BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG THỊ LOAN
ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC THEO QUY ĐỊNH
PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự
Mã số: 9 38 01 03
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2019
Công trình được hoàn thành tại:
Đại học Luật Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS Phạm Văn Tuyết
2. TS. Hoàng Thị Thuý Hằng
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
PGS.TS Nguyễn Thị Quế Anh
tự định đoạt của cá nhân tăng lên nên xu hướng lập di chúc để định đoạt tài sản trước
khi chết ngày càng nhiều. Tuy nhiên, để lại và hưởng di sản thừa kế theo di chúc ngay
từ thời kì đầu cũng đã rất khó khăn và phức tạp. Mọi sự đều tuân theo quy định của pháp
luật về bản di chúc. Những điều kiện mà pháp luật đặt ra để bản di chúc có được giá trị
pháp lý cũng bắt đầu được ghi nhận. Điều này cho phép NCS khẳng định các quy định
về điều kiện để di chúc hợp pháp cũng là một trong các ghi nhận thể hiện ý chí của giai
cấp thống trị nhằm điều chỉnh quan hệ thừa kế.
Tại Việt Nam, trước khi có BLDS năm 2015, quy định về di chúc và các điều kiện có
hiệu lực của di chúc đã được ghi nhận, đồng thời được định hình thông qua điều kiện để
di chúc hợp pháp, điều kiện để di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật và điều kiện để di chúc
được thi hành. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, quy định của pháp luật về điều kiện có
hiệu lực của di chúc có nhiều sự thay đổi mang tính phù hợp với sự phát triển toàn diện
của xã hội hơn. Tuy nhiên: (i) Hầu hết các quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu
lực của di chúc đang được ghi nhận tại BLDS năm 2015 đều được kế thừa từ các văn bản
quy phạm trước đó. Cho nên, những hạn chế, bất cập, thiếu sót của các quy định này vẫn
tồn tại và gây ra nhiều “nhức nhối” trong hoạt động nghiên cứu cũng như hoạt động xét
xử; (ii) Sự phát triển mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội đã tác động mạnh mẽ tới nhận
thức, hành vi của con người, kéo theo sự thay đổi trong quan hệ thừa kế, đặc biệt thừa kế
theo di chúc. Dẫn đến, nhiều quy định không còn phù hợp với thực tế.
Cơ quan tiến hành tố tụng nhận định, tranh chấp thừa kế ở nước ta được xem là loại án
dân sự phổ biến, phức tạp, có những vụ án tranh chấp kéo dài hàng chục năm. Nguyên
2
nhân quan trọng dẫn đến tranh chấp thừa kế phức tạp bởi vì đây là quan hệ tranh chấp
đặc thù, thường xảy ra giữa những người thân thích có quan hệ hôn nhân, huyết thống,
nuôi dưỡng với nhau; sự thiếu thống nhất trong việc áp dụng quy định của pháp luật
để đưa ra phán quyết; sự ảnh hưởng của các giá trị truyền thống về văn hoá, đạo lý
trong gia đình hay khi giải quyết tranh chấp thừa kế… Trong các tranh chấp đó, số
Việc nghiên cứu sẽ làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về di chúc, điều kiện có hiệu
lực của di chúc. Đặc biệt, xây dựng khái niệm riêng về điều kiện có hiệu lực của di chúc,
xác định cơ sở lý luận, thực tiễn của việc quy định các điều kiện có hiệu lực của di chúc.
3
Bên cạnh các vấn đề về lý luận, luận án còn làm rõ quy định của pháp luật hiện hành đặt
trong sự phân tích, bình luận, đánh giá với văn bản quy phạm pháp luật thời kì trước về điều
kiện có hiệu lực của di chúc. Đồng thời, nghiên cứu pháp luật một số quốc gia trên thế giới
theo hướng so sánh nhằm hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam.
Luận án được triển khai phần thực tiễn áp dụng với một số bản án đã có hiệu lực pháp
luật để qua đó có cơ sở cho việc đánh giá hoạt động xét xử tranh chấp về thừa kế theo di
chúc, việc áp dụng quy định của pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc.
4. Những đóng góp mới của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài: “Điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định pháp luật
dân sự Việt Nam” có thể mang đến những đóng góp mới sau đây:
Thứ nhất, xác định bản chất của di chúc và điều kiện có hiệu lực của di chúc.
Thứ hai, xác định cơ sở lý luận và thực tiễn đối với quy định về điều kiện có hiệu lực
của di chúc.
Thứ ba, xây dựng khái niệm và hệ thống hoá các nhóm điều kiện cấu thành điều kiện
có hiệu lực của di chúc.
