LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay nước ta đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Thực chất đó là nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì lợi ích kinh tế và để tồn tại
buộc các chủ thể kinh tế phải cạnh tranh. Cạnh tranh là động lực, là một trong
những nguyên tắc cơ bản tồn tại khách quan và không thể thiếu được của nền
sản xuất hàng hoá. Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị
trường. Đối với mỗi chủ thể kinh doanh, cạnh tranh tạo sức ép hoặc kích thích
ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong sản xuất, cải tiến công nghệ, thiết
bị sản xuất và phương thức quản lý nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá
thành và giá bán hàng hoá. Cạnh tranh với các tín hiệu giá cả và lợi nhuận sẽ
hướng người kinh doanh chuyển nguồn lực từ nơi sử dụng có hiệu quả thấp hơn
sang nơi sử dụng có hiệu quả cao hơn. Đối với xã hội, cạnh tranh là động lực
quan trọng nhất để huy động nguồn lực của xã hội vào sản xuất kinh doanh hàng
hoá dịch vụ còn thiếu, qua đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn xã hội. Trong
cạnh tranh doanh nghiệp yếu kém bị đào thải, doanh nghiệp mới xuất hiện,
doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển, nhờ đó nguồn
lực xã hội được sử dụng hợp lý. Cạnh tranh tạo ra sự đa dạng của sản phẩm và
dịch vụ cũng chính là tạo ra nhiều lựa chọn cho khách hàng, cho người tiêu
dùng.
Chính vì sự cần thiết đó của cạnh tranh mà em đã chọn đề tài: “Lý luận về
sự cạnh tranh và sự vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam”.
Bài tập của em gồm hai nội dung chính:
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ CÁC LOẠI
CẠNH TRANH
CHƯƠNG 2: SỰ VẬN DỤNG LÝ LUẬN CỦA CẠNH TRANH VÀO VIỆT NAM
- NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM VẬN DỤNG TỐT HƠN LÝ LUẬN CẠNH
TRANH VÀO NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN TỚI
1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bởi vì ở nơi mà chủ nghĩa xã hội
hiện thực đã ra đời thì lại không phát triển thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa; còn ở nơi phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì
chủ nghĩa xã hội chưa phát triển hoàn chỉnh.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế trong
thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đ ây là một điểm đột phá lý luận,
một mô hình thực tiễn đang trong quá trình thử nghiệm, là sự phủ định con đường
xây dựng chủ nghĩa xã hội tập trung, quan liêu, bao cấp. Đương nhiên, đó không
phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, tuy rằng nó có thể học hỏi nhiều
điều từ nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hiện đại. Nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa có bản chất kinh tế khác với nền kinh tế thị trường
tư bản chủ nghĩa. Bản chất đó được quy định bởi các quan hệ kinh tế trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Bàn về bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam chính là bàn về bản chất của những thành phần kinh tế của nền kinh tế
quốc dân trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam.Những thành phần kinh tế đó tạo
thành cơ sở kinh tế của định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở
Việt Nam. ở đây, có một câu hỏi đặt ra: Phải chăng định hướng chính trị quy định
bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa? Vấn đề mối
quan hệ giữa kinh tế và chính trị của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội là vấn đề không đơn giản chút nào. Chắc chắn rằng, trong
3
thời kỳ quá độ ở Việt Nam, chính trị phải đóng vai trò hàng đầu và chi phối toàn
bộ sự phát triển của đất nước, kể cả sự phát triển kinh tế. Con đường chính trị xã
hội chủ nghĩa là một tất yếu khách quan của cách mạng Việt Nam trong thời đại
cả loài người vẫn tiếp tục vượt qua chủ nghĩa tư bản, đi lên chủ nghĩa xã hội theo
cách này hay cách khác, cho dù trước mắt còn gặp vô vàn khó khăn. Tuy nhiên,
định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ ở
nước ta không phải chỉ do định hướng chính trị chi phối, mà còn được chi phối
bởi cơ sơ kinh tế bên trong, được bảo đảm bởi một kết cấu kinh tế mà trong quá
xuất lớn, nhưng theo tư duy mới, theo con đường kinh tế thị trường. Chúng ta sẽ
đi từ nền kinh tế hàng hoá nhỏ lên nền kinh tế hàng hoá lớn mang bản chất xã hội
chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, học tập và sử dụng tối đa các thành tựu của nền kinh tế
hàng hoá lớn tư bản chủ nghĩa.
