ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT THỊNH QUANG THẮNG NGƯỜI BỊ HẠI
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Ngọc Chí
HÀ NỘI – 2010 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Người tham gia tố tụng là người có quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định
của BLTTHS, họ tham gia tố tụng nhằm xác định sự thật của vụ án, đồng thời
nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của họ liên quan đến hành vi phạm tội.
BLTTHS hiện hành có quy định về người tham gia tố tụng thành một
chương riêng như: Quy định về bị can, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bào chữa, người
giám định, người làm chứng… BLTTHS năm 2003 đã quy định chi tiết, cụ thể
hơn BLTTHS năm 1988. Trong những người tham gia tố tụng thì có người tham
gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình như: Bị can, bị cáo,
người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án. Có người tham gia tố tụng để giúp đỡ những người có
quyền và lợi ích hợp pháp và có người tham gia tố tụng chỉ nhằm giúp CQTHTT
để xác định sự thật của vụ án như: người giám định, người phiên dịch, người làm
chứng.
Hiện nay trong khoa học pháp lý và thực tiễn tố tụng có nhiều cách hiểu
khác, xác định khác nhau và không đầy đủ về những người bị hại trong TTHS
chẳng hạn như: trong BLTTHS quy định người bị hại chết thì người đại diện hợp
pháp của họ có quyền như người bị hại. Tuy nhiên BLTTHS chưa quy định
trường hợp người bị hại bị mất tích, người bị hại là người chưa thành niên, là
3
3. Mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
của luận văn
- Mục đích, yêu cầu: Làm rõ một cách cơ bản và toàn diện những vấn đề
lý luận và thực tiễn về người bị hại trong TTHS.
Phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật TTHS nước ta về
người bị hại có so sánh với quy định của luật TTHS một số nước trên thế giới về
vấn đề này, đánh giá thực tiễn hoạt động của các cơ quan THTT hình sự ở Việt
Nam liên quan đến người bị hại, tìm ra những điểm còn tồn tại, bất cập từ đó
bước đầu đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện về mặt lập pháp có liên
quan đến người bị hại và nâng cao hiệu quả áp dụng nó trong thực tiễn, từ đóng
góp phần nâng cao chất lượng giải quyết vụ án hình sự.
- Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, trong quá trình nghiên cứu luận
văn cần giải quyết những vấn đề sau:
Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về người bị hại trong
TTHS;
Nghiên cứu và so sánh những quy định của luật TTHS Việt Nam và
luật TTHS của một số nước trên thế giới về người bị hại;
Đánh giá thực tiễn hoạt động của các CQTHTT hình sự ở Việt
Nam liên quan đến người bị hại;
Đưa ra những giải pháp hoàn thiện quy định của luật TTHS Việt
Nam về người bị hại và giải pháp nâng cao hiệu quả thực tiễn áp
dụng những quy định đó của các CQTHTT hình sự ở Việt Nam.
- Đối tượng: Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về người
bị hại trong TTHS. Nghiên cứu, so sánh những quy định của luật TTHS Việt
4
Nam và luật TTHS một số nước trên thế giới về người bị hại. Đánh giá thực
trạng hoạt động và những vướng mắc của các cơ quan THTT hình sự ở Việt
Nam liên quan đến người bị hại.
bị hại. Những thiếu sót, hạn chế trong hoạt động của các cơ quan THTT hình sự
Việt Nam liên quan đến người bị hại, tìm ra những nguyên nhân của những
thiếu sót, hạn chế đó. Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện những quy định của
luật TTHS Việt Nam về người bị hại và nâng cao hiệu quả áp dụng những quy
định của luật TTHS về người bị hại.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn.
- Về mặt lý luận: Nội dung và kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể
được khai thác sử dụng trong công tác nghiên cứu lý luận của các CQTHTT
hình sự và có thể làm tài liệu tham khảo trong xây dựng, sửa đổi BLTTHS và
một số văn bản pháp luật khác có liên quan đến người bị hại để hoàn thiện hơn.
- Về mặt thực tiễn: Các CQTHTT có thể khai thác vận dụng những kết
quả nghiên cứu của Luận văn để nâng cao chất lượng, hiệu quả tham gia TTHS
của người bị hại trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
7. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,
Luận văn gồm 3 chương với 8 mục.
