Luận án Tiến sĩ Văn học: Kịch bản chèo đầu thế kỷ XX - Truyền thống và biến đổi - Pdf 58

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ BÍCH HẠNH

KỊCH BẢN CHÈO ĐẦU THẾ KỶ XX - TRUYỀN THỐNG
VÀ BIẾN ĐỔI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Hà Nội, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ BÍCH HẠNH

KỊCH BẢN CHÈO ĐẦU THẾ KỶ XX - TRUYỀN THỐNG
VÀ BIẾN ĐỔI
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 9.22.01.21

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHAN TRỌNG THƢỞNG

Hà Nội, năm 2019

LỜI CAM KẾT
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án ...................................................3
2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án ..................................................................3
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án .................................................................4
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án ....................................................4
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu của luận án ................................................................4
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án ....................................................................6
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án ...............................6
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án...............................................................7
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án .............................................................8
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận án ...........................................................................8
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận án ........................................................................8
7. Cấu trúc của luận án ............................................................................................8
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ...................................9
1.1. Lịch sử chèo cổ và việc xác định kịch bản sân khấu với tƣ cách là một thể
loại văn học dân tộc .................................................................................................9
1.2. Tình hình nghiên cứu về chèo truyền thống ...................................................13
1.2.1. Những nghiên cứu về nguồn gốc của chèo truyền thống .........................13
1.2.2. Những nghiên cứu về đặc trƣng nghệ thuật của chèo truyền thống .........18
1.2.3. Những nghiên cứu về kịch bản chèo truyền thống ...................................22
1.3. Tổng quan tình hình nghiên cứu về Nguyễn Đình Nghị và chèo cải lƣơng ...33
1.3.1. Những quan điểm về sự cách tân trong chèo cải lƣơng của Nguyễn Đình
Nghị ....................................................................................................................34
1.3.2. Những đánh giá về thành công - hạn chế trong kịch bản chèo cải lƣơng
của Nguyễn Đình Nghị .......................................................................................37
Tiểu kết Chƣơng 1 ...................................................................................................40

4.1.1. Kết cấu kịch bản chèo truyền thống .......................................................106
4.1.2. Kết cấu kịch bản chèo cải lƣơng ............................................................110
4.2. Ngôn ngữ kịch bản chèo đầu thế kỷ XX.......................................................113
4.2.1. Ngôn ngữ kịch bản chèo cổ ....................................................................113
4.2.2. Ngôn ngữ kịch bản chèo cải lƣơng.........................................................121
4.3. Không gian, thời gian nghệ thuật trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX ........127
4.3.1. Không gian nghệ thuật trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX ..................127
4.3.2. Thời gian nghệ thuật trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX .....................131


Tiểu kết Chƣơng 4 .................................................................................................132
KẾT LUẬN ............................................................................................................134
TUYỂN TẬP CÁC BÀI BÁO, CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
ĐÃ CÔNG BỐ ...........................................................................................................1
PHỤ LỤC ...................................................................................................................1
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................1


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chèo ra đời và phát triển từ nghệ thuật diễn xƣớng dân gian, bắt nguồn từ trò
nhại cách nay khoảng 1.000 năm, là sản phẩm của ngƣời nông dân, phục vụ nhu cầu
giải trí của ngƣời nông dân trong các dịp lễ tết, đình đám, khao vọng. Trong hành
trình phát triển của mình, chèo từ bình diện dân gian chuyển thành bình diện sân
khấu dân tộc, phát triển mạnh mẽ tại các địa phƣơng vùng đồng bằng Bắc Bộ đến
Nghệ An, Hà Tĩnh, hình thành các phƣờng chèo tứ chiếng nhƣ: chiếng chèo Nam
(Nam Định - Thái Bình), chiếng chèo Đoài (Hà Tây), chiếng chèo Bắc (Bắc Ninh Bắc Giang), chiếng chèo Đông (Hải Dƣơng - Hƣng Yên).
1.000 năm qua, nghệ thuật chèo đã trải qua nhiều bƣớc thăng trầm. Đến đầu
thế kỷ XX, do ảnh hƣởng của các chính sách khai thác thuộc địa của Pháp, điều
kiện kinh tế - chính trị - xã hội Việt Nam có sự thay đổi mạnh mẽ, nhiều giai tầng

