VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ THỊ GIANG
XUNG ĐỘT VĂN HÓA TRONG TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ
NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI, 2019
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ THỊ GIANG
XUNG ĐỘT VĂN HÓA TRONG TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ
NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN NAY
Ngành : Văn học
Mã số : 9.22.01.21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp
2. TS Cao Kim Lan
Luận án có kế thừa và sử dụng một số tài liệu đã công bố có liên quan đến đề
tài để tham khảo. Các nguồn tài liệu ấy đều được chú thích rõ ràng, chính xác.
.
Hà Nội, tháng 1 năm 2019
Tác giả
Hồ Thị Giang
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU XUNG ĐỘT VĂN HÓA ..... 7
1.1 Khái niệm văn hóa và xung đột văn hóa.................................................................. 7
1.1.1 Khái niệm văn hóa ............................................................................................ 7
1.1.2 Khái niệm xung đột văn hóa ............................................................................. 8
1.2 Tiếp cận xung đột văn hóa trên thế giới ................................................................ 12
1.3 Nghiên cứu xung đột văn hóa ở Việt Nam ............................................................ 18
1.4 Nghiên cứu xung đột văn hóa trong tiểu thuyết viết về nông thôn sau Đổi mới ... 31
CHƢƠNG 2. XUNG ĐỘT VĂN HÓA VÀ SỰ THỂ HIỆN XUNG ĐỘT VĂN
HÓA TRONG VĂN HỌC............................................................................................. 37
2.1 Xung đột văn hóa trong văn học ............................................................................ 37
2.2 Xung đột văn hóa nhìn từ các hình thức diễn ngôn ............................................... 40
2.2.1 Xung đột văn hóa nhìn từ diễn ngôn chủ nghĩa dân tộc ................................. 40
2.2.2 Xung đột văn hóa nhìn từ diễn ngôn phương thức sản xuất ........................... 46
2.2.3 Xung đột văn hóa nhìn từ diễn ngôn chấn thương .......................................... 49
2.2.4 Xung đột văn hóa nhìn từ diễn ngôn nữ quyền ............................................... 55
2.3 Xung đột văn hóa – nhìn trong tiểu thuyết viết về nông thôn sau Đổi mới........... 57
2.3.1 Trường tri thức thời đại và ý thức hệ .............................................................. 57
2.3.2 Sự đổi mới tư duy tiểu thuyết .......................................................................... 58
2.3.3 Những động hình mới của diễn ngôn xung đột văn hóa ................................. 60
4.4.1 Sự xâm lấn của thành thị đối với nông thôn ................................................. 126
4.4.2 Chất vấn sinh thái: xung đột nông thôn – thành thị ..................................... 129
4.4.3 Mơ hồ hóa không gian nông thôn – thành thị ............................................... 133
4.5 Xung đột văn hóa Đông – Tây ............................................................................. 137
4.5.1 Diễn ngôn giao thoa chính trị và văn hóa .................................................... 137
4.5.2 Hòa giải xung đột văn hóa Đông - Tây ........................................................... 141
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 148
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC TÁC PHẨM KHẢO SÁT
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghiên cứu văn học hiện nay có những chuyển mình theo hệ hình nghiên cứu văn
hóa. Hướng nghiên cứu này không hề mâu thuẫn với nghiên cứu văn bản và vẫn gắn
với bản chất văn học. Các nhà nghiên cứu tập trung nhiều hơn đến việc lí giải quan
niệm về cái đẹp, điển phạm, ý thức hệ và cơ chế tạo nên các mã nghệ thuật đặc thù, về
sự loại bỏ hay tiếp nhận, dung nạp hay kháng cự các giá trị. Trong đó, chủ thể yếu thế
được quan tâm đặc biệt. Diễn ngôn khuyết tật, lưu vong, chấn thương xuất hiện sâu sắc
trong các tác phẩm văn học. Văn học thường xâm nhập vào chiều kích tâm linh, vào
trạng thái bất an, tiếc nuối, vào những mâu thuẫn giữa thật - giả, sinh kế - xa lạ, phá bỏ
- trở về. Khi đó, nông thôn Việt Nam có thể xem là một thực thể văn hóa yếu thế/bị tổn
thương trong thời kì đô thị hóa, toàn cầu hóa. Đứng trước “cơn địa chấn” đất đai, tiền
bạc, quyền lực, nông thôn “oằn mình” chống đỡ để thích nghi và giữ gìn các giá trị.
Quá trình thâm nhập giữa truyền thống và hiện đại, quá khứ và hiện tại, cái tự nhiên và
cái văn minh, giá trị nguồn cội và mất kí ức diễn ra mạnh mẽ trong lòng xã hội nông
thôn Việt Nam, làm nảy sinh xung đột văn hóa.