6
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI BỊ HẠI
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm về người bị hại.
Pháp luật TTHS của các nước không có sự thống nhất trong việc sử dụng
thuật ngữ người bị hại. Chẳng hạn luật TTHS của Cộng hoà Pháp, Liên bang
Nga hay Việt Nam dùng thuật ngữ “người bị hại”, trong khi đó luật TTHS Cộng
hoà nhân dân Trung Hoa thì dùng thuật ngữ “người tố cáo”. Ngoài ra người bị
hại còn được gọi là “người bị thiệt hại” , hay gọi là “nạn nhân”, hay “dân sự
nguyên cáo”. Việc sử dụng thuật ngữ như thế nào phải thể hiện được bản chất,
nội dung, các điều kiện và sự chặt chẽ của thuật ngữ, theo quan điểm của chúng
tôi cho rằng trong mối quan hệ mà luật TTHS Việt Nam điều chỉnh thì dùng
bị thiệt hại về tài sản và uy tín do tội phạm gây ra.
Theo quan điểm của chúng tôi là ngoài cá nhân là người bị hại, trong
trường hợp tổ chức, pháp nhân bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại thì phải xem tổ
chức hoặc pháp nhân đó là người bị hại. Cần quan niệm khái niệm người bị hại
theo nghĩa rộng của từ này. Những người theo quan điểm này cho rằng trong
thực tế hành vi phạm tội không chỉ gây thiệt hại cho cá nhân mà hành vi phạm
tội trong thực tế còn nhằm đến để gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức. Thiệt hại do
hành vi phạm tội gây ra cho cơ quan, tổ chức là rất đa dạng, không thuần tuý là
8
thiệt hại về tài sản. Trong thực tế, tổ chức, pháp nhân có thể bị thiệt hại về vật
chất và tinh thần, chẳng hạn như một doanh nghiệp bị giả mạo về thương hiệu, bị
vu không làm mất uy tín trong kinh doanh
Do đó, ý kiến cho rằng người bị hại chỉ có thể là cá nhân, vậy tổ chức,
pháp nhân bị tội phạm trực tiếp xâm hại, pháp nhân, tổ chức đó sẽ tham gia tố
tụng với tư cách gì? Theo quy định của BLTTHS Việt Nam thì trong trường hợp
này cơ quan hay tổ chức bị tội phạm xâm hại thì tham gia tố tụng bởi tư cách là
nguyên đơn dân sự khi có đơn yêu cầu. Theo tôi quy định này chưa được hợp lý,
bởi lẽ:
Thứ nhất: Đối với các tổ chức, pháp nhân mà tài sản thuộc về sở hữu nhà
nước khi bị tội phạm gây thiệt hại tổ chức, pháp nhân đó không có đơn yêu cầu
thì họ sẽ tham gia tố tụng với tư cách gì? Tài sản của nhà nước liệu được đảm
bảo? Vậy khi tham gia tố tụng Toà án có đưa họ vào tham gia tố tụng không và
với tư cách gì?
Thứ hai: Đối với các doanh nghiệp mà tài sản thuộc sở hữu cá nhân, của
một nhóm người cùng góp vốn vào kinh doanh trong quá trình hoạt động lại bị
kẻ phạm tội gây thiệt hại, vậy để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình
chủ sở hữu tài sản đó chỉ tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự, liệu
có hợp lý? Liệu có đảm bảo sự bình đẳng trong khi về thực chất tài sản đó đều
của cá nhân.
10
nhân quả với hành vi phạm tội. Điều cơ bản khi xác định thiệt hại của người bị
hại là sự thiệt hại do một tội phạm được luật hình sự quy định, xâm hại đến
quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của người bị thiệt hại, các quyền được
pháp luật bảo vệ. Đồng thời sự thiệt hại mà người bị hại phải gánh chịu không
phải có nguồn gốc từ hành vi không phù hợp pháp luật của người bị thiệt hại.
Điều này cũng đồng nghĩa với việc không chấp nhận quan điểm cho rằng thiệt
hại do tội phạm gây ra cũng là thiệt hại gián tiếp, thiệt hại đó có thể không có
mối liên hệ nhân quả với hành vi phạm tội.