chức năng quản lý chuyên ngành nhƣ Bộ Văn hóa, Cục Nghệ thuật, Hội Nghệ sĩ sân
khấu, Hội Nhà văn cũng không nắm đƣợc số lƣợng tác gia sân khấu nói chung, tác
gia kịch hát nói riêng và có bao nhiêu kịch bản ra đời trong từng giai đoạn. Về
phƣơng diện tác gia và kịch bản kịch hát thế kỷ XX coi nhƣ còn bỏ trống. Đây là
khó khăn lớn nhất đối với những ngƣời đầu tiên đi vào lĩnh vực này, thật vô tiền
khoáng hậu.” [107, tr.7]
Khi nghiên cứu về chèo đầu thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu chủ yếu nghiên
cứu về chèo văn minh, chèo cải lƣơng và soạn giả Nguyễn Đình Nghị mà quên mất
rằng vào đầu thế kỷ XX, chèo cổ hay chèo sân đình vẫn tồn tại ở các vùng quê.
Chèo cổ cũng có sự biến đổi nhƣng không đáng kể, rõ rệt. Năm 1905, chèo cổ bắt
đầu rời quê về Hà Nội, sau đó là các thành phố, thành thị khác nhƣ Hải Phòng, Thái
Bình... Năm 1908, rạp hát chèo đƣợc xây dựng. Từ một thể loại chèo cổ, đến đầu
thế kỷ XX, chèo tách dòng thành hai loại chèo cùng song song tồn tại: Từ năm
1913-1924 là sự tồn tại của chèo cổ tại các vùng quê và chèo văn minh tại các thành
thị. Sau khi chèo văn minh chết yểu, từ năm 1924 đến trƣớc 1945 là sự tồn tại của
chèo cổ (ở quê) và chèo cải lƣơng (ở thành thị). Chèo văn minh là loại chèo lai tạp,
pha tuồng, không tạo đƣợc dấu ấn gì khi đó và sau này. Chèo cải lƣơng phát triển
mạnh, cũng lai tạp (lai kịch nói về nghệ thuật biểu diễn), trở thành một phong trào,
một cuộc cách mạng về nghệ thuật chèo. Cùng song song tồn tại trong một giai
đoạn lịch sử, mặc nhiên hai loại chèo quê - phố, cũ - mới, tức chèo cổ và chèo cải
lƣơng đã trở thành đối tƣợng của văn học so sánh. Vì vậy tính cấp thiết của đề tài
bao gồm:
- Về lý luận, dù “kịch bản là linh hồn của vở diễn”, là tiền đề để có những vở
diễn trên sân khấu nhƣng thời gian qua, các nhà nghiên cứu chèo thƣờng nghiêng về
hƣớng nghiên cứu chèo ở loại hình sân khấu, nghệ thuật biểu diễn, ít ngƣời nghiên
cứu về mặt văn học của kịch bản chèo. Việc nhìn nhận kịch bản chèo là sân khấu
hay văn học đang có khoảng trống về lý luận. Luận án đi sâu vào nghiên cứu kịch
bản chèo, xem xét tính văn học, giá trị văn học của kịch bản chèo.
- Về thực tiễn khảo tả văn bản chèo, chèo cải lƣơng là hiện tƣợng đặc biệt,
nhiều thành tựu trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX. Thực tiễn lịch sử

2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án
Do sự tác động mạnh mẽ của văn hóa, văn học phƣơng Tây, mọi thể loại,
loại hình văn học Việt Nam đều vận động, đổi thay trong đó có kịch bản chèo. Mục
đích khoa học của luận án là qua so sánh kịch bản chèo cải lƣơng với kịch bản chèo
cổ để phân tích mặt đƣợc (phát triển, làm giàu thêm) và mặt mất (không còn đặc
trƣng, đặc sắc của loại hình chèo) của Nguyễn Đình Nghị.
Luận án góp phần làm sáng tỏ quá trình vận động của kịch bản chèo. Những
cái đƣợc và mất khi cách tân ở nửa đầu thế kỷ XX. Từ đó, gợi ra suy nghĩ, các yêu
cầu cách tân các loại hình văn học nghệ thuật truyền thống.
3


