LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu đề tài “Kiểm sát hoạt động tư
pháp của Viện kiểm sát nhân dân theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh
Đắk Lắk”, tôi đã nhận được sự tận tình giúp đỡ, chỉ bảo của các Giáo sư, Phó
Giáo sư, Tiến sĩ thuộc Học viện Khoa học xã hội cùng các Giảng viên, cán bộ
quản lý thuộc Học viện Khoa học xã hội cơ sở tại thành phố Buôn Ma Thuột
đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này.
Với lòng biết ơn sâu sắc, tình cảm chân thành, tôi xin cảm ơn Cô Hoàng
Thị Quỳnh Chi, Tiến sĩ, Vụ trưởng vụ 14 Viện kiểm sát nhân dân tối caoNgười đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi về kiến thức, tài liệu và phương
pháp để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk,
Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin đã tạo điều kiện thuận lợi
cho tôi tham gia hoàn thành chương trình này.
Cảm ơn gia đình cùng các đồng nghiệp đã động viên, cổ vũ, khích lệ và
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và học tập.
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng trong suốt quá trình nghiên cứu,
thực hiện đề tài này, tuy nhiên vẫn còn có thể có những hạn chế nhất định, vì
vậy mong nhận được ý kiến đóng góp và chỉ dẫn của các Nhà khoa học, quý
Thầy, Cô và các bạn đồng nghiệp.
Trân trọng cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi,
đảm bảo độ tin cậy và chính xác, chưa từng được công bố tại các công trình
nào khác. Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung của luận văn./.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
MỤC LỤC
Tiểu kết chương 1............................................................................................29
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHỨC NĂNG KIỂM SÁT HOẠT
ĐỘNG TƯ PHÁP CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK 30
2.1. Tình hình thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trên địa bàn tỉnh
Đắk Lắk trong 05 năm, từ 2014 đến 2018.......................................................30
2.2. Kết quả thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình
sự của VKSND tỉnh Đắk Lắk..........................................................................31
2.3. Hạn chế, tồn tại và nguyên nhân.............................................................. 61
2.3.1. Nguyên nhân của những kết quả đạt được............................................ 61
2.3.2. Hạn chế, tồn tại......................................................................................62
Tiểu kết chương 2............................................................................................65
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG THỰC HIỆN CHỨC NĂNG KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
CỦA VKSND TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK........................................ 66
3.1. Dự báo tình hình tội phạm và định hướng nâng cao chất lượng thực hiện chức
năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND............................................... 66
3.1.1. Dự báo tình hình tội phạm.....................................................................66
3.1.2. Định hướng nâng cao chất lượng thực hiện chức năng kiểm sát hoạt
động tư pháp của VKSND.....................................................................67
3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hiện chức năng kiểm sát hoạt
động tư pháp của VKSND từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.....................................71
3.2.1. Các giải pháp chung nhằm nâng cao chất lượng thực hiện chức năng
kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND.............................................. 71
3.2.2. Giải pháp đối với tỉnh Đắk Lắk.............................................................74
Tiểu kết chương 3............................................................................................86
KẾT LUẬN.....................................................................................................87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................90
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Tố tụng dân sự
TTHC:
Tố tụng hành chính
VKSND:
Viện kiểm sát nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tình hình công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố giai đoạn 2014 – 2018 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk ...
P1 Bảng 2.2: Tình hình công tác kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn
điều tra giai đoạn 2014 – 2018 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk..............................P1
Bảng 2.3: Tình hình công tác kiểm sát xét xử giai đoạn 2014 – 2018 trên địa
bàn tỉnh Đắk Lắk.............................................................................................P2
Bảng 2.4: Tình hình công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam giai đoạn 2014
– 2018 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk....................................................................P2
Bảng 2.5: Tình hình công tác kiểm sát việc thi hành án hình sự giai đoạn 2014
– 2018 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk....................................................................P3
Bảng 2.6: Tình hình công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo giai đoạn 2014 – 2018 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.........P3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính
phát triển kinh tế được nhân dân ủng hộ, tin tưởng. Tuy nhiên bên cạnh những
kết quả đạt được thì vẫn còn những tồn tại như: Các cơ quan chức năng vẫn
chưa quản lý được tình hình vi phạm, tội phạm, vẫn để xảy ra tình trạng khởi
tố, điều tra, truy tố oan sai, việc giải quyết tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành
chính, giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực tư pháp còn kéo dài và có trường
hợp để xảy ra vi phạm pháp luật; công tác thi hành án hình sự, dân sự, hành
chính còn chậm, một số trường hợp còn lại trong việc ra quyết định thi hành
án không đúng với bản án, quyết định của TAND...Tất cả những vi phạm của
các cơ quan tư pháp và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đã gây ra
bức xúc, lo lắng trong nhân dân, làm giảm uy tín của các cơ quan tư pháp.