Đối với thiệt hại về tinh thần thì thường thiệt hại đó không cụ thể, không
có thể định lượng được. Vì vậy, không chỉ trong trường hợp phạm tội đã hoàn
thành, mà cả trong trường hợp phạm tội chưa đạt, khi chưa gây thiệt hại gì do
những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của kẻ phạm tội, người có nguy
cơ bị xâm hại cũng được gọi là người bị hại, người bị hại được coi là bất kỳ
người nào mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ là khách thể của tội phạm cho dù
tội phạm đó chưa hoàn thành do những nguyên nhân ngoài ý muốn của họ.
Người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra nhưng
phải được CQTHTT xác định là người bị hại thì người đó mới được coi là người
bị hại. Còn nếu người bị hại thiệt hại trực tiếp không được CQTHTT xác định là
người bị hại thì người đó chỉ là nguyên đơn dân sự, người có quyền, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án. Từ việc được xác định là người bị hại thì họ có quyền và
nghĩa vụ tố tụng như họ có đưa ra yêu cầu, cung cấp các tài liệu chứng cứ để
giúp CQTHTT xác định sự thật của vụ án để xác định đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật hay họ có quyền thuê luật sư để tham gia tố tụng bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình, hay được kháng cáo bản án của Toà án nếu họ không
11
nhất trí với một phần hay bản án về các vấn đề như dân sự, hình phạt đố với bị
cáo
khi tham gia vào quan hệ TTHS mới được xem là người bị hại. Còn nếu nạn
không tham gia vào TTHS hay không được cộng nhận thì họ không phải là
người bị hại trong TTHS.
1.2.2 Phân biệt khái niệm người bị hại với khái niệm đối tượng tác
động của tội phạm.
Đối tượng tác động của tội phạm là một bộ phận khách thể của tội phạm bị
hành vi phạm tác động đến, gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại. Đối tượng tác
động của tội phạm không chỉ là con người mà còn bao gồm các đối tượng vật
chất khác và các hoạt động bình thường của chủ thể. Trong khi người bị hại là
người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản do hành vi phạm tội gây ra,
họ chính là một trong số các đối tượng tác động của tội phạm. Nhưng không phải
vụ án nào cũng có đối tượng tác động là con người, là tài sản. Mà đối tượng tác
động có thể là hoạt động bình thường của chủ thể, là trật tự nơi công cộng, trật tự
quản lý hành chính. Như vậy có thể khẳng định khái niệm người bị hại, đối
tượng tác động của tội phạm mặc dù có những điểm tương đồng, chồng lấn…
nhưng về bản chất, đặc trưng của chúng là hoàn toàn khác nhau. Khái niệm đối
tượng tác động của tội phạm rộng hơn khái niệm về người bị hại.
13
1.2.3. Phân biệt khái niệm người bị hại với khái niệm người có quyền,
nghĩa vụ liên quan.
Từ khái niệm phân tích ở trên, người bị hại là người bị thiệt hại về thể
chất, tinh thần tài sản do tội phạm gây ra. Song xét về hình thức, người bị thiệt
hại về thể chất, tinh thần tài sản do tội phạm gây ra chỉ trở thành người bị hại
trong TTHS khi họ được cơ quan có thẩm quyền công nhận và thông qua việc
triệu tập họ đến khai báo với tư cách là người bị hại. Trong trường hợp hành vi
phạm tội không bị phát hiện xử lý hoặc không xác định được người bị thiệt hại
mặc dù trên thực tế có người thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do hành vi
phạm tội gây ra thì người đó cũng không trở thành người bị hại trong vụ án hình sự.
Đối với tội xâm phạm tình mạng sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con
tội phạm thì không có người bị hại, mặc dù có thiệt hại, nhưng thiệt hại của trách
nhiệm dân sự. Nên “người bị hại” của trách nhiệm dân sự chứ không phải “người
bị hại” của trách trách nhiệm hình sự. Do vậy, trong trường hợp này họ chỉ là
những người tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án.
+ Quan điểm thứ hai cho rằng: Hành vi của người phạm tội đã gây ra thiệt
hại cho người khác nhưng chưa đến mức cấu thành một tội độc lập, riêng biệt
khác (như cố ý gây thương tích, hủy hoại tài sản…) vì đã có thiệt hại xảy ra nên
người bị hại về thể chất, tài sản vẫn được xác định là người bị hại.