Ở Việt Nam, vấn đề xung đột văn hóa trước đây phần lớn được nhìn theo quan điểm
khi va chạm với quan niệm của đám đông, của thời đại. Nhìn nông thôn Việt Nam như
một thực thể văn hóa tự nó và thực thể tự nó – cái khác (nơi xuất hiện rõ nhất các mô
thức xung đột văn hóa – mà bản chất là nhu cầu đối thoại), sẽ nhận ra sự nỗ lực kiến
giải các vấn đề về phận nữ, về chấn thương, về lịch sử, về thành thị.
Thành tựu thực tế trong tiến trình văn học đã chứng minh đề tài nông thôn là một đề tài
lớn, luôn nhận được sự quan tâm sâu sắc. Nhiều tác giả và tác phẩm ghi được dấu ấn lớn
trong văn học Việt Nam, có thể kể đến một số tên tuổi ở mảng văn xuôi theo từng giai
đoạn như: Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bửu Mọc, Hồ Biểu Chánh (buổi giao thời 1900 –
1930), Kim Lân, Bùi Hiển, Trần Tiêu, Thạch Lam Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam
Cao (thời kì 1930 – 1945), Tô Hoài, Nguyễn Văn Bổng, Chu Văn, Nguyễn Khải (thời kì
1945 – 1975), Đào Vũ, Nguyễn Kiên, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn
Huy Thiệp, Lê Lựu, Dương Hướng, Võ Văn Trực, Đoàn Lê, Ngô Ngọc Bội, Tạ Duy Anh,
Đỗ Minh Tuấn, Hoàng Minh Tường, Nguyễn Ngọc Tư, … (giai đoạn từ sau 1975). Không
chỉ ghi nhận về thành quả, nhìn vào sự vận động chủ đề và lối viết của văn xuôi, chúng ta
nhận thấy sự dịch chuyển rất rõ từ khuynh hướng mô phỏng đến đối thoại, minh họa đến
chất vấn. Tìm đến văn hóa nông thôn, các nhà văn bày tỏ khát vọng được nhận thức lại đời
sống văn hóa, khám phá tâm thức nguồn cội, đối thoại về bản sắc, truyền thống.
Ý nghĩa của văn hóa không ngừng được cộng hưởng, tái sinh qua diễn biến, chuyển
động, trượt nghĩa, lưu chuyển. Văn hóa không tĩnh tại mà nó được xem là một mạng lưới
giao cắt, chồng lấn, được nhìn ở tính thời điểm, và phụ thuộc vào các mối quan hệ khác
nhau. Điều này sẽ lí giải thỏa đáng các hiện tượng văn hóa ở từng thời kì lịch sử mang đặc
trưng và diện mạo riêng. Chẳng hạn, Truyện Kiều của Nguyễn Du có cả sinh mệnh bình
dân và điển phạm. Vấn đề cái tôi cá nhân, quyền tự do dân chủ đi từ cấm đoán đến tôn
trọng; hoặc vấn đề nông thôn và thành thị, thiêng liêng và trần tục, phương Đông và
phương Tây, thế hệ trước – thế hệ sau… cũng được nhìn nhận ở trạng thái xung đột hoặc
giao thoa. Tùy thuộc vào thời điểm, trong đó có sự quy chiếu của ý thức hệ, mà giá trị văn
hóa, kiểu văn hóa được khẳng định hoặc bị phủ định. Lựa chọn xung đột văn hóa giai đoạn
từ 1986 đến nay cho phép nhìn nhận văn hóa ở tính năng động, xác định sâu hơn sự cọ xát
cũ – mới, cái tự nhiên – cái văn minh, bản sắc – ngoại lai. Đây cũng là giai đoạn có nhiều
đổi mới trong tư duy tiểu thuyết, có sự tương tác đa chiều và mở rộng về không gian, nhịp
văn hóa là một loại hình của xung đột.
Thứ hai, luận án chú trọng phân tích sự thể hiện xung đột văn hóa trong văn
học. Luận án nhìn nhận xung đột văn hóa từ các hình thức diễn ngôn khác nhau, như là
diễn ngôn chủ nghĩa dân tộc, diễn ngôn chấn thương, diễn ngôn phương thức sản xuất,
diễn ngôn nữ quyền. Tương ứng với mỗi hình thức diễn ngôn là các mô thức xung đột
văn hóa. Từ đây, luận án nhận thấy những xung đột cơ bản trong từng giai đoạn văn
học nhất định (với sự chi phối của thiết chế văn hóa – chính trị - xã hội). Việc nghiên
cứu xung đột văn hóa không xơ cứng, đông đặc, tĩnh tại trong giao tiếp một chiều như
trước đây mà có sự lí giải ở chiều sâu các vấn đề ý thức hệ, điển phạm.