Từ trƣờng hợp cách tân chèo của Nguyễn Đình Nghị với những mặt đƣợc,
mất nhƣ thế có thể rút ra kinh nghiệm, bài học gì cho việc cách tân các loại hình
nghệ thuật dân tộc truyền thống của chúng ta hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Tổng hợp các tƣ liệu để khái quát về sự biến đổi của các loại hình văn học nghệ thuật đầu thế kỷ XX dƣới tác động của văn hóa Pháp và văn minh phƣơng Tây
và những ảnh hƣởng của điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội, sự đổi mới của các
loại hình văn học - nghệ thuật khác dẫn đến việc đổi mới kịch bản chèo.
Lựa chọn kịch bản chèo để nghiên cứu, phân tích. Luận án nghiên cứu về cấu
trúc tự sự của kịch bản chèo đầu thế kỷ XX. So sánh, chỉ rõ những đặc điểm riêng
biệt, những yếu tố truyền thống và biến đổi của kịch bản chèo truyền thống, chèo
cải lƣơng về mặt cấu trúc tự sự nhƣ: cốt truyện, kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ, không
gian, thời gian.
Phân tích, so sánh, chỉ ra những xu hƣớng đổi mới trong kịch bản chèo đầu
thế kỷ XX về các bình diện: xu hƣớng bác học hóa, xu hƣớng tiếp cận chủ nghĩa
hiện thực, xu hƣớng hài hóa và xu hƣớng gia tăng xung đột kịch.
Khái quát, đánh giá ý nghĩa của vấn đề đã nghiên cứu, tìm hiểu về các yếu tố
truyền thống và cách tân trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án

hiện đại.
Kịch bản chèo cổ, kịch bản chèo văn minh, kịch bản chèo cải lƣơng là đối
tƣợng nghiên cứu của luận án. Tuy nhiên, kịch bản chèo văn minh không có sự biến
đổi rõ rệt so với chèo cổ. Kịch bản chèo cổ đã ra đời và tồn tại từ trƣớc đó, nên với
tên đề tài: “Kịch bản chèo đầu thế kỷ XX - Truyền thống và biến đổi”, chúng tôi xác
định kịch bản chèo đầu thế kỷ XX là kịch bản chèo cải lƣơng. Đối tƣợng nghiên cứu
của luận án là kịch bản chèo cải lƣơng, cụ thể là kịch bản chèo cải lƣơng của
Nguyễn Đình Nghị. Chèo cổ đƣợc đƣa ra đối sánh với chèo cải lƣơng để biết chèo
cải lƣơng đã biến đổi nhƣ thế nào?
Về phạm vi khảo sát, đối với kịch bản chèo cổ, chúng tôi chọn 7 kịch bản
chèo trong cuốn Tuyển tập Chèo cổ (Nxb Sân khấu xuất bản năm 1999) do PGS Hà
Văn Cầu sƣu tầm và chú thích gồm: Quan Âm Thị Kính, Trương Viên, Lưu Bình Dương Lễ, Kim Nham, Chu Mãi Thần, Tôn Mạnh - Tôn Trọng, Từ Thức (các kịch
bản chèo cổ này mới có sự biên tập, hiệu đính, chú thích, chƣa có việc chỉnh lý, cải
biên) làm văn bản chính thức để triển khai nghiên cứu.
Phong trào chèo cải lƣơng đã tạo nên tên tuổi nhiều soạn giả nhƣ Nguyễn
Quang Oánh, Đỗ Thân, Phan Chu Sĩ, Nguyễn Ngọc Châu, Văn Tâm, Nguyễn Thúc
Khiêm, Nguyễn Đình Nghị, Nguyễn Văn Tôn, Khắc Nhẫn, Hữu Kim, Trƣơng
Huyền…, trong đó Nguyễn Đình Nghị với tƣ cách là ngƣời mở đầu phong trào chèo
cải lƣơng, nổi bật lên nhƣ một tài năng lớn, một nhà cách tân, một ngƣời gắn bó với
sự phát triển nghệ thuật chèo Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX. Vì vậy, về
kịch bản chèo cải lƣơng, ngƣời viết chọn 60 kịch bản chèo của Nguyễn Đình Nghị
mà nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Hiền đã thống kê, đặc biệt là 34 tác phẩm đã
đƣợc in thành sách trong hai cuốn: Tuyển tập Chèo cải lương Nguyễn Đình Nghị (3
5


tập) do Cục Nghệ thuật Sân khấu xuất bản năm 1994 và Văn học Việt Nam thế kỷ
XX (Kịch bản chèo 1900-1945) quyển 6 tập 1 do Nxb Văn học xuất bản năm 2006.
Cả 2 cuốn sách này đều do Lê Thanh Hiền dày công sƣu tầm và biên soạn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án

Ngoài ra, luận án còn sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu xã hội học để nghiên
cứu thị hiếu khán giả đƣơng thời.
6