15
Những người bảo vệ quan điểm này cho rằng: vận dụng lý luận về người
bị hại tại khoản 1 Điều 51 BLTTHS quy định “người bị hại là người bị thiệt hại
về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra”. Mặc dù hành vi gây
thiệt hại đó không cấu thành một tội riêng biệt, độc lập với tội danh mà người
phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng rõ ràng hành vi của người bị truy
tố về một tội phạm khác cũng đã gây thiệt hại về thể chất, về tinh thần về tài sản
cho người bị thiệt hại. Nếu không xác định họ là người bị hại mà chỉ coi họ là
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì sẽ dẫn tới không công bằng trong xử
lý, bởi họ không có quyền kháng cáo về hình phạt đối với người đã gây ra các
thiệt hại cho họ.
Không phải bất cứ người nào bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản
cũng trở thành người bị hại. Họ có thể là người có quyền lợi. nghĩa vụ liên quan
đến vụ án. Khi những thiệt hại mà người phạm tội gây ra cho họ không phải là
kết quả trực tiếp của hành bi phạm tội đó.
Ví dụ: trong vụ án “Gây rối trật tự công cộng” người phạm tội ngoài việc
xâm hại khách thề là an toàn nơi công cộng đã gây thiệt hại tới sức khỏe, tài sản
của một công dân. Nhưng những thiệt hại này chưa đủ yếu tố cấu thành một tội
độc lập, riêng biệt. Do vậy, người bị thiệt hại chỉ được coi là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án”.
17
* Tóm lại: trong những trường hợp cụ thể để xác định người bị hại và
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đối với những tội danh mà
ngay tên tội đã thể hiện đối tượng tác động (là tính mạng, sức khỏe, danh dự, tài
sản…) thì người bị thiệt hại được xác định là người bị hại.
Còn đối với những tội danh khác, để tránh sự nhầm lẫn trong việc xác định
tư cách của người bị hại với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
thường căn cứ vào mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại với hành vi mà người
phạm tội đã thực hiện.
- Nếu thiệt hại là kết quả trực tiếp của hành vi phạm tội, phù hợp với mục
đích của người phạm tội thì người bị thiệt hại được xác định là người bị hại.
- Nếu thiệt hại không phải là kết quả trực tiếp của hành vi phạm tội, không
có mối liên hệ mật thiết với hành vi phạm tội, không phù hợp với mục đíchcủa
người phạm tội thì người bị thiệt hại được xác định là người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan trong vụ án.
Có thể khái quát bằng sơ đồ sau:
Người bị thiệt hại
được xác định là Người bị thiệt hại
được xác định là
Hậu
quả
- Có mối quan hệ
Trước khi có sự sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2003 thì nguyên đơn dân
sự được xác định là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về vật chất và có đơn
yêu cầu. Nhưng thực tế cá nhân, cơ quan, tổ chức không chỉ bị thiệt hại về vật
chất mà cá nhân có thể bị thiệt hại về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. Cơ quan, tổ
chức cũng có thể bị thiệt hại về uy tín do tội phạm gây nên. Như vậy, nguyên
đơn dân sự bao gồm: cá nhân, cơ quan, tổ chức; còn người bị hại chỉ là những
con người cụ thể.
Một tiêu chí khác để phân biệt hai chủ thể này là hành vi đưa đơn yêu cầu
bồi thường thiệt hại. Người bị hại đương nhiên được tham gia tố tụng vì hậu quả
đối với họ trong một số trường hợp được coi là một trong những yếu tố cấu
thành tội phạm, trong trường hợp khác lại được coi là tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hậu quả này chính là đối tượng cần chứng
minh trong vụ án. Hơn nữa họ có thể là người chứng kiến hành vi phạm tội (như
người bị gây thương tích, bị cướp tài sản…) Họ tham gia tố tụng không chỉ giúp
CQTHTT làm rõ hành vi của người phạm tội mà còn tham gia vì quyền lợi của
chính họ. Khác với điều đó, nguyên đơn dân sự chỉ tham gia tố tụng khi có đơn
19
yêu cầu bồi thường. Hậu quả đối với nguyên đơn dân sự không phải là tình tiết
định tội, không có ý nghĩa với việc xem xét trách nhiệm hình sự cho bị cáo,
Phân biệt người bị hại với nguyên đơn dân sự là phân biệt hai loại người
tham gia tố tụng với hai tư cách khác nhau. Cơ quan, tổ chức bị thiệt hại không
thuộc phạm vi để xem xét trong luận văn, vì trong thực tế không có sự nhầm lẫn
đối với trường hợp này mà chỉ nhầm lẫn khi họ là cá nhân.
