Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế quốc tế đang là đòi hỏi khách quan, ảnh hưởng mạnh
mẽ tới sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trên toàn thế giới ngày
nay. Trong xu thế đó, vấn đề nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, của
hàng hóa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng dối với sự thành công của tiến trình
hội nhập kinh tế. Riêng trong lĩnh vực thương mại quốc tề, năng lực cạnh
tranh của mỗi quốc gia về cơ bản phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp.
Chủ nghĩa xã hội muốn tồn tại và phát triển, cũng cần có một nền kinh
tế tăng trưởng và phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ
công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Cơ sở vật chất - kỹ thuật của
chủ nghĩa xã hội cần phải xây dựng trên những thành tựu mới nhất, tiên tiến
nhất của khoa học công nghệ. Trong xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa đang
phát triển mạnh mẽ, trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật và công
nghệ hiện đại phát triển rất nhanh chóng; những thuận lợi về khách quan và
chủ quan, có nhiều thời cơ và cũng có nhiều nguy cơ, vừa tạo ra vận hội mới,
vừa cản trở thách thức nền kinh tế của chúng ta, đan xen lẫn nhau tác động lẫn
nhau. Vì vậy, đất nước chúng ta phải chủ động sáng tạo nắm lấy thời cơ, phát
huy những thuận lợi đặc biệt là tăng sức cạnh tranh của chúng ta trên thị
trường trong nước và quốc tế .
Sống trong thời kỳ đổi mới của một đất nước đang trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa với xu thế hội nhập, mở cửa nền kinh tế, em
thấy mình cần phải quan tâm đến vấn đề phát triển kinh tế của đất nước
mình . Vì vậy em chọn đề tài: “Lý luận về cạnh tranh và sự vận dụng vào thực
tiễn Việt Nam” để nghiên cứu và trang bị thêm kiến thức cho mình. Với vốn
Lưu Thị Lan Anh Lớp: Bảo Hiểm xã hội 48
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kiến thức còn hạn chế bài viết của em không tránh khỏi những thiếu xót. Rất
mong được sự hướng dẫn, giúp đỡ của Thầy giáo để bài viết của em được
hoàn thiện hơn .
do trình độ công nghệ thấp, ít vốn, gặp rủi do, tai nạn hoặc rơi vào những hoàn cảnh điều
kiện không thuận lợi.
2. Quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.
2.1. Khái niệm và vai trò của cạnh tranh:
Cạnh tranh là một khái niệm rộng không những tồn tại trong lĩnh vực kinh tế mà
còn tồn tại trong lĩnh vực xã hội. Trong kinh tế thị trường, các chủ thể hành vi kinh tế vì lợi
ích riêng của bản thân mình mà tiến hành cạnh tranh với nhau. Cạnh tranh được hiểu là sự
đấu tranh giữa các chủ thể hành vi kinh tế nhằm giành lợi ích tối đa cho mình. Cạnh tranh là
yếu tố cơ bản của cơ chế thị trường. Nó là hiện tượng tự nhiên, tất yếu của kinh tế thị
trường, ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có cạnh tranh.
Cạnh tranh được phân thành cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các
ngành, cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo, cạnh tranh lành mạnh và cạnh
Lưu Thị Lan Anh Lớp: Bảo Hiểm xã hội 48
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tranh không lành mạnh. Cạnh tranh có thể diễn ra giữa những người sản xuất với nhau, giữa
người sản xuất với người tiêu dùng và giữa người tiêu dùng với nhau.
Trong cạnh tranh người ta có thể dùng nhiều biện pháp, thủ đoạn khác nhau:
- Nếu là cạnh tranh lành mạnh: tìm cách thắng đối thủ bằng cách nâng cao chất
lượng, cải tiến mẫu mã, quảng cáo thông tin để kích thích người tiêu dùng.
- Nếu là cạnh tranh không lành mạnh: dùng các thủ đoạn phi kinh tế như đầu cơ tích
trữ, bán phá giá, tác động qua bộ máy chính quyền để tiêu diệt đối thủ.
- Cạnh tranh là một quy luật của kinh tế hàng hóa mang tính phổ biến khách quan
không phụ thuộc vào ý muốn con người. Quy luật cạnh tranh quy định việc sản suất kinh
doanh phải đạt hiệu quả cao, giành được lợi ích lớn nhất bằng các biện pháp kinh tế hợp
pháp.
2.2. Yêu cầu của cạnh tranh
- Trong sản xuất, cạnh tranh đòi hỏi các nhà sản xuất phải dùng mọi biện pháp, phát
huy mọi khả năng để làm cho hàng hóa dịch vụ chiếm được thiện cảm và sự chấp nhận của
người tiêu dùng, qua đó chiếm ưu thế trên thị trường và thu được nhiêu lợi ích nhất.