Thứ tư, phân tích, bình luận quy định BLDS năm 2015 và quy định pháp luật trước
đó về các điều kiện có hiệu lực của di chúc. Qua đó, NCS đánh giá được ưu điểm, nhược
điểm của từng điều kiện đặt trong bối cảnh nghiên cứu khoa học về luật thực định và
thực tiễn áp dụng.
Thứ năm, tại mỗi điều kiện có hiệu lực của di chúc, NCS có lồng ghép, đồng thời
phân tích so sánh với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới nhằm chỉ ra những
điểm hợp lý hay chưa hợp lý để định hướng hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam.
Thứ sáu, đưa ra một số lượng án thực tiễn nhất định qua đó chỉ ra điểm ưu và hạn
di chúc. Có luận án Tiến sĩ luật học của Phạm Văn Tuyết có đề cập tới hầu hết các điều kiện
có hiệu lực của di chúc nhưng không tập trung vào nội dung này mà tác giả dàn trải vấn đề
nghiên cứu cho cả quá trình thừa kế theo di chúc. Luận văn Thạc sĩ luật học của Trịnh Hữu
Toản cũng phân tích các điều kiện này một cách chi tiết nhưng dung lượng trang viết và thời
gian nghiên cứu quá ít nên các vấn đề chưa đạt ở mức độ chuyên sâu. Hơn nữa chưa thể hiện
được việc bình xét các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo một lộ trình thời gian từ khi
cá nhân lập di chúc cho tới khi chết và bản di chúc được thực thi.
Các vấn đề nghiên cứu của luận án, từng công trình khoa học đã công bố chưa đảm bảo
được sự sâu sắc về khía cạnh nghiên cứu, bình xét về quy định của pháp luật và triệt để về
giải pháp hoàn thiện, cụ thể:
• Góc độ lý luận:
- Về bản chất điều kiện có hiệu lực của di chúc: Chưa được công trình nào công bố.
- Về khái niệm và đặc điểm điều kiện có hiệu lực của di chúc: Một vài công trình đưa ra
khái niệm nhưng chưa chỉ ra dấu hiệu riêng biệt của điều kiện có hiệu lực của di chúc như:
Luận văn thạc sĩ luật học của Trịnh Hữu Toản, hay luận văn thạc sĩ luật học của Lương
Thị Hợp…
- Về học thuyết, cơ sở cho việc ghi nhận các điều kiện có hiệu lực của di chúc. Về
học thuyết, chưa có công trình nào đề cập. Về cơ sở lý luận, thực tiễn, trong luận văn
thạc sĩ của mình, Trịnh Hữu Toản có đề cập. Tuy nhiên, những gì tác giả này đề cập còn
rất sơ sài, đơn giản chưa lột tả được bản chất của việc ghi nhận các điều kiện có hiệu
5
lực của di chúc trong quy định của pháp luật.
- Khái niệm, đặc điểm các điều kiện có hiệu lực của di chúc: Một vài công trình có
đề cập tới từng điều kiện riêng lẻ như: Cuốn sách của tác giả Phạm Văn Tuyết viết về
người lập di chúc, nội dung của di chúc, yếu tố tự nguyện trong di chúc, hình thức của
di chúc và các sự kiện gây mất hiệu lực của di chúc. Cuốn sách của tác giả Trịnh Khánh
Phong viết về các điều kiện để di chúc hợp pháp nói chung. Cuốn sách của tác giả Phùng
Thứ tư, di chúc là một loại giao dịch trọng hình thức.
6
Thứ năm, di chúc hợp pháp có thể vẫn không có hiệu lực thi hành.
1.2. Khái niệm và đặc điểm điều kiện có hiệu lực của di chúc
1.2.1. Khái niệm điều kiện có hiệu lực của di chúc
NCS cho rằng nói đến hiệu lực pháp luật của di chúc phải nói đến cả hai loại giá
trị, trong đó giá trị pháp lý chính là sự thể hiện tính hợp pháp của một di chúc; giá trị thi
hành là sự thể hiện khả năng thực hiện của di chúc trong thực tế. Vì vậy, có thể kết luận
rằng: Hiệu lực pháp luật của di chúc là giá trị pháp lý ghi nhận quyền, nghĩa vụ của
những người thừa kế theo di chúc và các chủ thể khác có liên quan, theo đó các chủ thể
hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ theo ý chí của người để lại di sản đã được thể hiện
trong di chúc.