Người bị hại, nguyên đơn dân sự chỉ tham gia tố tụng khi có thiệt hại xảy
ra. Thiệt hại của người bị hại là thiệt hại trực tiếp về thể chất, tinh thần, tài sản từ
hành vi phạm tội.
Ví dụ: Do có mâu thuẫn với nhau từ trước A đã dùng dao để chém B. Anh
C là người có mặt tại đó đã vào can ngăn. Trong lúc vật lộn với A để tước đoạt
con dao anh C đã vị vỡ chiếc đồng hồ. A bị truy tố về tội “cố ý gây thương tích”
Sơ đồ 2: Phân biệt người bị hại với nguyên đơn dân sự.
1.3. Vị trí, quyền và nghĩa vụ của người bị hại trong luật TTHS.
Theo tinh thần cải cải cách tư pháp của Nghị quyết 49 ngày 02/6/2005 của
Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 xác định: “xác định rõ
hơn vị trí, quyền hạn trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia
tố tụng theo hướng đảm bảo công khai, dân chủ, nghiêm minh”. Từ đó cho thấy
việc xác định người tham gia tố tụng trong đó có người bị hại có vị trí rất quan Hậu
quả
Là tình tiết định tội hoặc
tăng nặng, giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự cho bị cáo
-Không có ý nghĩa với việc
định tội hoặc là tình tiết
tăng nặng giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự cho bị cáo
- là hậu quả tiếptheo mà
người bị hại cần phải khắc
phục Người bị
hại
Nguyên đơn
dân sự.
thẩm nhân dân, thư ký phiên toà), người giám định, người phiên dịch; đề nghị
mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường; được tham gia phiên toà;
được kháng cáo bản án và quyết định của Toà án về phần bồi thường cũng như
về phần hình phạt đối với bị cáo.
Theo quy định tại khoản 2 điều 51 BLTTHS Việt Nam thì người bị hại
hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền:
- Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu: người bị hại hoặc người đại diện hợp
pháp của họ có quyền đưa ra những tài liệu, chứng cứ, đồ vật để chứng minh
hành vi phạm tội đã gây ra cho họ chẳng hạn như người thực hiên hành vi tội
phạm đã có hành vi cưỡng ép, dùng các phương tiện công cụ như dao, búa để tấn
công họ nhằm tước đoạt sinh mạng hay chiếm đoạt tài sản của họ , chứng minh
và đưa ra những chứng cứ để chứng minh những thiệt hại mà họ phải chịu do
hành vi phạm tội gây ra như bị thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng, tinh thần (như bị
nhục mạ, xúc phạm đến danh dự nhân phẩm…) hay về tài sản. Người bị hại cũng
có quyền đưa ra những yêu cầu để chứng minh tội phạm như triệu tập thêm
người làm chứng, yêu cầu giám định mức độ tỷ lệ thương tật, yêu cầu người
phiên dịch trong trường hợp người bị hại là người không sử dụng được ngôn ngữ
tiếng việt… để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.
- Được thông báo về kết quả điều tra: người bị hại có quyền được thông
báo kết quả điều tra của cơ quan điều tra để họ biết những vấn đề thuộc nội dung
vụ án, trên cơ sơ đó để họ chuẩn bị những chứng cứ, lý lẽ hoặc yêu cầu để buộc
tội bị cáo hoặc để chứng minh những thiệt hại mà bị can, bị cáo gây ra cho mình.
23
- Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên
dịch theo quy định của BLTTHS. Chẳng hạn như theo quy định tại điều 42
BLTTHS thì khi tham gia phiên toà thì họ có quyền yêu cầu thay đổi khi họ thấy
thành viên Hội đồng xét xử, kiểm sát viên, thư ký phiên toà không vô tư, khách
quan trong khi tiến hành giải quyết vụ án như là có quan hệ thân thích với bị cáo
hay có biểu hiện tiêu cực trong quá trình giải quyết vụ án… thì họ có quyền yêu