Thứ ba, luận án tìm hiểu chủ thể diễn ngôn trong loại hình xung đột văn hóa:
thấy được vị trí quan sát, điểm nhìn của nhà văn và sự chi phối của quyền lực, tri thức,
tư tưởng hệ đến sự lựa chọn điểm nhìn của nhà văn. Từ đây, luận án phân tích sự chất
3
vấn văn hóa qua các mô thức xung đột xã hội mà nhà văn kiến tạo trong tiểu thuyết
viết về nông thôn.
Thứ tư, luận án phân tích xung đột quan niệm giá trị như là nội dung cơ bản, cốt
lõi của xung đột văn hóa. Luận án dựa trên các mô thức giá trị văn hóa để phân tích
khả năng kiến tạo của tiểu thuyết trên nhiều phương diện khác nhau như chủ đề, hình
tượng nghệ thuật, ngôn ngữ, không gian – thời gian..., trọng tâm là nhìn sự kiến tạo ấy
trong tương quan cái cũ – cái mới; cái đã qua – cái đang/sẽ là. Mặt khác, luận án phân
tích những tác động từ quan hệ đồng đại (nhìn từ trục ngang, trong bối cảnh hiện tại)
và quan hệ lịch đại (sự vận động của lịch sử - xã hội) với quan hệ bảo lưu/biến đổi,
điểm mạnh/thế yếu để nhận ra cơ sở tạo nên đặc điểm riêng trong cách kiến tạo văn
hóa của tiểu thuyết viết về nông thôn từ 1986 đến nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu xung đột văn hóa nông thôn thông qua tình huống lịch sử xã hội, dựa trên ý thức hệ, trường tri thức thời đại và sự thực hành tạo nghĩa trong văn
bản văn học.
phương pháp xã hội học. Lí thuyết chức năng xã hội và cấu trúc xã hội cho phép tìm
hiểu sự phân chia thế hệ, nhóm người, nguyên tắc hoạt động của các quan hệ xã hội.
Điều này soi chiếu sự khác nhau giữa mô hình nông thôn cũ – mới, truyền thống –
hiện đại dưới sự tương tác của hoàn cảnh kinh tế - chính trị - xã hội.
4.4 Phương pháp hệ thống
Luận án sử dụng phương pháp hệ thống để hệ thống hóa các tiểu thuyết viết về đề
tài nông thôn giai đoạn từ 1986 đến nay, xâu chuỗi và tìm ra hệ thống xung đột chính,
mô- típ tiêu biểu, xu hướng dịch chuyển không gian và hình tượng nổi bật. Đồng thời,
luận án đặt tiểu thuyết viết về nông thôn từ sau 1986 vào hệ thống các tiểu thuyết viết
về nông thôn để nhận ra điểm tiếp nối – phát triển, đặt vào hệ thống thi pháp tiểu
thuyết để nhận thức điểm mạnh của thể loại này trong việc kiến tạo văn hóa nông thôn
thời kì mới.
4.5 Phương pháp so sánh
Đề tài nông thôn là đề tài lớn, có sự phát triển khác nhau trong từng giai đoạn văn
học. Để làm rõ diện mạo tiểu thuyết viết về nông thôn từ 1986 đến nay, luận án phải so
sánh với giai đoạn trước 1986 để nhận ra sự kế thừa và phát huy; đồng thời, trong quá
trình thực hiện, luận án có so sánh đề tài nông thôn trong các thể loại văn học khác
nhau, trong các tác phẩm khác nhau để thấy những ưu trội của mỗi tác giả hoặc mỗi
tác phẩm.
4.6 Phương pháp loại hình
Bản chất của phương pháp loại hình là tìm hiểu cấu trúc bên trong của đối tượng và
tìm ra quy luật phát triển của nó. Phương pháp loại hình cho phép nhận diện tính cộng
đồng về mặt loại hình, đồng thời nhận ra sự khu biệt, riêng khác của các mô hình lịch
sử, văn hóa, văn học. Luận án sử dụng phương pháp này để tìm hiểu về đặc điểm tâm
lí/cấu trúc/mô hình cái tự nhiên và cái văn minh, đặc thù mô thức xung đột ở từng giai
đoạn lịch sử - xã hội; tìm hiểu, sắp xếp và phân tích các kiểu/loại xung đột văn hóa.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Đây là luận án đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu xung đột văn hóa trong tiểu thuyết
dưới góc nhìn liên ngành văn hóa học. Luận án xem nông thôn là thực thể văn hóa yếu
thế và diễn giải nó dưới các hình thức diễn ngôn.