- Tại Việt Nam hiện nay việc phát triển kinh tế thị trường là sự cần thiết
khách quan do:
+ Phân công lao động xã hội hay còn gọi là phân công xã hội đã phát triển.
Đó là sự tách biệt của các loại hoạt động lao động khác nhau với bốn dạng phân
công lao động là: Phân công chung, phân công riêng, phân công theo lãnh thổ và
phân công trong nội bộ. Việc dẫn đến phân công lao động trong xã hội là do sự
phát triển của lực lượng sản xuất nhưng ngược lại phân công lao động phát triển
cũng là nhân tố thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
+ Nền kinh tế nước ta hiện nay tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về
tư liệu sản xuất.
- Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta có những
đặc điểm sau:
5
+ Trình độ kinh tế nước ta kém phát triển. Kết cấu hạ tầng vật chất và xã
hội thấp kém. Cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ của các doanh nghiệp còn lạc
hậu, kém sức cạnh tranh. Nền kinh tế nước ta vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán, phân
công lao động chưa phát triển, tỷ trọng hàng hoá chưa cao đặc biệt trong nông
nghiệp. Trình độ quản lý còn yếu, chúng ta còn thiếu những cán bộ quản lý kinh
doanh có trình độ. Quan hệ kinh tế vẫn còn dấu ấn của nền kinh tế chỉ huy làm sơ
cứng các mối quan hệ kinh doanh. Mức sống dân cư thấp dẫn đến sức mua kém
kéo theo kinh tế không phát triển.
+ Nền kinh tế nhiều thành phần, các thành phần kinh tế chuyển hoá lẫn
nhau, có sự quản lý của nhà nước.
+ Cơ chế điều hành nền kinh tế là cơ chế thị trường với sự quản lý của nhà
nước.
+ Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện
được các mục tiêu này, chính sách cạnh tranh đảm bảo tự do thương mại, tự do
lựa chọn và tự do tiếp cận thị trường cho các doanh nghiệp. ở một số nước ví dụ
như Đức, tự do hành động một cách độc lập được coi là biểu hiện dân chủ của hệ
thống pháp luât kinh tế. Một số nước khác, ví dụ như Pháp đặc biệt nhấn mạnh
chính sách cạnh tranh như một cách thức đảm bảo tự do kinh tế và tự do kinh tế
chính là tự do cạnh tranh.
Điều tiết quá trình cạnh tranh, hướng quá trình này phục vụ cho những mục
tiêu đã được định sẵn, ví dụ như đặt hiệu quả kinh tế cao, bảo vệ các doanh
7
nghiệp vừa và nhỏ, duy trì hệ thống doanh nghiệp tự chủ, duy trì sự công bằng,
trung thực trong kinh doanh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng…
Chính sách cạnh tranh còn có thể giúp bình ổn giá cả trong nước và ngược
lại, nếu tồn tại xu hướng độc quyền sẽ ít có khả năng thành công trong việc bình
ổn giá cả.
Hạn chế các tác động tiêu cực nảy sinh do sự diều hành quá mức của nhà
nước đối với thị trường như kéo dài thời gian ra quyết định của doanh nghiệp và
chi phí giao dịch cao.
- Vai trò của chính sách cạnh tranh trong cải cách quy chế:
+ Quy chế có thể mâu thuẫn với chính sách cạnh tranh. Các quy chế có thể
khyến khích thậm chí yêu cầu, hành vi và điều kiện vi phạm pháp luật cạnh tranh.
