã phân tích sâu sắc và
toàn diện về bản chất, nội dung, vai trò, vị trí của BSVHDT những vấn đề
phải đối mặt của BSVHDT trong bối cảnh toàn cầu hóa, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa. Qua đó, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định và tổ chức
triển khai các nội dung trong quan điểm, đường lối, chính sách phát triển VH
của Đảng và Nhà nước ta.
14
Có thể nói, các sách, các bài viết, các công trình nghiên cứu đã tiếp cận
vấn đề BSVH, BSVHDT từ nhiều góc độ khác nhau nhưng đều có điểm
chung là chỉ ra bản chất của VH chính là quá trình hoạt động sáng tạo của con
người. Kết quả của quá trình hoạt động sáng tạo đó chính là hệ thống các giá
trị vật chất và tinh thần. Trong hệ thống các giá trị đó, có những giá trị đặc
trưng, cốt lõi, tinh túy nhất và là cái để phân biệt DT này với DT khác và
được gọi là BSVHDT. Các nhà nghiên cứu cũng đều khẳng định BSVHDT
chính là sức mạnh nội sinh để đưa đất nước phát triển bền vững trong thời kỳ
mở cửa, hội nhập quốc tế. Từ đó, đi đến kết luận cần thiết phải giữ gìn và phát
huy BSVHDT và đưa ra một số định hướng và giải pháp nhằm giữ gìn, phát
huy BSVHDT trong bối cảnh mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng.
Tuy nhiên, thực tiễn đất nước và thời đại luôn vận động, do đó đặt ra
yêu cầu cho công tác nghiên cứu lý luận là phải tiếp tục làm rõ hơn nhiều vấn
đề đã, đang và sẽ nảy sinh trong quá trình giữ gìn và phát huy BSVHDT để có
Mountain Region and the Project and poverty reduction in the Northern
Mountain Region of Vietnam” (Tổng quan tình hình kinh tế - xã hội khu vực
miền núi phía Bắc và dự án xóa đói giảm nghèo ở khu vực miền núi phía Bắc
Việt Nam)[74] của Neil Jamieson; “Rethinking Approaches to Ethenic
Minority Develoment, the case of Vietnam” (Nghĩ lại cách tiếp cận chương
trình phát triển DTTS, trường hợp Việt Nam)[75] ….
Trên cơ sở tình hình kinh tế - xã hội của khu vực miền núi phía Bắc,
những nghiên cứu, báo cáo này đã đưa ra một số khuyến nghị về việc bổ
sung, hoàn thiện đường lối, chính sách cho phù hợp với tình hình thực tiễn
của các DTTS, qua đó, góp phần phát huy vai tṛò của VH với tư cách là năng
lực nội sinh của người DTTS trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Ở trong nước cũng có nhiều công trình nghiên cứu về VH các DTTS
như: “Một số vấn đề về phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số”[121] của tập
thể các tác giả. Cuốn sách gồm nhiều bài viết của các tác giả về vấn đề cái
chung, cái riêng trong sự phát triển nền VH Việt Nam. Cái riêng đó chính là
16
VH tộc người, VH của từng DT cụ thể sinh sống trong lãnh thổ Việt Nam,
góp vào nền VH chung thống nhất những nét VH độc đáo, đặc sắc, đặc trưng
của từng DT. Cũng trong cuốn sách này, tác giả Ngô Đức Thịnh có bài viết
“Về sự thâm nhập và xuất hiện cái mới trong văn hóa các dân tộc thiểu
số”[121], tác giả đã phân tích, làm rõ trong VH các DTTS, các hiện tượng VH
mới dần dần xuất hiện và nảy sinh do sự phát triển nội tại của nền VH mỗi
DT, là sản phẩm của quá trình giao lưu, ảnh hưởng VH giữa các DT, giữa các
nước đang diễn ra hết sức sống động hiện nay. Tác giả đã đưa ra những chỉ
dẫn về sự xuất hiện các hiện tượng VH mới trong cả VH vật chất lẫn VH tinh
thần. Qua đó, giúp chúng ta nhận diện được xu hướng biến đổi của VH các
DTTS trong bối cảnh kinh tế - xã hội mới hiện nay. Từ đó, cung cấp những cơ
sở khoa học cho việc hoạch định các chiến lược phát triển VH ở vùng các
hóa các dân tộc thiểu số từ một góc nhìn”[102] của tác giả Vi Hồng Nhân;
“Đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa”[9] do Trần Văn Bính (chủ biên)... Những công trình này đã trình bày
một cách tổng quát một số giá trị độc đáo, cơ bản nhất trong VH các tộc
người. Những giá trị đó không những bảo đảm cho sự tồn tại của các tộc
người trong lịch sử mà nếu biết phát huy tốt sẽ tạo điều kiện để các tộc người
phát triển trong điều kiện hiện nay.
Trong công trình “Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt
Nam”[133], tác giả Ngô Đức Thịnh cũng bàn đến VH tộc người, thực trạng và
sự biến đổi VH các tộc người thiểu số. Dựa trên góc độ tiếp cận VH và phát
triển, tác giả chỉ ra thực trạng VH các DTTS ở các khía cạnh: cơ cấu xã hội cổ
truyền của các DTTS, về VH vật chất, về VH tinh thần, các khuynh hướng
biến đổi đời sống VH các DTTS. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra những vấn đề
đặt ra trong phát triển VH các DTTS. Những vấn đề vừa thuộc các khía cạnh
nhận thức của con người, nhất là của những người quản lý, lại vừa thuộc khía
cạnh cơ chế, tổ chức thực hiện. Từ đó cung cấp cho bạn đọc bức tranh tổng
quát về thực trạng VH các DTTS ở nước ta, là cơ sở để các nhà hoạch định
18
chính sách, các nhà nghiên cứu đưa ra những chính sách, biện pháp nhằm
phát triển VH ở vùng các DTTS.
Nghiên cứu cơ bản về VH từng DT là một hướng nghiên cứu lâu dài
của DT học và nhiều bộ môn khoa học xã hội và nhân văn. Qua các công trình
nghiên cứu, những đặc trưng cơ bản về lịch sử, kinh tế, xã hội, VH của các
DT được làm sáng tỏ, tiêu biểu là các tác phẩm: “Sơ lược giới thiệu các nhóm
Tày - Nùng - Thái ở Việt Nam”[83] của nhóm tác giả Lã Văn Lô, Đặng
Nghiêm Vạn; “Người Dao ở Việt Nam”[35] của Bế Viết Đẳng và nhiều tác
giả; “Văn hóa Tày - Nùng”[82] của Lã Văn Lô, Hà Văn Thư; “Văn hóa tín
ngưỡng Tày, Nùng” [76] do tác giả Vũ Ngọc Khánh chủ biên; “Các dân tộc