Về mặt thực tiễn, luận án góp phần nhận thức sâu sắc hơn về đời sống xã hội, văn
hóa nông thôn thời kì hội nhập. Luận án sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai
có nhu cầu tìm hiểu mảng văn học Việt Nam sau Đổi mới.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận án được cấu trúc
thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu xung đột văn hóa
Chương 2: Xung đột văn hóa và sự thể hiện xung đột văn hóa trong văn học
Chương 3: Chủ thể diễn ngôn và sự đối thoại văn hóa qua các mô thức xung đột
xã hội
Chương 4: Xung đột văn hóa nhìn từ bình diện giá trị
6
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU XUNG ĐỘT VĂN HÓA
1.1 Khái niệm văn hóa và xung đột văn hóa
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Từ trước đến nay, hầu như khái niệm văn hóa được nhìn nhận ở dạng tương đối
ổn định, có cấu trúc vững bền, biểu hiện thành những hoạt động quen thuộc, những nếp
nghĩ sâu bền của cộng đồng người trong cuộc sống, ví dụ: quan niệm của E.B. Tylor
(năm 1871) trong công trình Primitive Culture (Văn hóa nguyên thủy, của L. Whitte
(năm 1949) trong The Science of Culture (Khoa học về văn hóa). Theo Raymond
Williams, khái niệm văn hóa mang tính “nhân học”, tập trung vào ý nghĩa thường ngày
(như giá trị - những mô hình lí tưởng trừu tượng, chuẩn mực – những quy định rõ
ràng): “một nền văn hóa luôn có hai khía cạnh: một là những ý nghĩa và chiều hướng
được biết đến, những cái mà các thành viên của nó được dạy dỗ; hai là, những quan sát
và ý nghĩa mới, những cái được đưa ra và được kiểm tra. Đây là những quá trình thông
thường của các xã hội con người và trí tuệ con người, và thông qua chúng, chúng ta
một không gian “văn hóa” đã thuần phác, còn thế giới bên ngoài trong tương quan với
nó lại được đồng nhất với vương quốc của những hiện tượng tự phát hỗn độn, rối loạn,
thì sự phân bố không gian của các tổ chức kí hiệu học trong hàng loạt trường hợp sẽ có
dạng như sau: các nhân vật nhờ có tài năng đặc biệt (như phù thủy) hoặc một loại nghề
nghiệp (thợ rèn, phó cối, đao phủ) sẽ thuộc về hai thế giới và tựa như là những thông
dịch viên, sống ở vùng lãnh thổ ngoại vi, vùng giáp ranh của không gian văn hóa và
không gian huyền thoại, trong khi đó, tọa lạc ở trung tâm bao giờ cũng là chốn linh
thiêng của các đấng thánh thần “văn hóa” tổ chức ra thế giới.” [147, tr.94].
Ở Việt Nam, trong nghiên cứu hiện đại, văn hóa cũng được nhìn nhận ở tính
năng động như thế. Trần Nho Thìn đã chọn ba thành tố căn bản khi nghiên cứu về văn
hóa, đó là biểu tượng, nghĩa và giá trị. Theo ông, biểu tượng là một tự sự về văn hóa.
Nó rất linh hoạt và sinh động: “trong cách quan niệm hiện đại không đơn thuần dừng
lại ở việc giải mã ý nghĩa của các biểu tượng mà là nghiên cứu đời sống của các biểu
tượng này trong các quan hệ xã hội. Và khi đó, “văn hóa bắt đầu được giải thích không
phải như là tổng số các mô hình hành vi (các phong tục, tập tục, truyền thống) mà như
một tập hợp các cơ chế kiểm soát hành vi (các kế hoạch, hướng dẫn, quy tắc, chỉ đạo).”
[218, tr.28]. Biểu tượng tham gia điều tiết các quan hệ xã hội, cho nên, nghiên cứu biểu
tượng không phải là giải mã ý nghĩa ban đầu của nó, mà là “nỗ lực theo dõi đời sống
của kí hiệu này trong môi trường của các quan hệ xã hội”; không phải là khám phá kho
lưu giữ các nghĩa mà là lí giải “sức mạnh tham dự vào những thay đổi của trường xã
hội”. Như vậy, có thể giới thuyết một cái nhìn về văn hóa năng động hơn trong bối
cảnh sự tương tác văn hóa diễn ra với tốc độ nhanh và đa chiều. Đó là: văn hóa vừa là
tổng thể các sinh hoạt xã hội và các hoạt động thuộc chiều sâu tinh thần được thể hiện
thành những mô thức nhất định mang bản sắc của cộng đồng người, vừa là những
tương tác ngoại vi tại các đường biên; văn hóa vừa có tính ổn định vừa có sự biến đổi
qua các giai đoạn phát triển của khách thể và chủ thể.