5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Đi vào nghiên cứu chuyên sâu về kịch bản chèo đầu thế kỷ XX, luận án đã
khảo sát, phân tích, đánh giá những thành tựu và hạn chế của chèo cải lƣơng và vai
trò của Nguyễn Đình Nghị trong phát triển sân khấu chèo. Luận án đã góp phần làm
sáng tỏ một số nội dung sau:
Qua khảo sát, nghiên cứu, phân tích, chúng tôi thấy rằng, yếu tố truyền thống
và yếu tố biến đổi trong các kịch bản chèo cải lƣơng đƣợc xác định nhƣ sau:
Nguyễn Đình Nghị đã có những cải cách về nghệ thuật biểu diễn, với chủ trƣơng
làm cho chèo giống nhƣ kịch Thái Tây, khiến chèo cải lƣơng biến đổi, lai tạp. Tuy
nhiên, trong sự biến đổi, cách tân ấy, chèo cải lƣơng vẫn giữ đƣợc các yếu tố truyền
thống của chèo cổ, vẫn đậm chất chèo. Chèo cải lƣơng kế thừa truyền thống, vẫn
giữ đƣợc yếu tố truyền thống về mặt văn bản là cấu trúc tự sự. Chèo cải lƣơng biến
đổi với đặc điểm nổi bật là tiếp nhận kịch cổ điển Pháp đầu thế kỷ XX, gia tăng
xung đột kịch trên mạch bố cục của chèo truyền thống. Biến đổi lớn nhất của kịch
bản chèo cải lƣơng là tiếp nhận trào lƣu chủ nghĩa hiện thực của văn học Việt Nam
đầu thế kỷ XX. Luận án đã chỉ ra ở kịch bản chèo cải lƣơng, yếu tố bác học gia tăng
nhiều hơn kịch bản truyền thống. Chèo cải lƣơng đƣợc hài hóa triệt để. Nếu nhƣ
chèo truyền thống chỉ có các trò hài thì chèo cải lƣơng đã có những vở hài. Điểm
quan trọng nhất là chèo cải lƣơng có sự thay đổi về phƣơng thức sáng tạo - đó là
bƣớc ngoặt lịch sử.
Luận án đã nghiên cứu toàn diện kịch bản chèo đầu thế kỷ XX trong đối sánh
với chèo cổ. Chúng tôi đã phân tích, đánh giá, hệ thống đầy đủ, toàn bộ những yếu
tố quan trọng cấu thành nên cấu trúc tự sự trong kịch bản chèo cổ và kịch bản chèo
cải lƣơng nhƣ cốt truyện, kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ, không gian, thời gian, mang
đến cái nhìn tổng hợp, khái quát về kịch bản chèo đầu thế kỷ XX, thực chất là kịch

chèo cải lƣơng trong nghệ thuật sân khấu chèo.
Nêu đƣợc khá đầy đủ, toàn diện về kịch bản chèo từ khi chèo cổ ra đời đến
năm 1945, luận án giúp thêm cho những nhà nghiên cứu, những ngƣời viết kịch bản
chèo hình dung và nhận diện rõ nét hơn diện mạo của kịch bản chèo cổ, kịch bản
chèo cải lƣơng, phân biệt và định hƣớng đƣợc các loại kịch bản chèo. Những ngƣời
muốn viết kịch bản chèo cần phải có những yếu tố, chất liệu gì. Luận án giúp thêm
cho ngƣời sáng tác kịch bản chèo nắm chắc đâu là yếu tố truyền thống, đâu là yếu tố
cách tân trong chèo, những yếu tố nội sinh, ngoại nhập để có những kỹ thuật, lý
luận đúng đắn khi sáng tác kịch bản chèo. Thực chất, những kịch bản chèo sáng tác
mới đều mang những yếu tố song hành là truyền thống và đổi mới.
7. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận án có
cấu trúc gồm 4 chƣơng:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Giao lưu văn hóa Đông - Tây và những xu hướng cách tân
kịch bản chèo đầu thế kỷ XX
Chương 3: Nhân vật và cốt truyện trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX
Chương 4: Kết cấu, ngôn ngữ, không gian và thời gian nghệ thuật trong
kịch bản chèo đầu thế kỷ XX
8


CHƢƠNG 1:
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Lịch sử chèo cổ và việc xác định kịch bản sân khấu với tƣ cách là một thể
loại văn học dân tộc
Nghệ thuật gồm 7 loại hình cơ bản là kiến trúc, điêu khắc, hội họa, văn học,
âm nhạc, sân khấu và điện ảnh. Trong hệ thống 7 loại hình nghệ thuật, văn học giữ
vị trí quan trọng bởi nó đƣợc sử dụng để thể hiện nhiều loại hình nghệ thuật khác
nhƣ sân khấu, âm nhạc, điện ảnh…