Ví dụ như quy chế cấm bán với giá thấp hơn chi phí, mặc dù đây là biện pháp
thúc đẩy cạnh tranh nhưng thường được coi là hành vi chống cạnh tranh.
+ Quy chế có thể thay thế chính sách cạnh tranh. Khi độc quyền là hình
thức không thể tránh khỏi, quy chế cố gắng kiểm soát trực tiếp quyền lực thị
trường thông qua ấn định giá hoặc kiểm soát việc nhập cuộc hoặc tiếp cận. Những
thay đổi về kỹ thuật và các thể chế có thể dẫn tới việc xem xét lại các giả định cơ
bản ủng hộ cần có quy chế là chính sách cạnh tranh và các thể chế có thể là không
đủ để thực hiện nhiệm vụ ngăn cản độc quyền và lạm dụng vị thế thị trường.
+ Quy chế có thể củng cố chính sách cạnh tranh. Các quy định và các nhà
lập pháp có thể cố gắng ngan cản hành vi câu kết hoặc lạm dụng trong một ngành
sống sót, tồn tại.
9
- Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một tất yếu, nhưng thị
trường cạnh tranh hoàn hảo chỉ là một trường hợp đặc biệt. Như kẻ cạnh
tranh hoàn hảo được định nghĩa là một doanh nghiệp không kiểm soát được
giá cả theo đó nó có thể bán nhiều hoặc ít sản phẩm tuỳ thích. Và đó là
những thị trường có những đặc tính, hiệu quả về phân bố, đem lại sự thoả
mãn cao nhất các nguồn tài nguyên hạn chế của xã hội. Tuy nhiên trong nền
kinh tế thị trường thực tế không diễn ra như vậy. Nó chứa đựng sự hỗn hợp
của những hiện tượng không hoàn hảo của độc quỳên, cùng những nhân tố
cạnh tranh. Vì vậy trong thực tại, hầu hết các trường hợp được xếp vào loại
hình cạnh tranh không hoàn hảo. Nó vừa không phải là cạnh tranh hoàn hảo,
vừa không phải là độc quyền hoàn toàn. Cạnh tranh không hoàn hảo ngự trị
trong một ngành hoặc một nhóm ngành kinh tế ở bất kì nơi nào mà những
người bán hàng phần nào kiểm soát được giá cả. Điều này có nghĩa là doanh
nghiệp có sức mạnh độc quyền tuyệt đối với giá cả mà họ có thể định ra.
Trong nhưng thị trường cạnh tranh không hoàn hảo khác nhau thì mức độ về
sự không hoàn hảo của độc quyền có sự khác nhau. Về cơ bản, cạnh tranh
không hòan hảo phát sinh khi sản lượng của một ngành công nghiệp do một
số ít doanh nghiệp cung cấp. Hai nguồn gốc của sự không hoàn hảo trên thị
trường là những điều kiện về chi phí và những cản trở đối với cạnh tranh khi
có những nền kinh tế đáng kể về sản xuất quy mô lớn thì điều đơn giản là
các doanh nghiệp lớn có thể sản xuất rẻ hơn các doanh nghiệp nhỏ và như
vậy các doanh nghiệp nhỏ sẽ không thể tồn tại được. Một trở ngại lớn đối
với cạnh tranh phát sinh khi những yếu tố pháp lý hoặc tâm lý làm giảm số
người cạnh tranh hoặc giảm tính gay gắt của sự kình địch xuống dưới những
mức sẽ tự nhiên xảy ra nếu không có những yếu tố đó. Các trở ngại quan
trọng nhất là những hạn chế về pháp lý và sự khác nhau về sản phẩm.
10
+Những hạn chế về pháp lý: Trong nhiều tình huống, các chính phủ cam
- Dựa vào hình thức cạnh tranh có hai loại:
+ Cạnh tranh bằng giá cả: Là hình thức cạnh tranh mà các nhà sản xuất đưa
ra mức giá thấp hơn đối thủ nhằm tiêu thụ được hàng hoá, chiếm lĩnh thị trường.
+ Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm: Là hình hức cạnh tranh mà các
nhà sản xuất kinh doanh luôn luôn cố gắng nâng cao chất lượng hàng hoá của
mình hơn các đối thủ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng cao hơn đối thủ.
1.2. Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói
riêng, và trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát
triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế. Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích,
đặc biệt cho người tiêu dùng. Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra
sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri
thức khoa học, công nghệ trong đó cao hơn...để đáp ứng với thị hiếu của
người tiêu dùng. Cạnh tranh, làm cho người sản xuất năng động hơn, nhạy
bén hơn, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, thường xuyên cải tiến
kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào
trong sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý
sản xuất để nâng cao năng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế.
12
Ngoài mặt tích cực, cạnh tranh cũng đem lại những hệ quả không
mong muốn về mặt xã hội. Nó làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện
sở hữu của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo, có những tác động tiêu cực
khi cạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay
bất chấp pháp luật. Vì lý do trên cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng phải được
điều chỉnh bởi các định chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước.
Trong xã hội, mỗi con người, xét về tổng thể, vừa là người sản xuất
đồng thời cũng là người tiêu dùng, do vậy cạnh tranh thường mang lại nhiều
lợi ích hơn cho mọi người và cho cộng đồng, xã hội.
Cạnh tranh có thể đưa đến lợi ích cho người này và thiệt hại cho người khác, song
xét dưới góc độ toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực.
ăn hiệu quả, đồng thời có doanh nghiệp bị phá sản. Đối với xã hội, phá sản doanh
nghiệp không hoàn toàn mang ý nghĩa tiêu cực vì các nguồn lực của xã hội được
chuyển sang cho nhà kinh doanh khác tiếp tục sử dụng một cách có hiệu quả hơn.
Vì vậy, phá sản không phải là sự huỷ diệt hoàn toàn mà là sự huỷ diệt sáng tạo.
Việc duy trì các doanh nghiệp kém hiệu quả còn gây ra nhiều lãng phí cho xã hội
hơn là phá sản.
14
CHƯƠNG 2: SỰ VẬN DỤNG LÝ LUẬN CỦA CẠNH TRANH
VÀO VIỆT NAM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM VẬN
DỤNG TỐT HƠN LÝ LUẬN CẠNH TRANH VÀO NƯỚC TA
TRONG THỜI GIAN TỚI
2.1. Thực trạng của sự vận dụng lý luận cạnh tranh vào nước ta
2.1.1. Đánh giá năng lực cạnh tranh của nước ta
Việc đánh giá năng lực cạnh tranh của một quốc gia có thể được tiếp cận
trên ba cấp độ (nền kinh tế, ngành, doanh nghiệp). Dưới dây sẽ đề cập đến trên
cấp độ nền kinh tế.
Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam được đánh giá ở mức độ rất
thấp.
Hệ thống tài chính chưa năng động. Các nguồn thu vào ngân sách còn chứa
đựng những yếu tố bất ổn định, nhất là các khoản thu từ thuế xuất nhập giảm
xuống làm cho mức thâm hụt càng lớn so với nhu cầu có thể giải quyết đồng bộ
các vấn đề kinh tế xã hội, hệ thống ngân hàng thương mại với 4 trụ cột lớn vẫn
chủ yếu thực hiện chức năng là tổ chức tín dụng chứ chưa phải là nhà đầu tư. Hơn
60%tín dụng cấp cho các doanh nghiệp là ngắn hạn, tỷ trọng đầu tư vào các
doanh nghiệp của hệ thống ngân hàng hầu như là không đáng kể. Hệ thống tài
chính theo kiểu trực tuyến với các cấp của hệ thống ngân sách. Chúng ta còn
thiếu hẳn hệ thống các tổ chức tài chính trung gian năng động cho nền tài chính
quốc gia như: các công ty thuê mua, công ty nhận nợ, công ty chứng khoán...
Lượng tiền trong lưu thông còn qua lớn, nằm ngoài sự kiểm soát của hệ thống tài
chính công.