1.1.2 Khái niệm xung đột văn hóa
Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới đã định nghĩa xung đột như sau: “Xung đột
(conflict): Hệ quả của những căng thẳng đối lập ở bên trong cũng như bên ngoài, có thể
đạt tới độ nguy kịch, xung đột biểu trưng khả năng chuyển từ cực đối lập này sang cực
tr.636]. Trương Lập Văn đã khái quát thành 5 dạng thức xung đột mà nhân loại thế kỉ
XX phải đối mặt khi tìm hiểu ý thức Đông Á trong chuyển đổi mô hình hiện đại, đó là:
xung đột giữa con người với tự nhiên, xung đột giữa con người với xã hội, xung đột
giữa con người với con người, xung đột tâm linh của con người, xung đột giữa các nền
văn minh. Trong quá trình phân tích, diễn giải, nhà nghiên cứu kết hợp cấu trúc xã hội
với nền tảng văn hóa mang tính bản sắc để hiểu về sự vận động của văn hóa Á Đông,
nhất là Trung Quốc trong bối cảnh mới. Theo ông, sự song hành góc nhìn xung đột xã
hội và xung đột văn hóa là cần thiết để lí giải các hiện tượng văn hóa, đi tới khẳng
định sự cần thiết của triết học trong hóa giải xung đột.
Bên cạnh đó, giá trị văn hóa được các nhà nghiên cứu đặc biệt nhấn mạnh.
Theo Trương Lập Văn, “giá trị là khái niệm của quan hệ, là chỉ quan hệ đặc biệt
(khẳng định và phủ định, xung đột và dung hợp) giữa nhu cầu của khách thể (tự nhiên,
xã hội, người khác và tác dụng, biến hóa của hình thái ý thức của hình thức khách thể
nào đó) và nhu cầu của chủ thể.” [254, tr.47]. Đoàn Văn Chúc khi nghiên cứu về xã
9
hội học văn hóa cũng nhìn nhận giá trị như một đặc điểm cơ bản và cốt lõi nhất, thể
hiện sâu đậm nhất tính chất văn hóa của con người: “giá trị là cái khả ao ước trong
đời sống của một cộng đồng xã hội, một nhóm hay một cá nhân. Nói cách khác, người
ta nhìn thấy ở các giá trị những “quan niệm thầm kín hoặc bộc lộ về cái ao ước, riêng
của một cá nhân hay của một nhóm, những quan niệm ấy chi phối sự lựa chọn trong
các phương thức, các phương tiện và các mục đích khả thể của hành động.” [41,
tr.147]. Gắn với khái niệm giá trị là khái niệm chuẩn mực (phép tắc hay quy phạm phải
theo trong ứng xử), tiêu chuẩn (những dấu hiệu khả quan sát, khả đo lường, được lấy
làm nguyên tắc để căn cứ vào đó mà phán xét, thẩm định giá trị của một sự vật). Đoàn
Văn Chúc chia thành các loại hạng giá trị, bao gồm giá trị thuộc trật tự tự nhiên
(những phẩm chất thuộc phần vật chất con người), giá trị thuộc trật tự kinh tế, giá trị
thuộc trật tự tâm linh (là sản phẩm của một vũ trụ quan và một nhân sinh quan nào đó
(tín ngưỡng, tôn giáo, học thuyết). Nhà nghiên cứu nhấn mạnh đến khái niệm “giá trị
thường thể hiện sinh động trong các hoạt động vật chất cụ thể, gắn liền với lợi ích.
Xung đột giá trị thường ẩn chìm hơn, gắn với vấn đề bản sắc, trình độ văn minh, tính
quan niệm, phẩm cách và thể diện. Xung đột văn hóa không thể đồng nhất với xung
đột xã hội nhưng chúng có những điểm giao thoa. Bởi vì, các giá trị được định hình,
suy cho cùng chỉ nảy sinh được thông qua sự tương tác xã hội. Con người chỉ cấu tạo
nên giá trị của nó trong các mối quan hệ, không thể nào tuyệt đối trong giới hạn của
bản thân nó. Có điều, xung đột xã hội là loại hình xung đột có tính bao quát hơn - diễn
ra ở nhiều phạm vi như cá nhân, gia đình, quốc gia, xuyên quốc gia và có tính đa dạng
về cấp độ. Một số mô thức trong xung đột xã hội chỉ trở thành xung đột văn hóa khi nó
được đẩy đến mức tranh luận về giá trị, quan niệm sống. Xung đột văn hóa là sự đụng
độ của những cách kiến giải mang tính thẩm mĩ, là sự mâu thuẫn giữa các cách nhìn
về vấn đề của văn hóa. Thậm chí, hẹp hơn và sâu hơn, đó là xung đột, mâu thuẫn bên
trong con người với những giá trị sống mà chính con người đang loay hoay lựa chọn.