Theo khái niệm này, điều kiện có hiệu lực của di chúc là sự tổng hợp bởi ba nhóm
điều kiện: Một là, điều kiện để di chúc hợp pháp. Hai là, điều kiện để di chúc phát sinh
hiệu lực pháp luật. Ba là, điều kiện để di chúc được thi hành. Bởi vì:
- Muốn được bảo đảm và thực thi theo nguyện vọng của người để lại di sản, di chúc
trước hết phải được pháp luật ghi nhận. Việc ghi nhận bản di chúc hợp pháp là điều kiện
đầu tiên công nhận hiệu lực của bản di chúc. Theo đó, di chúc phải dựa trên thành quả của
sự kết giao các yếu tố cấu thành bản di chúc bao gồm: Người lập di chúc có năng lực pháp
luật, năng lực hành vi; nội dung di chúc không vi phạm điều cấm; người lập di chúc phải tự
nguyện và hình thức tuân thủ quy định của luật. Do đó, NCS xác định điều kiện đầu tiên là
điều kiện để di chúc hợp pháp và đây là những điều kiện pháp luật đặt ra nhằm xem xét
tính đúng đắn, phù hợp, qua đó ghi nhận giá trị pháp lý của bản di chúc.
- Để có được cơ sở ghi nhận quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ thừa kế
theo di chúc, ngoài điều kiện về người lập di chúc chết, vấn đề về người thừa kế được
chỉ định trong di chúc và di sản được định đoạt trong di chúc cũng phải xác định để đảm
bảo việc phát sinh hiệu lực của bản di chúc. Do đó, chúng ta cần đặt ra loại điều kiện để
Đặc điểm riêng của điều kiện có hiệu lực của di chúc bao gồm: (i) Do pháp luật
quy định tính từ thời điểm người để lại di sản lập di chúc cho đến khi di chúc được thi
hành; (ii) Người lập di chúc chết là mốc thời điểm quan trọng khởi phát xác định các
yêu cầu đối với bản di chúc; (iii) Điều kiện có hiệu lực của di chúc nghiêm ngặt hơn so
với điều kiện có hiệu lực của giao dịch.
1.3. Cơ sở khoa học cho việc ghi nhận điều kiện có hiệu lực của di chúc
Từng quy định mà pháp luật đã ghi nhận đều được xây dựng dựa trên cở sở khoa
học về thực tiễn và lý luận mà nền tảng là các học thuyết khoa học, điều kiện có hiệu
lực của di chúc cũng như vậy.
• Cơ sở thực tiễn:
Một là, nhu cầu và khả năng nhận thức của cá nhân.
Hai là, sự dịch chuyển tài sản trong thừa kế.
Ba là, sự điều tiết tất yếu của Nhà nước bằng pháp luật đối với những hành vi ứng
xử nhất định của con người.
Nhìn chung, xuất phát từ thực tiễn của quá trình lao động, sản xuất tạo ra của cải vật
chất của con người. Sự tích luỹ, dư thừa kèm theo nhu cầu, nhận thức về quyền tự định đoạt
của cá nhân đối với tài sản trước quy luật sinh tử tạo ra hành vi lập di chúc nhằm thoả mãn
lợi ích của việc dịch chuyển di sản sau khi chết đi. Đứng trước việc thiết lập cơ chế để thực
hiện nhu cầu này của cá nhân và sự hài hoà lợi ích của các chủ thể khác trong quan hệ thừa
kế, pháp luật buộc phải điều tiết hành vi lập di chúc bằng việc đặt ra các yêu cầu đối với
bản di chúc để qua đó ghi nhận hiệu lực của di chúc. Tất cả đều là cở sở thực tiễn cho việc
ghi nhận điều kiện có hiệu lực của di chúc.