Thực trạng của những tồn tại đó có nhiều nguyên nhân nhưng một trong
những nguyên nhân cơ bản là VKSND hai cấp của tỉnh Đắk Lắk thực hiện
chưa triệt để về quyền kiểm sát hoạt động tư pháp của CQĐT, TAND,
CQTHA hình sự, CQTHA dân sự, hành chính và cơ quan, tổ chức, cá nhân có
liên quan trong công tác điều tra, xét xử, thi hành án và giải quyết khiếu nại tố
cáo trong lĩnh vực hoạt động tư pháp. Chính vì vậy việc lựa chọn vấn đề
“Kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND theo pháp luật Việt Nam từ thực
tiễn tỉnh Đắk Lắk” làm đề tài luận văn Thạc sĩ luật học là đáp ứng yêu cầu cấp
thiết khách quan hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, có thể nêu ra một số đề tài, công trình, bài
viết, luận văn, luận án có liên quan đến đề tài nghiên cứu như sau:
- Viện Nhà nước và pháp luật, Viện khoa học xã hội Việt Nam. Đề tài khoa học
cấp Nhà nước: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về quyền
tư pháp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn 2011
-2020. Chủ nhiệm đề tài: PGS. TS. Nguyễn Đức Minh, năm 2011.
- Cuốn sách “Tư pháp trong nhà nước pháp quyền và nhưng yêu cầu đặt ra đối
với cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay”, TSKH. Lê Cảm và TS. Nguyễn
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các khái niệm về hoạt động tư pháp, kiểm sát hoạt động tư pháp.
Nghiên cứu cơ sở lý luận, pháp lý, khoa học về kiểm sát hoạt động tư pháp.
Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn hoạt động của VKSND khi thực hiện quyền
kiểm sát hoạt động tư pháp. Khảo sát, thu thập số liệu tiến hành đánh giá thực
tiễn kiểm sát hoạt động tư pháp tư pháp của VKSND từ thực tiễn tại tỉnh Đắk
Lắk.
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức lý luận và nâng
cao chất lượng thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận, quy định
của pháp luật và thực tiễn thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp,
tập trung vào kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự của VKSND
theo quy định của pháp luật Việt Nam..
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Theo quy định tại khoản 2, Điều 6 Luật tổ chức VKSND năm
2014 có 9 nội dung thuộc chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, tuy nhiên đề
tài chỉ nghiên cứu 6 nội dung kiểm sát hoạt động tư pháp về hình sự và kiểm
sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp (các
điểm a, b, c, d, đ và h khoản 2 Điều 6 Luật tổ chức VKSND).
- Về thời gian, đề tài nghiên cứu kiểm sát hoạt động tư pháp trong khoảng thời
gian 05 năm, từ năm 2014 đến năm 2018.
- Về không gian, việc nghiên cứu đánh giá thực tiễn thực hiện chức năng kiểm
sát hoạt động tư pháp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu dựa trên quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin và những
quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về kiểm soát quyền lực trong hoạt động tư
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT
HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1. Khái niệm, vai trò, ý nghĩa, đối tượng, phạm vi của kiểm sát hoạt động tư
pháp
1.1.1. Khái niệm
Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về khái niệm hoạt động tư pháp,
nhưng theo quan điểm tựu chung mà hầu hết các nhà khoa học lẫn thực
tiễn “thống nhất” định nghĩa, đó là: hoạt động của các cơ quan điều tra, truy
tố, xét xử, thi hành án, các cơ quan, tổ chức liên quan hoặc bổ trợ cho việc xét
xử của Tòa án. Điều đó không có nghĩa là toàn bộ mọi hoạt động của cơ quan
tư pháp là hoạt động tư pháp. Hoạt động tư pháp được nói đến là những hoạt
động (hành vi) cụ thể do các chủ thể được trao quyền thực hiện trong hoạt
động tố tụng (xét xử) nhằm đảm bảo tính đúng đắn, khác quan trong giải
quyết các vụ án.
Kiểm sát hoạt động tư pháp là chức của Viện kiểm sát được quy định tại
Hiến pháp. Vì Viện kiểm sát làn một chủ thể thực hiện quyền tư pháp nên
kiểm sát hoạt động tư pháp mang tính quyền lực Nhà nước (một dạng giám
sát của Nhà nước về tư pháp). Kiểm sát hoạt động tư pháp là giám sát trực
tiếp việc thực hiện các hoạt động cụ thể của các cơ quan tư pháp và một số cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động tư pháp (Cảnh sát biển,
Kiểm lâm,…) khi tham gia hoạt động tố tụng.
Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định “Kiểm sát hoạt động tư pháp
là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các
hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp,
được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự;
trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình,
- Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp
thời, nghiêm minh.
1.1.2. Vai trò, ý nghĩa của kiểm sát hoạt động tư pháp trong thực hiện quyền lực
nhà nước
Trải qua quá trình xây dựng và phát triển VKSND, kiểm sát hoạt động tư
pháp được chứng minh là cơ chế giám sát, kiểm soát việc thực hiện quyền tư
pháp hữu hiệu, có tác dụng ngăn ngừa khả năng lợi dụng, lạm dụng quyền lực
công trong hoạt động tư pháp xuất phát từ đặc điểm về tổ chức và hoạt động
của Viện kiểm sát (với tư cách là chủ thể thực thi chức năng giám sát, kiểm
soát quyền lực) trong quan hệ với đối tượng bị giám sát, bị kiểm soát, vì
những lý do sau đây:
Thứ nhất, về yếu tố tổ chức, Viện kiểm sát là một hệ thống cơ quan độc
lập trong bộ máy nhà nước, được giao thực hiện chức năng kiểm sát hoạt
động tư pháp của các cơ quan tư pháp. Vì vậy, cơ chế giám sát của Viện kiểm
sát có tính độc lập nhất định với đối tượng được giám sát. Tính độc lập này
bảo đảm cho hoạt động giám sát của Viện kiểm sát khách quan, trung thực và có
tính khả thi.
Thứ hai, về hoạt động, Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất trong hệ thống
các cơ quan tư pháp được Hiến pháp và pháp luật quy định có thẩm quyền
tham gia vào tất cả các lĩnh vực tố tụng tư pháp (tư pháp hình sự, tư pháp dân
sự, tư pháp hành chính…). Viện kiểm sát có thẩm quyền tham gia vào tất cả
các giai đoạn tố tụng (từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành
án). Đây là điều kiện quan trọng bảo đảm cho Viện kiểm sát có khả năng
giám sát toàn bộ quá trình tố tụng, giám sát toàn bộ quá trình thực hiện quyền
tư pháp, là cơ sở quan trọng để phát hiện vi phạm trong hoạt động tư pháp.
Thứ ba, về mức độ và phạm vi giám sát, kiểm sát các hoạt động tư pháp
của Viện kiểm sát được tiến hành cụ thể, thường xuyên, tác động liên tục tới
đối tượng bị giám sát. Đây là điều kiện để bảo đảm cho hoạt động giám sát có
Các hoạt động tư pháp là đối tượng của hoạt động kiểm sát của VKSND
bao gồm hoạt động tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính và hoạt
động thi hành án hình sự, dân sự, hành chính.
Khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND phải căn
cứ quy định của pháp luật để kiểm tra, xem xét việc tuân theo pháp luật của
các chủ thể bị kiểm sát (cơ quan, cá nhân) khi thực hiện hoạt động tư pháp
nhằm bảo đảm tính hợp pháp của các hành vi, quyết định.
VKSND phải dựa trên các căn cứ pháp lý như Hiến pháp, Luật tổ chức
VKSND, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự….và các văn bản pháp luật
khác có liên quan để xem xét, bảo đảm sự tuân theo pháp luật của các chủ thể
bị kiểm sát (cơ quan, tổ chức, cá nhân), bảo đảm tính hợp pháp của các hành
vi, quyết định trong hoạt động tư pháp.
1.1.4. Phạm vi của kiểm sát hoạt động tư pháp
Kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND được thực hiện ngay từ khi tiếp
nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt
quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ
việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi
hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt
động tư pháp khác theo quy định của pháp luật.
1.2. Nội dung của chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp
1.2.1. Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố
Trong công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm, thực hiện tốt công
tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm có ý nghĩa vô cùng quan
trọng. Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, việc tiếp nhận tin báo, tố giác
về tội phạm là giai đoạn khởi đầu và đích đến là xác định có hay không dấu
hiệu của tội phạm. Trách nhiệm của Viện kiểm sát trong công tác này là kiểm
sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, bảo đảm việc tiếp nhận, giải
thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát. Do đó, cần phải hiểu và phân
định được chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.
Nếu như kiểm sát là hoạt động kiểm tra, giám sát việc tiếp nhận giải quyết
của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra thì thực hành quyền công tố là để “thực hiện việc buộc tội của Nhà
nước đối với người phạm tội”. Khi thực hành quyền công tố trong việc tiếp
nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, VKSND thực
hiện nhiệm vụ được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân…và các văn bản pháp luật có liên quan như: Phê
chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khấn cấp, gia hạn
tạm giữ; Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp
hạn chế quyền con người, quyền công dân; hủy bỏ các quyết định tố tụng trái
luật khác, trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
trong trường hợp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có dấu hiệu bỏ lọt
tội phạm của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra đã được Viện kiểm sát yêu cầu nhưng không khắc phục….
Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp là chức năng
của VKSND, hai chức năng này tuy độc lập nhưng lại có quan hệ mật thiết
với nhau. Tương tự, thực hành quyền công tố trong việc tiếp nhận giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm và kiểm sát hoạt động tư pháp trong việc tiếp
nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố có mối quan hệ
tác động qua lại, bổ sung và gắn bó với nhau. Thực hành quyền công tố cũng
giống như đảm bảo về mặt nội dung, kiểm sát đảm bảo về mặt hình thức. Từ
đó, công tác việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố, đảm bảo được mọi hành vi phạm tội được phát hiện kịp thời, không
bỏ lọt tội phạm và không làm oan người phạm tội.
Đối tượng của công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố là hoạt động tuân theo pháp luật của CQĐT, cơ quan
phạm, kiến nghị khởi tố. CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra có trách nhiệm thông báo đầy đủ, kịp thời tố giác, tin
báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đã tiếp nhận cho VKSND.
- Trực tiếp kiểm sát; kiểm sát việc kiểm tra, xác minh, lập hồ sơ và kiểm sát kết
quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của CQĐT, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. CQĐT, cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm thông
báo đầy đủ, kịp thời kết quả xác minh, giải quyết cho VKSND.
- Khi phát hiện việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì VKSND yêu cầu CQĐT, cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện các hoạt động
sau đây:
+ Tiếp nhận, kiểm tra, xác minh, ra quyết định giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố đầy đủ, đúng pháp luật;
+ Kiểm tra việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố và thông báo kết quả cho VKSND;
+ Cung cấp tài liệu về vi phạm pháp luật trong việc tiếp nhận, giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
+ Khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm người vi phạm.
- Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố.
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo quy định của BLTTHS.
1.2.2. Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra
Sau khi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố nếu phát hiện hành vi phạm tội thì kết thúc quá trình giải quyết là việc khởi
tố vụ án và chuyển sang giai đoạn mới, đó là giai đoạn điều tra. Điều tra vụ án
hình sự là hoạt động tiếp theo của quá trình tố tụng, theo đó CQĐT, cơ quan
Kiểm sát hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi vụ án hình
sự được khởi tố và kết thúc khi Viện kiểm sát quyết định truy tố hoặc không
truy tố người phạm tội ra tòa, hoặc khi vụ án được đình chỉ theo quy định của
pháp luật tố tụng hình sự.
Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát hoạt động tư pháp trong
giai đoạn điều tra vụ án hình sự gồm:
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra và lập hồ sơ vụ
án của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra.
- Kiểm sát hoạt động TTHS của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố
tụng vi phạm pháp luật.
- Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra.
- Yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong việc khởi tố, điều tra khi cần thiết.
- Kiến nghị, yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra khắc phục vi phạm trong việc khởi tố, điều tra.
- Yêu cầu Thủ trưởng CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra thay đổi Điều tra viên, cán bộ điều tra; xử lý nghiêm minh
Điều tra viên, cán bộ điều tra vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng.
- Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm
và vi phạm pháp luật.
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát hoạt động tư pháp trong
giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo quy định của BLTTHS.
Kiểm sát hoạt động tư pháp trong việc khởi tố vụ án hình sự
Để bảo đảm mọi tội phạm được phát hiện đều bị khởi tố, việc khởi tố vụ
án căn cứ và hợp pháp, Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc
Nhiệm vụ cụ thể của Viện kiểm sát được thể hiện ở nhiều quy định khác
nhau. Trong quá trình kiểm sát hoạt động điều tra, việc lập hồ sơ vụ án của
CQĐT, cũng như kiểm sát việc khởi tố, Viện kiểm sát có nhiệm vụ và quyền
hạn: yêu cầu CQĐT khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động điều
tra; yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp tài liệu cần thiết về vi phạm pháp luật
của Điều tra viên; yêu cầu Thủ trưởng CQĐT xử lý nghiêm minh Điều tra
viên đã vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra.
Kiến nghị với các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp
phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật
Để bảo đảm cho các kiến nghị của Viện kiểm sát có hiệu lực và hiệu quả,
BLTTHS quy định: Những quyết định, yêu cầu của Viện kiểm sát trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự phải được cơ quan, tổ chức và công dân nghiêm
chỉnh chấp hành (Điều 168 BLTTHS).