Nhấn mạnh lại, xung đột văn hóa diễn ra khi có sự va chạm giữa những quan niệm về
giá trị, và thường xảy ra ở phần giáp ranh, nơi diễn ra sự dịch chuyển không gian văn
hóa một cách hiển lộ hoặc âm thầm. Chuyển dịch không gian này, hiểu ở quy mô lớn
là sự mở rộng phạm vi dân tộc đến toàn cầu, phương Đông và phương Tây. Nhìn ở
diện rộng, thế giới càng theo trật tự phẳng, tính dân chủ càng nới rộng thì sự song tồn
và chất vấn giữa các quan điểm, các giá trị càng trở nên sinh động. S.Huntington nhìn
thấy sự dịch chuyển thế cân bằng của các nền văn minh, trong đó đáng chú ý sức mạnh
trỗi dậy của văn hóa bản địa làm phá vỡ cách nhìn phương Tây là trung tâm. Khi nền
kinh tế Xô-viết trì trệ và không còn đủ sức duy trì sức mạnh quân sự, những giá trị và
thể chế phương Tây đã cuốn hút người dân của các nền văn hóa khác. Phương Tây tạo
ra lực hướng tâm mạnh mẽ với sự thể hiện sức mạnh vượt trội trong cuộc đua công
nghệ hiện đại và tiềm lực quân sự, chính trị. Tuy nhiên, sức mạnh ấy chỉ duy trì trong
khoảng những năm đầu thế kỉ XX và sau đó suy giảm dần. Phương Tây nhanh chóng
phải đối đầu với tình hình thực tế nội bộ. Trong khi đó, nền văn minh Đông Á ngày
càng mạnh lên, họ vừa chú trọng hiện đại hóa vừa bày tỏ sự tự tin vào nền văn hóa
đậm bản sắc của dân tộc mình. Cán cân Đông – Tây thay đổi, xu hướng toàn cầu hóa
đã xác định lại mối quan hệ trung tâm – ngoại vi. Điều này tạo ra động lực lớn để
Trương Lập Văn nhận định: “Thế kỉ XXI sẽ là thế kỉ dung hợp hài hòa xung đột, là thế
kỉ đa nguyên, đa cực, đa trung tâm thẩm thấu và bổ trợ lẫn nhau của văn hóa thế giới.
Sự hình thành và phát triển của kinh tế các vùng, các khu vực đã mở ra không gian và
nền tảng cho sự sinh tồn, thẩm thấu, bổ trợ lẫn nhau, dung hợp hài hòa xung đột cho
các trung tâm văn hóa và đa nguyên văn hóa.” [254, tr.19]. Từ những luận giải trên, có
thể hiểu khái niệm xung đột văn hóa như sau: Xung đột văn hóa là một loại hình xung
đột, được thể hiện thành các mô thức xung đột giá trị mà qua đó, cho thấy những động
hình văn hóa và dự báo lược đồ giá trị trong điều kiện phát triển mới.
Nhìn văn hóa ở những mô thức xung đột, sẽ thấy văn hóa giống như một quyền
lực mềm dẻo chi phối sự phát triển của xã hội. Đó là thứ quyền lực không đo lường,
định lượng được nhưng rất quyết liệt, dai dẳng và rốt ráo. Bản chất của xã hội và văn
hóa, sự định hình chỉnh thể nền văn hóa, suy cho cùng phải từ những xung đột như thế.
Đó là điều thú vị, nhưng cũng là khó khăn khi tiếp cận xung đột văn hóa.