• Cơ sở lý luận:
(i)
Học thuyết về quyền tự nhiên của con người: Với việc xác định, mong muốn
định đoạt tài sản của cá nhân như thế nào sau khi chết là một trong những giá trị lợi ích tinh
8
việc giúp: (i) nhận diện các điều kiện có hiệu lực của di chúc, căn nguyên của việc ghi
nhận các nhóm điều kiện có hiệu lực của di chúc; (ii) xác định tính phổ quát và riêng
biệt đối với các điều kiện có hiệu lực của di chúc. Thứ ba, bằng việc nghiên cứu các học
thuyết khác nhau khi xây dựng từng quy định của pháp luật, NCS đã xác định cơ sở
khoa học cho việc ghi nhận các điều kiện có hiệu lực của di chúc;
Chương 2
THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ
ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC
2.1. Điều kiện để di chúc hợp pháp
2.1.1. Quy định của pháp luật về người lập di chúc
9
Theo quy định tại khoản 1 Điều 630 BLDS năm 2015, hai nhóm cá nhân được luật
cho phép thực hiện quyền lập di chúc bao gồm: (i) Người thành niên minh mẫn, sáng
suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép”; (ii) Người từ đủ mười
lăm đến chưa đủ mười tám tuổi nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc
lập di chúc. Rõ ràng theo sự ghi nhận này, người lập di chúc và người xác lập giao dịch
nói chung đã được khoanh vùng và xác định theo phạm vi khác nhau. Sự cụ thể hoá quy
định về người lập di chúc theo quy định pháp luật hiện hành được xem xét dựa trên một
số khía cạnh sau:
2.1.1.1. Về độ tuổi
- Người thành niên được xác định là người từ đủ mười tám tuổi trở lên: Pháp luật
Việt Nam từ thời kì phong kiến cũng đã ghi nhận rằng “người làm cha, mẹ phải liệu tuổi
già mà lập sẵn chúc thư…” hay Pháp luật thời kì Pháp đô hộ cũng quy định: “Người
nào đã thành niên hoặc đã thoát quyền mà có đủ trí khôn thì đều có tư cách được di
chúc và lập ra di chúc để xử trí về tất cả tài sản của mình”. Cho tới thời kì độc lập, quy
định về độ tuổi của người lập di chúc càng được thể hiện rõ nét trong các văn bản quy
phạm pháp luật nhưng điểm chung của tất cả các văn bản này đều giống nhau ở chỗ ghi
điều khiển hành vi. Hơn nữa, di chúc là loại giao dịch đặc thù chỉ có hiệu lực khi người lập
di chúc chết. Cho nên, ngoài điều kiện độ tuổi, người lập di chúc phải đảm bảo sự minh
mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, cưỡng ép, đe doạ trong khi lập di chúc. Theo quy định
này, điều kiện đặt ra cho từng đối tượng lập di chúc như sau: Thứ nhất, đối với người thành
niên được quyền lập di chúc nhưng phải thỏa mãn điều kiện minh mẫn, sáng suốt không bị
lừa dối, cưỡng ép và đe dọa. Thứ hai, đối với người từ đủ mười lăm đến chưa đủ mười tám
tuổi. Sự hình thành bản di chúc của chủ thể này trên thực tế hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí
của cha, mẹ hoặc người giám hộ có đồng ý cho họ lập di chúc hay không. Ở quy định này,
chúng ta có thể hiểu rằng trách nhiệm của người làm cha, mẹ hoặc giám hộ cũng được xác
định gián tiếp trong việc đánh giá khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của con họ hay
người được giám hộ. Thứ ba, đối với người mất năng lực hành vi dân sự không được lập di
chúc, người hạn chế năng lực hành vi dân sự, khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành
vi vẫn được quyền lập di chúc.
Bên cạnh những ưu điểm mang lại cho nhà nước, người lập di chúc, người thừa kế
khác, quy định về người lập di chúc còn tồn tại một số bất cập sau: Một là, chưa ghi
nhận một cách cụ thể năng lực pháp luật của người lập di chúc; Hai là, quy định về sự
đồng ý cho lập di chúc của cha, mẹ hoặc người giám hộ đối với di chúc của người từ đủ
15 đến chưa đủ 18 tuổi chưa thực sự rõ ràng; Ba là, chưa quy định cụ thể về quyền lập
di chúc của người dưới 15 tuổi; Bốn là, cách đặt điều kiện minh mẫn, sáng suốt cho
người lập di chúc chưa thực sự logic và khoa học; Năm là, cách thức sử dụng từ ngữ
thiếu tính thống nhất dẫn tới nhầm lẫn hoặc mâu thuẫn trong hoạt động thực hiện và áp
dụng pháp luật.
2.1.2. Quy định của pháp luật về nội dung của di chúc
Nội dung của di chúc được hiểu là tổng hợp các điều khoản thể hiện ý chí của cá nhân
để lại di sản. Do đó, di chúc muốn hợp pháp phải tuân thủ quy định của pháp luật về nội
dung của di chúc. Điều kiện về nội dung của di chúc được cụ thể ở hai vấn đề sau:
2.1.2.1. Điều kiện để nội dung của di chúc được coi là hợp pháp
• Có nội dung không vi phạm điều cấm của luật
Điều kiện nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật cần hiểu theo
hướng các điều khoản tổng hợp ý chí của người lập di chúc không rơi vào các trường
Nội dung của di chúc có đặt điều kiện
Về nội dung di chúc có điều kiện. chúng ta phải đặt ra các yêu cầu sau đây cho
chính điều kiện của di chúc: (i) Điều kiện trước tiên phải không vi phạm điều cấm, trái
đạo đức xã hội; (ii) điều kiện trong di chúc phải rõ ràng không gây nhầm lẫn; (iii) điều
kiện đặt ra trong di chúc phải đảm bảo sự hài hoà giữa lợi ích mang lại và nghĩa vụ gắn
liền với điều kiện áp dụng cho người thừa kế, trừ trường hợp người thừa kế tự nguyện.