về diễn ở sân đình, ở các làng quê. Do thái độ kỳ thị nhiều thế kỷ trƣớc đó nên dù
có lịch sử lâu đời, dƣới thời phong kiến hầu nhƣ không có những trƣớc tác nghiên
cứu về sân khấu, đặc biệt là chèo.
Theo tài liệu của Nhà hát chèo Việt Nam, ngƣời sáng lập ra chèo là bà Phạm
Thị Trân - một vũ ca tài ba thời nhà Đinh vào thế kỷ 10 và kinh đô Hoa Lƣ - Ninh
Bình xƣa đƣợc coi là đất tổ của sân khấu chèo.
Sử sách cũ ghi rằng, từ thời Lý, hát chèo ở Thăng Long đã rất phát triển.
Chèo có mặt trong các lễ tết, những cuộc vui ở kinh thành. Đặc biệt các tầng lớp
vua, quan, quí tộc rất mê hát chèo. Theo sách Việt sử thông giám cương mục do
Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, tháng 6/1028, vua Lý Thánh Tông sai gọi
phƣờng chèo đến múa hát mừng sinh nhật nhà vua. Sau, lễ sinh nhật của các vua Lý
đƣợc tổ chức thành ngày hội lớn ở kinh thành Thăng Long, bao giờ cũng có phƣờng
chèo, phƣờng hát biểu diễn, kèn sáo, múa hát tƣng bừng. Bia Sùng Thiện diên linh
(năm 1121) chép tỉ mỉ về đội múa chèo của Thiên vƣơng nhƣ sau: “… Ở giữa bậc
dƣới, những cô gái tiến hƣơu vàng, nhạc quan đứng thành hàng dƣới sân nhảy hát
một lúc…”.
Cuối đời Lý (năm 1182), sử sách còn ghi chép lại một trò nhại trực tiếp châm
biếm tính hống hách của Đỗ An Thuận - viên thái sử thời đó. Sách An Nam chí lược
ghi chép về cảnh sinh hoạt văn hóa, văn nghệ nhộn nhịp trong cung vua Trần cho
thấy, vào ngày “tất niên” (hết năm), vua Trần ra ngự ở cửa Đoan Cung để bách quan
lạy mừng. Các phƣờng chèo, phƣờng hát tới diễn mừng vua ở đấy. Từ Đạo Hạnh ở
thời Lý, Trần Nhật Duật ở thời Trần đều là những ông quan đam mê hát chèo. Từ
Đạo Hạnh đƣợc coi là tác giả của bài “Giáo trò” quen thuộc mà các phƣờng chèo
Thăng Long - Hà Nội và nhiều nơi khác còn lƣu truyền:
Trình làng trình chạ
Thƣợng hạ Tây Đông
Tứ cảnh hòa trung
Nghe tôi giáo trống
Trƣờng không phong động
Cũng bởi trống tôi

vốn tồn tại nhƣ một tổng thể các ký hiệu - động tác, một hệ thống ngôn ngữ biểu
đạt. Nguyên tắc tứ tƣơng là một trong những biểu hiện tính hệ thống của động tác
trong sân khấu kịch hát truyền thống. Hệ thống động tác bị chi phối bởi nguyên tắc:
Thƣợng hạ tƣơng phù: động tác phải có trên - dƣới, gốc - ngọn, đầu - đuôi, tiến - lui,
để tạo nên một chỉnh thể.
Tả hữu tƣơng ứng: động tác có phải - trái, trƣớc - sau kết hợp, tạo nên sự hài hòa.
Phì sấu tƣơng chế: Sự hài hòa tạo nên bởi sự tƣơng phản giữa động tác dày
và mỏng, rộng và hẹp.
Nội ngoại tƣơng quan: tƣơng quan giữa nội tâm - ngoại hình nhân vật, giữa
con ngƣời và thiên nhiên.
Những nguyên tắc tạo hình trong nghệ thuật diễn xuất mang đậm màu sắc
triết lý. Nguyên tắc tứ tƣơng này cũng có thể gặp ngay trong Hý khúc Trung Quốc.
Cái đẹp từ sự cân đối: trƣớc - sau, phải - trái, trên - dƣới, từ sự hài hòa bên trong bên ngoài, vật chất - tinh thần v.v… trong hệ thống động tác diễn xuất sân khấu, thể
11