1.2 Tiếp cận xung đột văn hóa trên thế giới
Trên thế giới, vấn đề xung đột được các nhà xã hội học quan tâm từ rất sớm. Các
nhà nghiên cứu này xem xung đột như là một thuyết (Theory of conflict). Khi ấy, xung
12
đột được xem xét từ khái niệm, nguyên nhân đến tiến trình, kết quả. Trong đó, người
ta nhấn mạnh trạng thái mâu thuẫn, đụng độ giai cấp, thể chế nhà nước. Lí luận của
chủ nghĩa Marx phát triển quan niệm xung đột xã hội thành đấu tranh giai cấp (giữa
chủ sở hữu tư liệu sản xuất với những người ngoài; giữa những nhà tư bản với giai cấp
vô sản). Marx cho rằng, việc tổ chức phương thức sản xuất không chỉ đơn giản là vấn đề
điều phối các hiện vật, thay vào đó, một cách cố hữu, nó gắn với những mối quan hệ
giữa con người. Những mối quan hệ này bên cạnh tính xã hội còn là vấn đề quyền lực và
xung đột. Với chủ nghĩa Marx, lịch sử không phải là một quá trình tiến hóa êm ả, mà
được đánh dấu bằng những gián đoạn và ngắt quãng quan trọng của phương thức sản
xuất. Mỗi phương thức sản xuất sẽ bị thay thế bởi một phương thức sản xuất khác khi
những điều kiện bên trong, đặc biệt là những điều kiện của xung đột giai cấp, dẫn tới sự
hóa đặc thù của mình, phản ánh những mức độ khác nhau của tính không đồng nhất về
văn hóa... Chúng ta có thể xác định văn minh là một cộng đồng văn hóa cao nhất, là
trình độ cao nhất của tính đồng nhất văn hóa của con người”. Ông đã dựa vào nhiều cơ
sở để khẳng định tính tất yếu xảy ra sự đụng độ giữa các nền văn minh, đáng chú ý là:
sự khác biệt giữa các nền văn minh, thế giới đang trở nên bé đi, những quá trình hiện
đại hóa kinh tế và biến đổi xã hội trên toàn thế giới đang phá vỡ tính đồng nhất truyền
thống của con người nơi địa bàn cư trú. Huntington nhận ra các đặc tính và khác biệt
văn hóa ít thay đổi hơn so với các đặc tính và khác biệt về kinh tế và chính trị, và do
vậy, việc giải quyết và đưa chúng tới thỏa hiệp cũng phức tạp hơn. Trong đụng độ giữa
các nền văn minh, câu hỏi đặt ra theo cách khác, không phải là “Anh theo phe phái
nào”, mà “Anh là ai?”. Học giả người Trung Quốc, ông Guo Jiemin cho rằng: “Cái gọi
là đụng độ văn hóa, nói khái quát, là chỉ sự đối lập, gạt bỏ, phủ định lẫn nhau giữa các
nền văn hóa khác nhau, thực chất là sự đụng độ giữa các đặc tính khác nhau của loài
người”. Bởi vì khái niệm văn hóa rất rộng, không chỉ là vấn đề vật chất mà còn là vấn
đề tinh thần, cho nên xung đột văn hóa cũng rất phong phú. “Chẳng hạn, từ giác độ địa
lí, chúng ta có xung đột văn hóa phương Đông và phương Tây; từ giác độ lịch sử, có
xung đột văn hóa truyền thống và hiện đại; từ giác độ quốc gia, có xung đột văn hóa
ngoại lai và văn hóa bản địa; từ giác độ phát triển xã hội có xung đột văn hóa nông
nghiệp và văn hóa công nghiệp.” [260].
Vậy, hệ thống trật tự với vai trò của thể chế, nhà nước đang nhường chỗ dần cho
những cuộc đụng độ về văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa. Nhân loại đang phấn đấu
bước qua giai đoạn đấu tranh bằng vũ khí, bằng súng ống mà chuyển sang đấu tranh về
văn hóa. Thách thức đặt ra cho mỗi quốc gia là vấn đề bản sắc và hòa nhập, vấn đề
ứng xử với môi trường tự nhiên, với quyền con người. Thomas Fridman nhìn thế giới
ở mô hình “phẳng”, tức là sự phá vỡ trật tự trên dưới, mạnh yếu theo tinh thần bá
quyền chính trị để xác lập những quan hệ mới dựa vào đặc điểm văn hóa quốc gia.
Ông đã dùng những từ ngữ rất ngắn gọn để mô tả thế giới, đó là “nóng, phẳng, chật”.
Đồng thuận với cách nhìn của Thomas Fridman, Alvin Toffler trong Làn sóng thứ ba
đã bàn về nền văn minh hậu công nghiệp với sự tăng trưởng chóng mặt về kinh tế, sự
di chuyển dân cư sang các vùng miền khác nhau tạo nên tính phức tạp văn hóa, đỏi hỏi
chạm ở chiều sâu, trong thế giới vô thức và tâm linh của con người.
Đến đây, việc vận dụng quan điểm của S.Freud (về vô thức cá nhân) và quan điểm
của K.G.Jung (về vô thức tập thể) là rất cần thiết. Với Freud, cội nguồn vô thức (“nó”)
mới chính là yếu tố thống trị con người. Cái Tôi của chúng ta cố gắng sống sót trong
thế giới tự nhiên và xã hội, luôn xung đột với sức mạnh điên rồ của “nó”. Nếu cái Tôi
tuân theo nguyên tắc thực tế, thì “nó” tuân theo nguyên tắc thỏa mãn. Văn hóa đã chế
ngự “nó” bằng phương pháp thăng hoa – không phải thăng hoa theo chức năng sinh
học, mà thăng hoa phục vụ mục đích của trí tuệ và văn hóa. Như thế, những đòi hỏi xã
hội đặt ra với văn hóa mâu thuẫn với những say mê sơ khai của con người. Trong
những điều kiện hoàn cảnh xã hội tạo áp lực lớn cho con người dẫn tới những bất an,
đổ vỡ, thì mong muốn tìm tới khát vọng sơ khai càng thể hiện rõ hơn bao giờ hết.