Điều quan trọng hơn cả, BLDS năm 2015 cần phải điều chỉnh mục di chúc có điều kiện
để từ đó xây dựng hậu quả pháp lý rõ ràng cho nội dung này.
2.1.3. Quy định của pháp luật về yếu tố tự nguyện trong di chúc
Điểm b khoản 1 Điều 117 BLDS năm 2015 quy định: “chủ thể tham gia giao dịch dân sự
hoàn toàn tự nguyện” và điểm a khoản 1 Điều 630 BLDS năm 2015 quy định: “người lập di
chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép”. Theo
quy định này, yếu tố tự nguyện khi lập di chúc được xem xét bởi hai khía cạnh:
Thứ nhất, di chúc được hình thành trong tình trạng người lập minh mẫn, sáng suốt: Thực
tế, một cá nhân đạt độ tuổi thành niên theo quy định của mỗi quốc gia cũng chưa hẳn đã có
được khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Theo logic này, ngay cả khi vừa đạt độ
tuổi, vừa có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi cũng chưa chắc đảm bảo được việc, cá
nhân đó tham gia vào quá trình lập di chúc có hoàn toàn minh mẫn và sáng suốt hay không.
Chính vì vậy, pháp luật quy định điều kiện người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt để
loại trừ các khả năng trên của cá nhân.
12
Thứ hai, di chúc được lập theo ý chí đích thực của người lập di chúc: Sự thống nhất
giữa ý chí và bày tỏ ý chí là nét đặc thù làm nên yếu tố tự nguyện trong giao dịch. Việc xác
lập di chúc cũng như vậy, ý chí của người lập là mong muốn của chính họ về việc định đoạt
tài sản của mình cho người khác sau khi chết đi. Pháp luật tôn trọng quyền định đoạt đoạt
của người lập di chúc và đảm bảo thực hiện ý nguyện này nếu được bày tỏ ra bên ngoài một
cách đích thực.
tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc
đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc
13
phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người
làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc. Và
nội dung của bản di chúc vẫn phải đảm bảo quy định tại Điều 631 BLDS năm 2015.
• Di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực
Việc công chứng hay chứng thực thuộc về quyền tự do lựa chọn của người lập di chúc.
Đây là loại di chúc do công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực thực hiện.
Ngoài các loại di chúc kể trên, BLDS năm 2015 còn quy định loại di chúc có giá trị
như di chúc được công chứng hoặc chứng thực tại Điều 638 như: Di chúc của quân nhân
tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên, nếu quân nhân không
thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực. Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy
bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó…
Bên cạnh những ưu điểm đã mang lại, quy định về hình thức của di chúc vẫn tồn tại
nhiều hạn chế cần khắc phục, cụ thể:
• Đối với di chúc miệng: Một là, khoảng thời gian sau 03 tháng, kể từ thời điểm di
chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc
nhiên bị hủy bỏ không có căn cứ. Hai là, điều kiện để di chúc miệng được coi là hợp
pháp không thuyết phục. Cụ thể: Điều kiện về người làm chứng, việc ghi chép, điểm chỉ
và công chứng, chứng thực chữ kí không phù hợp với thực tế.
• Đối với di chúc bằng văn bản: Một là, thiếu loại di chúc trong sự liệt kê. Cụ thể:
Thiếu loại di chúc có giá trị như công chứng, chứng thực và di chúc được lập vi bằng
bởi Văn phòng Thừa phát lại. Hai là, di chúc bằng văn bản không có người làm chứng
phải tuân theo quy định tại Điều 631 là quy định cứng nhắc. Ba là, quy định về di chúc
bằng văn bản có người làm chứng chưa thực sự rõ ràng, có thể gây nhầm lẫn trong áp
dụng, thực hiện. Bốn là, còn nhiều điểm chưa phù hợp về thủ tục lập di chúc bởi công
định hưởng thừa kế trong di chúc hoặc thuộc các hàng thừa kế theo pháp luật của người
chết. Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm dịch chuyển tài sản của mình cho người
khác sau khi chết. Cho nên, phạm vi người thừa kế theo di chúc được xác định có thể là chủ
thể cá nhân hoặc không phải cá nhân. Theo đó, điều kiện cụ thể là: Đối với cá nhân được
chỉ định hưởng di sản trong di chúc: Phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế; không được
từ chối nhận di sản; không bị tước quyền hưởng di sản; Đối với cơ quan, tổ chức được chỉ
định hưởng di sản trong di chúc: Phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Bên cạnh những điểm đã đạt được, quy định này vẫn còn tồn tại một số bất cập: Một là,
chưa quy định một cách rõ ràng về điều kiện cá nhân phải sinh ra và còn sống sau thời điểm
mở thừa kế. Hai là, thiếu thống nhất trong việc ghi nhận chủ thể hưởng thừa kế không phải
là cá nhân (khi thì sử dụng là cơ quan, tổ chức khi lại sử dụng chủ thể không phải cá nhân).