hiện cách nhìn vũ trụ - con ngƣời trong tính tổng hợp hữu cơ các quan hệ của nó.
Tuy nhiên, cho đến nay, chƣa ai nhìn thấy văn bản này nên thời gian qua đã
dấy nên sự tồn nghi về sự có mặt của Hí phường phả lục. TS Trần Đình Ngôn xác
nhận sách Hí phường phả lục là thật với nhiều nhân chứng nhìn thấy nó gồm GS.
Trần Bảng, nhà nghiên cứu Hoàng Kiều và PGS. Hà Văn Cầu. Bản in khắc gỗ Hí
phường phả lục sƣu tầm đƣợc ở Thái Bình, trên đó ghi rõ năm xuất bản sách là năm
Cảnh Thống Tân Dậu 1501. Sau này, Nhà hát Chèo Việt Nam đã dịch Hí phường
phả lục, in roneo. GS. Trần Bảng là ngƣời duyệt sách nên ông đã đọc cả hai bản
bằng chữ Hán và chữ quốc ngữ. Do trƣớc đây chƣa có phƣơng tiện photocopy nên
chỉ có mình PGS. Hà Văn Cầu chép tay bản Hí phường phả lục. Cụ Cầu đã chép hai
bản, một bản cụ giữ, còn một bản đem tặng GS. Trần Quốc Vƣợng. Còn bản gốc và
bản dịch Hí phường phả lục Nhà hát chèo Việt Nam lƣu giữ sau bị mối mọt xông
hết.
Sau Hí phường phả lục, gần 300 năm sau, danh sĩ Phạm Đình Hổ (1768 1839) mới viết Vũ Trung tùy bút với đôi dòng rải rác nhắc đến hoạt động sân khấu.

thích: “Trong những thể loại văn Nôm nghiên cứu trong sách này chúng tôi không
kể đến những loại sân khấu. Trong các loại sân khấu, duy chỉ có lối thoại kịch là
đáng coi làm tác phẩm văn học, còn những lối ca kịch (trong đó ca, nhạc, vũ cùng
kỹ thuật sân khấu là yếu tố căn bản để gây hứng thú, văn chƣơng lui xuống địa vị
phụ) không nên đặt vào văn học là lĩnh vực của tụng độc hoặc ngâm nga. Xét sân
khấu ta xƣa thì không hề có thoại kịch. Hai loại chính là tuồng và chèo đều là ca vũ
kịch. (Cứ xét lời bình dân thƣờng nói đi coi hát). Cho nên mặc dầu các bản tuồng
chèo ta có sử dụng đủ các thể cách văn Hán văn Nôm, mà không thể thành một loại
văn học, và việc nghiên cứu nên đặt ngoài địa hạt văn học sử - trừ vài trƣờng hợp
đặc biệt mà chúng tôi sẽ đề cập sau”. [183, tr.45]. Sau đó, ông đi đến nhận định,
trong những thể cách của quốc văn xƣa vắng bóng văn xuôi. Văn Nôm chỉ là văn
vần hoặc biền ngẫu.
Đầu thế kỷ XX, với sự phát triển rầm rộ của báo chí, các loại hình nghệ
thuật, cùng với phong trào chèo văn minh, chèo cải lƣơng đã xuất hiện một số bài
viết và công trình của các tác giả nhƣ: Nguyễn Học Đạo, Lê Kim Giang, Chu Ngọc
Phi, Paulus Của, Nguyễn Thúc Khiêm.... Những công trình này chủ yếu là sƣu tầm,
sáng tác và giới thiệu các tác phẩm chèo.
1.2. Tình hình nghiên cứu về chèo truyền thống
1.2.1. Những nghiên cứu về nguồn gốc của chèo truyền thống
Về nguồn gốc của chèo truyền thống, qua các ý kiến từ các bài viết và công
trình nghiên cứu, có thể chia ra làm 4 nhóm: Nhóm ý kiến thứ nhất cho rằng chèo
có nguồn gốc du nhập từ nƣớc ngoài vào. Nhóm ý kiến thứ hai cho rằng “chèo đọc
chệch từ chữ trào nghĩa là giễu cợt mà ra”. Nhóm ý kiến thứ ba cho rằng chèo có
nguồn gốc từ các hình thức tôn giáo, tế lễ, lao động. Nhóm thứ tƣ cho rằng chèo là
hình thức sân khấu thuần tuý dân tộc, bắt nguồn từ kho tàng văn hoá nghệ thuật dân
gian phong phú, lâu đời Việt Nam.
Nhóm ý kiến thứ nhất cho rằng chèo có nguồn gốc ngoại lai, du nhập từ nƣớc
ngoài vào bắt đầu từ sự kiện quân nhà Trần cầm giữ nghệ nhân Lý Nguyên Cát ở
trận Tây Kết. Trở thành tù binh, Lý Nguyên Cát đƣợc dùng vào việc dạy hát múa
cho một số đào kép Việt Nam trong quá trình dựng vở Tây Vương Mẫu hiến bàn

