Bảo vệ các quyền của người bị buộc tội (người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam, bị can, bị cáo) trong luật tố tụng hình sự việt nam - Pdf 58

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ TIẾN QUÂN

B¶O VÖ C¸C QUYÒN CñA NG¦êI BÞ BUéC TéI
(NG¦êI BÞ B¾T, NG¦êI BÞ T¹M GI÷, NG¦êI BÞ T¹M GIAM,
BÞ CAN, BÞ C¸O) TRONG LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2019


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ TIẾN QUÂN

B¶O VÖ C¸C QUYÒN CñA NG¦êI BÞ BUéC TéI
(NG¦êI BÞ B¾T, NG¦êI BÞ T¹M GI÷, NG¦êI BÞ T¹M GIAM,
BÞ CAN, BÞ C¸O) TRONG LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TSKH. ĐÀO TRÍ ÚC

HÀ NỘI - 2019


tụng hình sự ...................................................................................... 9

1.1.1.

Khái niệm người bị buộc tội trong tố tụng hình sự ........................... 9

1.1.2.

Khái niệm quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự ........ 14

1.1.3.

Khái niệm bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong luật tố
tụng hình sự ..................................................................................... 14

1.2.

Cơ sở của việc quy định quyền của người bị buộc tội trong
tố tụng hình sự ............................................................................... 17

1.3.

Ý nghĩa của việc bảo vệ các quyền của người bị buộc tội
trong tố tụng hình sự ..................................................................... 23

1.4.

Bảo vệ các quyền của người bị buộc tội trong pháp luật tố
tụng hình sự quốc tế ...................................................................... 25



2.2.2.

Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về bảo vệ các
quyền của người bị buộc tội thông qua một số nguyên tắc tố tụng ...... 57

2.2.3.

Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về bảo vệ các
quyền của người bị buộc tội thông qua quy định về quyền và
nghĩa vụ của người bào chữa ........................................................... 62

2.2.4.

Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về bảo vệ các
quyền của người bị buộc tội thông qua quy định về nghĩa vụ
của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng..................................... 64

2.2.5.

Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về bảo vệ các
quyền của người bị buộc tội thông qua quy định về khiếu nại,
tố cáo trong tố tụng hình sự ............................................................. 67

2.2.6.

Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về bảo vệ các
quyền của người bị buộc tội thông qua quy định về trách
nhiệm bồi thường, trách nhiệm khác ............................................... 68


3.2.2.

Hoàn thiện các quy định của bộ luật tố tụng hình sự về bảo vệ
các quyền của người bị buộc tội ...................................................... 94

3.2.3.

Nâng cao nhận thức, trình độ và trách nhiệm của người trực
tiếp tham gia tiến hành tố tụng ........................................................ 98

3.2.4.

Tăng cường hướng dẫn áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự .............. 102

KẾT LUẬN .................................................................................................. 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 107


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS:

Bộ luật hình sự

BLTTHS:

Bộ luật tố tụng hình sự

CQĐT:



VAHS:

Vụ án hình sự

VKS:

Viện kiểm sát

VKSND:

Viện kiểm sát nhân dân

XHCN:

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng

Trang

Bảng 3.1

Tình hình bắt tạm giữ


được kết quả nhất định, có những tiến bộ đáng khích lệ. Song do nhiều
nguyên nhân nên vẫn còn những hạn chế như Nghị quyết 49 đã thẳng thắn
thừa nhận: "... Công tác tư pháp còn bộc lộ nhiều hạn chế. Chính sách hình sự
… và pháp luật về tố tụng tư pháp còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ
sung. Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của các cơ