Ba là, chưa có quy định pháp luật rõ ràng để giải quyết hậu quả pháp lý đối với trường hợp
tổ chức lại, giải thể, phá sản, cải tổ pháp nhân. Bốn là, thiếu quy định về quyền từ chối và
việc tước bỏ quyền thừa kế đối với chủ thể không phải là cá nhân.
2.2.3. Quy định của pháp luật về di sản thừa kế được định đoạt trong di chúc còn
tồn tại vào thời điểm mở thừa kế
Đối với phần di sản được định đoạt trong di chúc, khoản 3 Điều 643 BLDS năm 2015
đã quy định rất rõ ràng về giá trị hiệu lực của di chúc như sau: “Di chúc không có hiệu lực,
nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại
cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu
lực”. Theo quy định này, điều kiện đặt ra đối với di sản được định đoạt trong di chúc phải
còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế mới góp phần tạo ra hiệu lực pháp luật của di chúc.
Cụm từ “không còn” được hiểu là không có sự xuất hiện, không hiện hữu. Tức là, tài sản
có thể rơi vào tình trạng như: Tiêu dùng hết, tiêu hủy, hủy hoại, đã được chuyển cho người
khác hoặc chuyển đổi thành loại tài sản khác… Nếu tài sản ở thời điểm lập di chúc còn
nhưng đến thời điểm người lập di chúc chết, tài sản rơi vào một trong các tình trạng nói
15
theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”. Theo đó, người
thừa kế trong di chúc được chỉ định hưởng nhưng sau đó lại từ chối quyền hưởng di sản thì
phần di sản này sẽ phân chia theo pháp luật. Việc nhận hay từ chối nhận di sản là quyền của
người thừa kế. Nên khi người thừa kế được chỉ định hưởng trong di chúc nhưng họ từ chối
quyền hưởng di sản. Nội dung di chúc đó sẽ không phát sinh hiệu lực pháp luật.
2.3.1.3. Người thừa kế không bị tước quyền hưởng di sản thừa kế
Đây là những trường hợp, người thừa kế thuộc diện thừa kế nhưng rơi vào các trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015 bị pháp luật tước quyền thừa kế. Như
16
điểm d, khoản 1 Điều 650 BLDS năm 2015 nêu trên đã quy định, người được chỉ định
hưởng thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng, phần nội dung di chúc này sẽ
không có hiệu lực pháp luật.
2.3.2. Quy định của pháp luật về điều kiện liên quan tới di sản được định đoạt
trong di chúc
Quy định của pháp luật đã thể hiện rõ, để di phát sinh hiệu lực pháp luật, di sản được
định đoạt trong di chúc phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Cụ thể khoản 3 Điều 643
BLDS năm 2015 quy định: “Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế
không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần
thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực”. Đồng thời, điểm b Khoản 2 Điều
650 BLDS năm 2015 quy định: “Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có
hiệu lực pháp luật” sẽ được chia theo pháp luật. Theo đó khẳng định, di chúc hợp pháp,
người lập di chúc đã chết cũng chưa thể đảm bảo giá trị thực thi nếu di sản được định
đoạt trong di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
2.3.3. Quy định của pháp luật về bản di chúc
Như đã đề cập, điều kiện có hiệu lực của di chúc là yêu cầu của pháp luật mà một di chúc
muốn hợp pháp cần phải đáp ứng, đồng thời là những yêu cầu thực tế mà chỉ khi đáp ứng
được yêu cầu thực tế đó, di chúc mới có thể thi hành. Do đó, khi đề cập tới điều kiện có
Liên quan tới vấn đề này, BLDS qua các thời kì ở Việt Nam đều ghi nhận nguyên
tắc về việc giải thích nội dung của giao dịch nói chung và di chúc nói riêng. Việc làm
này được thực hiện khi: Trường hợp nội dung di chúc không rõ ràng dẫn đến nhiều cách
hiểu khác nhau thì những người thừa kế theo di chúc phải cùng nhau giải thích nội dung
di chúc dựa trên ý nguyện đích thực trước đây của người chết, có xem xét đến mối quan
hệ của người chết với người thừa kế theo di chúc. Khi những người này không nhất trí
về cách hiểu nội dung di chúc thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Với quy định này,
bản di chúc sẽ không thể thực hiện được khi có nội dung không thể giải thích.