- Trong trao đổi, quy luật cạnh tranh đòi hỏi người bán cũng như người mua hàng
của hàng hoá đó để thu được lợi nhuận siêu ngạch.
Kết quả của cạnh tranh nội bộ ngành là sự hình thành nên giá xã hội (giá thị trường)
của từng loại hàng hoá. điều kiện sản xuất trung bình trong một ngành thay đổ do kỹ thuật
sản xuất phát triển, năng suất lao động tăng lên, giá trị xã hội ( giá trị thị trường) của hàng
hoá giảm xuống. Chúng ta biết rằng, trong các đơn vị sản xuất khác nhau, do điều kiện sản
xuất (điều kiện kỹ thuật, tổ chức sản xuất, trình độ tay nghề công nhân…) khác nhau, cho
nên hàng hoá có giá trị cá biệt khác nhau, nhưng trên thị trường các hàng hoá phải bán theo
giá trị xã hội - giá thị trường.
Theo C.Mác, “một mặt phải coi giá trị thị trường là giá trị trung bình của những
hàng hoá được sản xuất ra trong một khu vực sản xuất nào đó. Mặt khác, lại phải coi giá trị
thị trường là giá trị cá biệt của những hàng hoá được sản xuất ra trong những điều kiện trung
bình của khu vực đó và chiếm một khối lượng lớn trong tổng số những sản phẩm của khu
vực này”.
2. Cạnh tranh giữa các ngành và sự hình thành lợi nhuận bình quân:
Cạnh tranh giữa các ngành là sự cạnh tranh trong các ngành sản xuát khác nhau,
nhằm mục đích tìm nơi đầu tư có lợi hơn.
Biện pháp cạnh tranh: Tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác nghĩa
là tự phát phân phối tư bản vào các ngành sản xuất khác nhau.
Kết quả các cuộc cạnh tranh này là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân, và giá trị
hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất.
Chúng ta đều biết, ở các ngành sản xuất có những điều kiện tự nhiên, kinh tế kỹ
thuật và tổ chức quản lý khác nhau nên tỷ suất lợi nhuận khác nhau.
Ví dụ:
Ngành
sản xuất
Chi phí sản
xuất
m’ (%)
Khối lượng (m)
p’ (%)
tranh của các nhà tư bản.
Sự thèm khát lợi nhuận của các nhà tư bản không có giới hạn. Mức tỷ suất lợi
nhuận cao bao nhiêu cũng không thỏa mãn được lòng tham vô đáy của chúng. Vì vậy trên
thực tế để nâng cao tỷ suất lợi nhuận, các nhà tư bản đã tìm mọi cách để tiết kiệm tư bản bất
biến, như sử dụng máy móc, thiết bị nhà xưởng, nhà kho, phương tiện vận tải với hiệu quả
cao nhất; kéo dài ngày lao động, tăng cường độ lao động, thay thế nguyên liệu đắt tiền bằng
những nguyên liệu rẻ tiền, giảm những chi tiêu bảo hiẻm lao động, bảo vệ môi trường, giảm
tiêu hao vật tư năng lượng và tận dụng phế thải để sản hàng hóa. Trong cùng một lượng tư
bản như nhau đầu tư vào các ngành sản xuất khác nhau, tỷ suất lợi nhuận thu được khác
nhau. Vì vậy, các nhà tư bản ra sức cạnh trạnh kịch liệt với nhau và dẫn tới việc hình thành
tỷ suất lợi nhuận bình quân.
III. CẠNH TRANH ĐỘC QUYỀN:
Trong chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, cơ chế điều tiết nền sản
xuất xã hội có những thay đổi lớn. Sự kết hợp hữu cơ giữa các quan hệ thị
trường với sự tác động tập trung của nhà nước tạo ra một hệ thống thống nhất
điều tiết độc quyền nhà nước. Cơ chế độc quyền tự do cạnh tranh và cơ chế
độc quyền tư nhân đều có nhũng mặt tích cực và tiêu cực. Khi trình độ xã hội
hóa của lực lượng sản xuất đã vượt khỏi giới hạn điều tiết của cơ chế thị
trường và độc quyền tư nhân thì tất yếu đòi hỏi phải được sự bổ sung bằng sự
điều tiết của nhà nước. Mặt khác, sự điều tiết của nhà nước cũng có mặt tích
cực và hạn chế, đôi khi những sai lầm trong sự điều tiết kinh tế của nhà nước
mang lại hậu quả tai hại hơn cả tác động tiêu cực của cạnh tranh tự do và độc
quyền tư nhân. Vì thế, cơ chế điều tiết kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền
nhà nước là sự dung hợp cả ba cơ chế; thị trường,độc quyền tư nhân và điều
tiết của nhà nước nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của
từng cơ chế. Hay nói cách khác, đó là cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà
Lưu Thị Lan Anh Lớp: Bảo Hiểm xã hội 48