1


quan tư pháp còn bất hợp lý. Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn
thiếu; trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn
yếu, thậm chí có một số cán bộ sa sút về phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm
nghề nghiệp. Vẫn còn tình trạng oan, sai trong điều tra, bắt, giam giữ, truy
tố, xét xử". Những vụ án oan điển hình đã được phát hiện trong thời gian vừa
qua như vụ ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang hay vụ “người tù thế kỷ”
Huỳnh Văn Nén, nghi án Hàn Đức Long ở Bắc Giang bị tuyên án tử hình
oan…. là những vụ án xâm phạm đặc biệt nghiêm trọng đến quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân... đã làm cho dư luận hết sức bất bình, đặt dấu hỏi vào
chất lượng của hoạt động tố tụng nói riêng, cũng như vào tính công bằng
nghiêm minh của hệ thống pháp luật và đường lối chính sách lãnh đạo của
Đảng nói chung. Các thế lực thù địch tận dụng mọi cơ hội để khai thác thiếu
sót của ta trong những vụ việc này và các vụ tương tự để xuyên tạc, vu cáo ta
vi phạm nhân quyền, gây nên làn sóng bất bình với Việt Nam và tạo sự hiểu
lầm của cộng đồng quốc tế - đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đã thừa nhận
và tham gia hầu hết các công ước quốc tế quan trọng về nhân quyền (Tuyên
ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 (UHDR), Công ước quốc tế về các quyền
dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR) – Việt Nam gia nhập năm 1982, Công
ước chống tra tấn, đối xử vô nhân đạo và hạ nhục con người năm 1984 – Việt
Nam gia nhập năm 2015).
Những vụ việc đáng tiếc như trên có các nguyên nhân chủ quan, khách

người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2009 của TS. Trần Quang Tiệp.
Bên cạnh đó, có rất nhiều khía cạnh có liên quan đến quyền của người
bị buộc tội được đề cập đến trong các công trình khoa học khác như: Đề tài
nghiên cứu khoa học Cấp ĐHQG Luật tố tụng hình sự Việt Nam với việc bảo
vệ quyền con người, chủ trì PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí, 2011; Luận văn thạc
sĩ luật học Địa vị pháp lý của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng

3


hình sự của Th.S Đoàn Thị Phương Thảo, 2012; Luận văn Th.S Bảo vệ quyền
con người của bị can bị cáo trong Tố tụng hình sự của Th.S. Phan Thị Hương
Giang, 2014; Luận văn thạc sĩ luật học Quyền và nghĩa vụ pháp lý của người
bị buộc tội trong luật tố tụng hình sự của Th.S. Đinh Hải Ninh, 2017;
Vấn đề quyền của người bị buộc tội còn được đề cập ở các mức độ
khác nhau trong các bài viết của một số tác giả khác như:
Hiến pháp năm 2013 và nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm quyền con
người trong tố tụng hình sự của GS.TSKH Đào Trí Úc, Tạp chí khoa học
pháp lý Đại học Luật TP. HCM số 3/2015; Trực tiếp ghi nhận quyền im lặng
cho người bị buộc tội trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của tác giả Lê
Huỳnh Tấn Duy, Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 3/2015; Bảo đảm quyền con
người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện
Kiểm sát của tác giả Nguyễn Hữu Hậu, Tạp chí Kiểm sát, số 12/2015; v...v…
Tiếp đến, chế định quyền của người bị buộc tội còn được đề cập,
phân tích trong một số Giáo trình và sách tham khảo như: Giáo trình Luật
tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, 2019 do PGS.TS.
Nguyễn Ngọc Chí chủ biên; Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb
Công an nhân dân, 2010 của Trường Đại học Luật Hà Nội do PSG.TS
Hoàng Thị Minh Sơn chủ biên; Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam,

bị buộc tội theo luật tố tụng hình sự Việt Nam.
b. Nêu và phân tích thực trạng việc thực hiện các quy định của pháp
luật về bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong TTHS cũng như nguyên
nhân của những tồn tại, bất cập đã bộc lộ.
c. Đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm đảm bảo quyền của người bị
buộc tội trong tố tụng hình sự; hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự; nâng cao
hiệu quả hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
3.3. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu vấn đề lý luận việc bảo vệ các quyền của người bị
buộc tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam. Người bị buộc tội theo tên đề tài