Tóm lại, điều kiện có hiệu lực của di chúc luôn được xác định là yêu cầu của pháp luật
đặt ra một cách xuyên suốt trong lộ trình về mặt thời gian được tính từ khi cá nhân lập di
chúc, cá nhân chết và di chúc được thi hành trên thực tế. Theo đó, pháp luật đặt ra yêu
cầu hợp pháp đối với di chúc vào thời điểm xác lập, yêu cầu phát sinh hiệu lực pháp luật
vào thời điểm cá nhân chết và phát sinh hiệu lực thực thi vào thời điểm phân chia di sản
được định đoạt trong di chúc. Ở mỗi giai đoạn đều có những nhóm điều điều kiện tương
thích và phù hợp để đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của di chúc.
KẾT LLUẬN CHƯƠNG 2
Tại chương này, luận án được tập trung nghiên cứu thực trạng quy định của pháp luật
hiện hành về điều kiện có hiệu lực của di chúc. Trong đó, NCS phân thành ba nhóm điều kiện
cơ bản: Một là, điều kiện để di chúc hợp pháp; Hai là, điều kiện để di chúc phát sinh hiệu lực
pháp luật; Ba là, điều kiện để di chúc được thi hành. Ở mỗi điều kiện, tác giả đều chỉ ra: (i)
Quy định của pháp luật hiện hành; (ii) Sự khác biệt quy định pháp luật hiện hành với quy định
pháp luật thời kì trước; (iii) Điểm tương đồng hoặc khác biết với pháp luật của một số quốc gia
trên thế giới; (iv) Đánh giá ưu điểm và nhược điểm còn tồn đọng đối với quy định của pháp
luật về mỗi điều kiện.
Chương 3
THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN
CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC
3.1. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc
3.1.1. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về điều kiện di chúc hợp pháp
NCS đưa ra 01 án miêu tả về di chúc được lập nhưng bị cưỡng ép và 01 án di chúc
giả mạo qua đó có một số kết luận: (i). Quy định về người hạn chế thể chất lập di chúc
chưa thực sự rõ ràng dẫn đến lúng túng trong việc áp dụng để giải quyết tranh chấp nếu
có; (ii) việc tuyên một di chúc giả mạo không còn là vấn đề quá khó khăn đối với Toà
án khi ap dụng trưng cầu giám định các vấn đề nghi ngại.
3.1.1.4. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về hình thức của di chúc
NCS đưa ra một số vụ án theo hướng tóm lược vấn đề như sau:
Thứ nhất, về một số dạng cụ thể của di chúc.
NCS đưa ra 01 vụ án miêu tả về nội dung của di chúc thiếu chữ kí nháy các trang, di
chúc được đánh máy, không có người làm chứng và 01 vụ án miêu tả việc nhờ người
khác lập di chúc. Qua 2 vụ án này, NCS nhận thấy: (i) nhận thức của người áp dụng quy
định của pháp luật về nội dung này còn hạn chế; (ii) hồ sơ vụ án có thể còn quá sơ sài
dẫn đến tuyên án còn nhiều phiến diện; (iii) những người có thẩm quyền trong cơ quan
chuyên trách vẫn còn thiếu trách nhiệm trong việc áp dụng quy định của pháp luật…
19
Thứ hai, về trình tự, thủ tục lập di chúc tại cơ quan có thẩm quyền.
NCS đưa ra 01 vụ án miêu tả về nội dung của di chúc được viết và yêu cầu chứng
thực ở hai thời điểm khác nhau, 01 vụ án miêu tả về việc người thân của người lập di
chúc tự liên hệ UBND cấp xã để xin xác nhận chứng thực bản di chúc. Qua 2 vụ án này,
NCS nhận thấy: Quy trình lập di chúc và yêu cầu chứng thực còn rất nhiều bất cập.
Nguyên nhân của thực tiễn này là: (i) Quy định của pháp luật chưa đầy đủ; (ii) sự xuề
xoà trong các mối quan hệ giữa đơn vị cấp xã với người dân; (iii) Nhận thức về pháp
luật của người áp dụng còn chưa sâu sắc.
3.1.2. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về điều kiện để di chúc phát sinh hiệu lực
pháp luật
NCS đưa ra 01 vụ án miêu tả xác định thời điểm chết của cá nhân, 01 vụ án miêu tả cái
chết bị Toà án tuyên nhưng chưa chính xác trong việc xác định thời điểm chết cụ thể
việc từ chối quyền hưởng di sản có sự khác biệt; Hai là, cần tránh sự nhầm lẫn trong cách
hiểu về từ chối nhận di sản thừa kế và nhượng quyền hưởng di sản.