bật cƣời của ngƣời đời cố ra làm vui để xem cho thỏa thích, để dạy ngƣời ta răn
chừa”. [134, tr.31].
Công trình Khảo cứu về hát tuồng và chèo bƣớc đầu đã đƣa ra những tìm tòi
nghiên cứu, kiến giải về nguồn gốc sự hình thành của tuồng và chèo. Dù là nhà soạn
vở đầu thế kỷ XX, Nguyễn Thúc Khiêm mới lý giải về nguồn gốc của chèo một
cách đơn giản. Ông chƣa bàn đến kỹ thuật biểu diễn, thể loại sân khấu hoặc phƣơng
pháp xây dựng nhân vật. Mặt âm nhạc, ông nhấn vào giá trị văn học của những câu
hát chèo.
Tháng 8/1958, trong bài viết Tìm hiểu về chèo tạp chí Văn nghệ số 15 xuất
14


bản, Cao Kim Điển tán thành những ý kiến của Trần Huyền Trân và Trần Bảng và
kết hợp với các ý kiến của các lão nghệ nhân mà cho rằng “chèo là do tiếng trào mà
ra”. Trong bài Một số đặc điểm của Chèo cổ đăng trên Báo Tổ quốc số 48, tháng
12/1956. Trần Huyền Trân viết: “Chèo là do chữ “trào” đọc chệch ra, “tuy gọi là cổ
truyền nhƣng thực sự đang trên đà phát triển nghệ thuật, tuy đã trình thức hóa
nhƣng cũng rất linh hoạt, nhiều chất tự do”. Theo Trần Huyền Trân, chèo có từ đời
Trần, khoảng thế kỷ XIII, khi Nguyễn Sĩ Cố và Hàn Thuyên phát triển chữ Nôm,
lấy dân ca, dân vũ, dân nhạc làm nền tảng. Ông cũng đề cập đến quá trình phát triển
của chèo nhƣng nhấn mạnh về sự hình thành các làn điệu và phƣơng pháp vận dụng
chúng.
Nhóm ý kiến thứ ba cho rằng chèo có nguồn gốc đƣợc bắt nguồn từ các hình
thức tôn giáo, tế lễ, từ “động tác chèo thuyền” để nói nguồn gốc chèo xuất phát từ
trò tang lễ và lao động. Nhà nghiên cứu Vũ Khắc Khoan trong cuốn Tìm hiểu sân
khấu chèo cho rằng: “Nguồn gốc của chèo là một nền ca vũ cổ sơ của dân tộc
thƣờng biểu diễn trong dịp tang lễ thời trƣớc, lời ca than vãn là lời biệt ly và tiễn
đƣa ngƣời quá cố, điệu vũ hình dung những động tác chèo thuyền, chiếc thuyền
thần thoại chở linh hồn ngƣời chết sang thế giới bên kia. Chèo nhƣ một nghệ thuật
sân khấu đƣợc phát triển trên cơ sở của nền ca vũ đó, bằng cách tiếp thu thêm nhiều

nƣớc. Chữ chèo là một động từ chỉ hoạt động gạt nƣớc bằng mái chèo làm cho
thuyền chuyển động. Theo quan niệm cổ, thế giới của ngƣời sống và ngƣời chết
ngăn cách nhau bởi một con sông. Khi tiễn ngƣời chết về thế giới bên kia, ngƣời
xƣa thƣờng làm động tác chèo thuyền có kèm theo lời hát để đƣa ngƣời chết qua
sông. Những diệu hát đó ngƣời ta gọi chung là chèo. Đây là cơ sở để chèo có tên
nhƣ ngày nay.
Nhóm ý kiến thứ tƣ cho rằng chèo là hình thức sân khấu thuần tuý dân tộc,
bắt nguồn từ kho tàng văn hoá nghệ thuật dân gian phong phú, lâu đời Việt Nam.
Hai tác giả Hoàng Ngọc Phách và Huỳnh Lý khi giới thiệu cuốn Chèo và Tuồng,
viết rằng: “Chỉ đối chiếu hình thái diễn Chèo cổ truyền và trình độ văn hóa của dân
tộc ta đời Lý Trần, cũng có thể thấy rằng, nghệ thuật diễn Chèo là thuần túy dân tộc,
có từ lâu đời và đƣợc xây dựng từ các hình thái diễn trò thấp nhất đời cổ sơ lên, chứ
không phải là môn nhập cảng”. [215, tr.42].
Các tác giả Trần Việt Ngữ và Hoàng Kiều trong cuốn Bước đầu tìm hiểu sân
khấu Chèo thì cho rằng: “Bắt nguồn từ những hình thức cổ sơ có trƣớc thời Đinh,
Lê, Lý, bao gồm những làn dân ca, điệu dân vũ đầy màu sắc, sức sống và những làn
hát nói kể chuyện phong phú, sinh động của những đội hát rong, chèo đƣợc hình
thành với hai tính chất chủ yếu là tính tích diễn và tính ứng diễn, để trở thành một
loại sân khấu độc đáo, tuy còn thô sơ, vào khoảng thế kỉ XIV cuối đời Trần [185,
tr.204].
PGS Hà Văn Cầu trong cuốn Quá trình hình thành và phát triển của nghệ
thuật chèo cũng đã nêu thời kì hình thành Chèo từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV và khẳng
định: “Chèo ra đời từ thời Đinh. Chèo là nghệ thuật dân gian đƣợc xây dựng trên cơ
sở trò nhại, múa và hát dân gian”. Và sau đó khẳng định: “Nghệ thuật chèo là một
hình thức tự sự sân khấu dân gian lấy trò nhại và ca múa dân gian làm cơ sở. Nó là
nghệ thuật của ngƣời nông dân đồng bằng Bắc bộ Việt Nam”.
Các nhà nghiên cứu nhƣ Lộng Chƣơng, Lƣu Quang Thuận, Trần Bảng cũng
16