5


luận văn là người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam, bị can, bị cáo.
Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, người bị tạm giam mặc
nhiên sẽ có tư cách là bị can hoặc bị cáo. Do có sự trùng lặp như vậy nên để
thuận tiện trong nghiên cứu, nội dung luận văn sẽ đề cập người bị buộc tội như
Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã liệt kê tại khoản 1 Điều 4, gồm “người bị bắt,
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”.
Đồng thời, luận văn cũng phân tích, đánh giá các quy định của pháp
luật hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS để đưa ra những kiến
nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ các quyền của người bị buộc
tội trong các giai đoạn tố tụng hình sự (từ điều tra đến xét xử) trong các vụ án
hình sự ở Việt Nam.
3.4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu thực tiễn pháp luật và áp dụng pháp luật về bảo
vệ các quyền của người bị buộc tội trong khoảng thời gian 2014 – 2018.
Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong giai
đoạn từ năm 1945 – 1988, giai đoạn pháp luật tố tụng hình sự năm 1988 –

- Đưa ra được các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật,
nâng cao chất lượng áp dụng các quy định của BLTTHS, góp phần bảo vệ
quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học cấp độ thạc sĩ về quyền
của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự. Luận văn đi sâu nghiên cứu các
vấn đề lý luận về quyền của người bị buộc tội; phân tích thực trạng, chỉ ra khó
khăn và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả của việc bảo vệ quyền của
người bị buộc tội.
Luận văn đã đóng góp một phần vào việc giải quyết về mặt khoa học
các khái niệm về người bị buộc tội, quyền của người bị buộc tội. Đồng thời,
luận văn là một tài liệu có giá trị tham khảo cho những người làm công tác
nghiên cứu, trong hoạt động lập pháp cũng như thực tiễn điều tra, truy tố, xét
xử vụ án hình sự.

7


7. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của Luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về bảo vệ quyền của người bị buộc tội
trong tố tụng hình sự.
Chương 2: Bảo vệ các quyền của người bị buộc tội trong luật Tố tụng
hình sự Việt Nam.
Chương 3: Thực tiễn thi hành pháp luật TTHS Việt Nam và những kiến
nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền của người bị buộc tội.

8




Tuy nhiên, quy định này vẫn mang tính liệt kê các chủ thể bị buộc tội
được xác lập địa vị pháp lý theo từng giai đoạn tố tụng khác nhau.
Trong Công ước Châu Âu về quyền con người trong việc bảo đảm
quyền của người bị buộc tội các nước thành viên của Công ước xuất phát từ
việc giải thích khái niệm về “Sự buộc tội” (accusation, criminal charge). Theo
đó, sự buộc tội chỉ xuất hiện khi một người bị cáo buộc là anh ta đã thực hiện
một hành vi mà bộ luật hình sự coi là tội phạm. Tuy nhiên, trong nhiều vụ
việc được quyết định bởi Ủy ban Châu Âu và Tòa án nhân quyền Châu Âu
cho thấy ngay cả trong trường hợp khi cảnh sát đã tiến hành điều tra ban đầu,
thậm chí đã triệu tập người làm chứng thì điều này cũng chưa có nghĩa tồn tại
sự buộc tội.
Qua thực tế xét xử của các thẩm phán Châu Âu, sự buộc tội được coi là
hiện hữu từ thời điểm một người được thông báo chính thức bởi cơ quan có
thẩm quyền về những chứng cứ rõ ràng cho rằng (nghi vấn) anh ta đã thực
hiện hành vi phạm tội (ví dụ: lệnh bắt, lệnh khám xét nhà…). Sự thông báo
này, đôi khi có giá trị ngay cả khi người có liên quan không hiểu hoặc thông
báo không đến được với họ. Và kể từ thời điểm đó, một người bị coi là người
bị buộc tội (accused person) trong vụ án hình sự. Sự buộc tội sẽ tồn tại và kéo
dài trong suốt quá trình tố tụng chứng minh hành vi của người bị cáo buộc là
có tội hay không có tội (guilty or not guilty). Và đương nhiên những quyền và
lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội sẽ được bảo vệ bởi nội dung của Điều
6, bên cạnh pháp luật quốc gia.
Theo chúng tôi, khi đưa ra khái niệm về một chủ thể có địa vị pháp lý,
khái niệm đó cần phải thể hiện được phần nào nội dung về các thành tố tạo
nên chủ thể đó. Người bị buộc tội có đầy đủ các yếu tố tạo nên một khái niệm,
do đó không thể chỉ thể hiện dưới hình thức liệt kê họ là các chủ thế tham gia
tố tụng theo luật định. Người bị buộc tội bị tình nghi thực hiện hành vi có dấu