3.1.3.3. Về bản di chúc
NCS đưa ra 01 vụ án miêu tả di chúc bị thất lạc, hư hại, 01 vụ án miêu tả việc giải
thích nội dung của di chúc và 01 vụ án miêu tả về chủ thể giải thích di chúc. Qua ba vụ
án trên, điều chúng ta có thể nhận thấy, việc di chúc bị thất lạc, bị hư hại, hoặc có nội
dung không rõ ràng sẽ làm cho di chúc mất hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, quy định của
pháp luật về di chúc thất lạc, hư hại hay việc giải thích di chúc lại chưa thực sự phù hợp.
Điều này dẫn tới sự lúng túng, sai sót trong quá trình áp dụng vào thực tiễn. Cho nên,
các quy định về nội dung này cần phải được sửa đổi để hoàn thiện hơn nữa.
Nhìn chung, thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của
di chúc còn tồn tại một số vấn đề sau: Một là, vẫn còn thiếu thống nhất trong cách nhìn
nhận và giải quyết vấn đề của các thẩm phán đối với các vụ án có tình tiết tương tự; Hai
là, các hoạt động nghiệp vụ xuất phát từ quy trình thủ tục liên quan tới quá trình lập di
chúc, giải quyết tranh chấp chưa thực sự chuẩn chỉnh; Ba là, sự linh động trong áp dụng
quy định pháp luật để giải quyết tranh chấp chưa thuyết phục. Tuy nhiên, những tồn
đọng, hạn chế nêu trên đều xuất phát từ lý do cơ bản nhất là quy định pháp luật của
chúng ta còn thiếu sót, chưa phù hợp, chưa rõ ràng, mâu thuẫn, bất cập… Chính vì vậy,
việc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của
di chúc sẽ khắc phục được tình trạng nêu trên.
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của
di chúc
3.2.1. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về điều kiện để di
chúc hợp pháp
3.2.1.1. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về người lập di chúc
Thứ nhất, với những đánh giá và kiến nghị nhỏ lẻ, NCS kiến nghị hai quy định độc
lập sau:
(i) Quy định về người lập di chúc.
Điều .... Người lập di chúc
3. Nội dung của di chúc có thể viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu nhưng phải được giải thích
bằng nội dung diển tả trong ngoặc đơn sau đó đối với từ viết tắt hoặc ký hiệu đầu tiên, trừ
trường hợp những từ viết tắt hoặc ký hiệu thông dụng. Nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi
trang cần được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.
Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa về mặt nội dung của di chúc thì người tự
viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.
Thứ hai, về di chúc có nội dung được đặt điều kiện. BLDS năm 2015 nên ghi nhận
mới về nội dung di chúc có điều kiện như sau:
“Người lập di chúc có quyền đặt điều kiện trong di chúc nhưng không được vi phạm
điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.
Trường hợp người hưởng di sản thừa kế trong di chúc đã nhận di sản nhưng vi phạm
nghĩa vụ phát sinh theo điều kiện trong di chúc, người này phải hoàn trả lại di sản cho
những người thừa kế khác sau khi trừ chi phí làm gia tăng giá trị di sản, chi phí hợp lý đã
bỏ ra để thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ điều kiện có trong di chúc.
Trường hợp người hưởng di sản thừa kế trong di chúc chưa nhận di sản nhưng vi phạm
nghĩa vụ phát sinh theo điều kiện trong di chúc, người này được quyền yêu cầu người thừa
kế khác thanh toán chi phí hợp lý đã bỏ ra để thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ điều kiện
trong di chúc
Trường hợp người hưởng di sản thừa kế trong di chúc chết trước khi hoàn thành điều
kiện, phần nội dung di chúc có điều kiện sẽ không phát sinh hiệu lực pháp luật, phần chi
phí người này đã bỏ ra để thực hiện điều kiện (nếu có) được hoàn trả từ di sản thừa kế và
22
trở thành di sản thừa kế của chính người này”.
3.2.1.3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về yếu tố tự nguyện trong di chúc
Thứ nhất, cần quy định rõ di chúc được lập do lừa dối, cưỡng ép, đe doạ không hợp pháp.
Thứ hai, cần thay đổi quy định về loại di chúc được lập do lừa dối, cưỡng ép, đe doạ
theo hướng bớt cứng nhắc, cụ thể: “Di chúc được lập do bị lừa dối là không hợp pháp,
thành việc làm chứng”.
Thứ tư, di chúc được lập bởi công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực. Khoản
2 Điều 636 BLDS năm 2015 cần phải bổ sung như sau: “Trường hợp người lập di chúc