nhà Trần. Theo Phạm Đình Hổ, triều nhà Trần hễ có quốc tang, lúc sắp rƣớc tử cung
đến sơn lăng để an táng, dân sự phố phƣờng xúm quanh lại xem, vòng trong vòng
ngoài chật ních cả chốn điện đình, không thể rƣớc đi đƣợc. Ngƣời dẹp đám mới bắt
chƣớc lối vãn ca đời cổ, đặt ra khúc hát Long ngâm, hiệp vào âm luật, sai quân lính
đi hát diễu chung quanh đƣờng; nhân dân đổ xô, xúm xít theo đi xem, nhƣ thế mới
rƣớc tử cung xuống thuyền đƣợc. Đời sau bắt chƣớc làm lối hát vãn, mỗi năm cứ
17


đến rằm tháng bảy, những nhà tang gia cho gọi phƣờng hát đến hát, để giúp lễ
tế ngu. Tiếng hát bi ai, nghe rất cảm động. Phƣờng hát này tục gọi là trạo
phƣờng, còn có tên khác là phƣờng chèo bội. Tên chèo chính là xuất phát từ đây.
Có sức thuyết phục hơn cả là quan điểm chèo và tuồng có chung nguồn gốc
từ nền diễn xƣớng dân gian dân tộc với các trò diễn cổ. Trong cuốn Sơ khảo lịch sử
nghệ thuật tuồng, nhà nghiên cứu Hoàng Châu Ký cho rằng: “Hát chèo, tuồng đã
manh nha từ đời Tiền Lê, qua các đời Lý - Trần, đến đời Hậu Lê thì đã trở thành
những ngành nghệ thuật sân khấu quen thuộc với đông đảo công chúng” [115,
tr.180]
PGS. Hà Văn Cầu trong nhiều cuốn sách của mình đã giới thiệu, trích dẫn 3
tài liệu quý mà ông có trong tay gồm Hý phường phả lục của Lƣơng Thế Vinh, Đả
cổ lục (Ghi chép lối đánh trống chèo) - tác giả khuyết danh và Việt sử thông giám
cương mục có ghi về thời Hồng Đức (1470-1496). Từ đó, ông kết luận, thời kỳ hình
thành của chèo cổ là từ thế kỷ X, cụ thể là vào thời Đinh với hai hình thức chủ yếu
là hình thức “làm trò” của quân đội và hình thức “làm trò” của nhân dân, với những
trò diễn của các vai: Sinh, đào, lão, mụ, hề. Thực tế thì thời Đinh chƣa có các mô
hình vai diễn này. Mô hình này chỉ có khi tiếp nhận các tích trò của Lý Nguyên Cát.
Trong giáo trình giảng dạy về lịch sử chèo tại Trƣờng Đại học Sân khấu và
Điện ảnh, nhà nghiên cứu Hà Văn Cầu với các cứ liệu lịch sử đã chứng minh giả
thuyết của mình: Chèo bắt nguồn từ “trò nhại” và múa hát dân gian Việt Nam chứ
không phải do Lý Nguyên Cát - ngƣời con hát trong quân Nguyên, một tù binh thời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status