- Bị cáo: là người đã bị tòa án quyết định đưa ra xét xử.

11


Dựa trên việc tìm hiểu người bị buộc tội trong TTHS nêu trên có thể
đưa ra những đặc điểm của người bị buộc tội như sau:
Thứ nhất, người bị buộc tội là người được coi là thực hiện hành vi có
dấu hiệu tội phạm được BLHS quy định.
Đặc điểm thứ nhất này chỉ ra yếu tố là phạm tội của người bị buộc
tội. Nếu một cá nhân không thực hiện hành vi nào mà có căn cứ cho rằng
hành vi đó có dấu hiệu phạm tội cụ thể trong BLHS thì cơ quan điều tra,
người có thẩm quyền không thể buộc tội họ. Chỉ khi nào những hành vi bị
nghi ngờ có dấu hiệu cấu thành tội phạm và người bị tình nghi đủ tuổi chịu
TNHS quy định cho từng tội danh cụ thể trong BLHS, thì người đó mới là
chủ thể bị buộc tội theo PL TTHS. Mặt khác, các hành vi bị nghi ngờ này
phải được người có thẩm quyền chứng minh, làm rõ theo trình tự thủ tục
TTHS thì mới đủ điều kiện để đưa người này vào đối tượng bị buộc tội.
Việc thiếu một trong hai yếu tố này đều không có cơ sở đưa một người vào
tình thế người bị buộc tội.
Điều 31 Hiến pháp 2013 qui định: “Người bị buộc tội được coi là
không có tội cho đến khi được chứng mình theo trình tự luật định và có bản
án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Ở đây, cần phần biệt rằng
người bị buộc tội không phải là người có tội. Họ được xem là có tội khi có
bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Thứ hai, người bị buộc tội bị các quyết định của cơ quan, người có
thẩm quyền xác định là chủ thể của quan hệ pháp luật TTHS.
Tùy từng chủ thể khác nhau, người bị buộc tội trong tố tụng sở dĩ có
thể xác định được phải dựa trên các quyết định mang tính tố tụng của cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền theo luật định. Chẳng

trong tiến trình TTHS qua các giai đoạn như bị bắt, giữ, khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử. Người bị buộc tội tham gia vào tiến trình TTHS này có quyền được
gỡ tội cũng như được đảm bảo các quyền con người cơ bản của họ trong hoàn
cảnh đặc thù mà họ phải trải qua [29, tr.10].
13


1.1.2. Khái niệm quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự
Như đã trình bày ở trên, người bị buộc tội là những người bị tình nghi
phạm tội hoặc bị truy cứu TNHS, do đó họ gặp phải các bất lợi vì bị hạn chế
hoặc bị mất một số quyền công dân. Thế nhưng, những người bị buộc tội chưa
phải là người có tội, họ có tội hay không phải do Tòa án quyết định và chỉ khi
có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì người đó được xem là
có tội. Người bị buộc tội chưa bị coi là có tội, vì vậy họ vẫn được cơ quan
THTT, người THTT đảm bảo và bảo vệ các quyền con người, quyền công
dân. Khi bị buộc tội thì những người bị buộc tội cũng có những quyền được
pháp luật bảo vệ, được phép thực hiện. Vì là trong thời gian bị buộc tội nên họ
là những người TGTT, chịu sự điều chỉnh của pháp luật TTHS trong các quan
hệ pháp luật giữa họ với cơ quan, người THTT và người TGTT khác.
Do vậy, có thể hiểu quyền của người bị buộc tội như sau: Quyền của
người bị buộc tội là những điều mà pháp luật TTHS quy định và đảm bảo
thực hiện đối với những người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà
theo đó họ được hưởng, được làm, được hỏi khi tham gia vào các hoạt
động TTHS.
1.1.3. Khái niệm bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong luật tố
tụng hình sự
Tố tụng hình sự là cách thức, trình tự tiến hành các hoạt động của các cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng,
người tham gia tố tụng, của các cơ quan Nhà nước khác và các tổ chức xã hội
để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Hay nói cách

pháp lý để tiến hành các biện pháp điều tra theo luật tố tụng hình sự. Còn căn
cứ khởi tố bị can phải là “có đầy đủ dấu hiệu của cấu thành tội phạm”. Bởi vì,
khi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố bị can là đã
thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người cụ thể; quyết
định đó ảnh hưởng rất lớn đến quyền, lợi ích của người bị khởi tố;

15


- Thứ ba, tố tụng hình sự là hoạt động phát hiện và xử lý hành vi nguy
hiểm cao cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm nhằm bảo vệ trật tự pháp
luật, lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Vì vậy, hoạt
động tố tụng gắn liền chặt chẽ với quyền của người bị buộc tội. Để đạt được
mục đích phát hiện, điều tra, xử lý chính xác, khách quan tội phạm và người
phạm tội, Nhà nước bất đắc dĩ phải ban hành một số quy định hạn chế quyền
con người của công dân nói chung, người tham gia tố tụng nói riêng. Quyền
của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự gắn rất chặt chẽ với các biện pháp
cưỡng chế được quy định và áp dụng trong tố tụng hình sự.
Vì vậy, trong tố tụng hình sự, nhiệm vụ không để lọt tội phạm phải đi
liền với không làm oan người không có tội; nhiệm vụ phát hiện xử lý tội
phạm phải đi liền với việc bảo vệ các quyền của người bị buộc tội. Hoạt
động tố tụng hình sự phải được thực hiện trên cơ sở coi trọng các yếu tố đó;
bỏ qua hoặc coi nhẹ yếu tố này hay yếu tố khác nói trên đều ảnh hưởng
nghiêm trọng đến việc đạt được mục đích tố tụng. Nếu muốn chứng minh tội
phạm, xử lý tội phạm bằng bất cứ giá nào thì dễ dẫn đến vi phạm quyền của
người bị buộc tội; ngược lại nếu quá chú ý đến việc bảo vệ quyền của người
bị buộc tội thái quá mà không mạnh dạn áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố
tụng để phát hiện, chứng minh tội phạm thì sẽ làm cho hoạt động tố tụng
thiếu hiệu quả, không thể phát hiện, xử lý kịp thời người phạm tội, thậm chí
bỏ lọt tội phạm v.v…

1.2. Cơ sở của việc quy định quyền của người bị buộc tội trong tố
tụng hình sự
Quyền con người là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều định nghĩa
khác nhau. Có thể là một giá trị nhân loại, đồng thời có tính lịch sử hình thành
trong cuộc đấu tranh giai cấp và được bổ sung mới qua các thời đại khác
nhau. Quyền con người được đặt trong mối quan hệ với nghĩa vụ, trách nhiệm
của mỗi cá nhân đối với xã hội và được giải quyết trên cơ sở đảm bảo lợi ích

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status