K.G.Jung lại đề cao vô thức tập thể - tức là dạng kinh nghiệm tâm lí tập thể cổ xưa âm
thầm tổ chức đời sống của chúng ta. Dạng sơ khai nhất của vô thức tập thể là những
huyền thoại. Đây cũng là yếu tố quan trọng để tạo nên bản sắc của mỗi dân tộc. Huyền
thoại luôn có tính ổn định và bảo thủ, tuy nhiên đó không phải là yếu tố bất biến. Sự
giải thiêng huyền thoại diễn ra khi nhu cầu tự do tâm lí của cá nhân con người phát
triển. Điều này cũng là một biểu hiện thú vị của xung đột văn hóa.
Trong cuốn Modernism and Cultural conflict (Chủ nghĩa hiện đại và xung đột văn
hóa) (1880 – 1922), xuất phát từ thực tế phát triển của nước Anh, Ann L.Ardis có
15
những thảo luận quan trọng về đặc điểm văn học hiện đại Anh và tính thẩm mĩ của nó
trên cơ sở cắt nghĩa bản chất của chủ nghĩa hiện đại. Ann L.Ardis đặt vấn đề về những
quan điểm căn bản của chủ nghĩa hiện đại văn học. Bà đặt nhóm các nhà văn Ezra
Pound, T. S. Eliot, và James Joyce giữa các nhà văn ở Anh - những người có ý định
định nghĩa lại các tác phẩm văn hoá văn chương tại thời điểm chuyển giao thế kỷ 20.
Ardid quan tâm đến cách làm thế nào mà sự trỗi dậy của chủ nghĩa văn học hiện đại
tăng tính thẩm mĩ, mở đường cho việc thể chế hóa các nghiên cứu tiếng Anh thông qua
sự mất giá trị của thực tiễn thẩm mĩ. Các nghiên cứu về sự chuyển giao thế kỉ 20 cung
16
hiện quá trình dịch chuyển rất mềm mỏng để hình thành đặc trưng văn hóa của mỗi
quốc gia. Từ rất sớm, khoảng năm 1920, Viktor Shklovskij đã công thức hóa những
lựa chọn “điển phạm hóa” và “phi điển phạm hóa” thành một lí giải cho động năng
văn chương. Tính điển phạm là sản phẩm của các hệ quyền lực trong một hệ thống.
Trong khi đó, chính “văn hóa hạ lưu”, “văn hóa thứ cấp” lại góp phần điều chỉnh sự
phát triển của trung tâm để nó trở nên không xơ cứng, tê liệt. Lotman và trường phái
Tartu Moskva đã phát triển quan điểm của Viktor Shklovskij theo hướng đề xuất thêm
cách nhìn ở ranh giới, đường biên, lí giải các cặp đối lập tạo nghĩa trong văn bản như
là hình thức kiến tạo văn hóa, thể hiện tính chất công cụ nhận thức của văn hóa, đảm
bảo cuộc sống phát triển. Ở hướng chuyển dịch ấy, xung đột văn hóa sẽ được nhận ra
rõ ràng hơn. Cơ chế tạo xung đột cũng được lí giải sâu sắc từ ảnh hưởng quyền lực,
thiết chế và tâm thức cộng đồng.
Với các học giả phương Đông, về căn bản, xung đột văn hóa và sự thực hành xung
đột văn hóa qua các văn bản văn học được quan niệm tương đồng với các học giả
phương Tây. Trong cuốn Introducing cultural studies (Giới thiệu các nghiên cứu về
văn hóa) do David Walton biên soạn, nhà nghiên cứu có dẫn ý kiến của Hoggart, cho
rằng, “cuộc sống của tầng lớp lao động là "một cuộc sống phong phú đầy đủ” và các
tầng lớp lao động truyền thống có một vai trò tích cực trong việc tạo ra, lựa chọn và
thích nghi văn hóa” (working-class life was “a full rich life” and that the traditional
working classes take an active role in making, choosing and adapting culture). Do đó,
Hoggart tập trung phân tích hành vi và lối sống của quần chúng lao động để thấy các
đặc điểm riêng về văn hóa. E.P.Thompson cũng quan niệm rằng văn hóa tầng lớp lao
động như là nơi của xung đột, ý thức - sự phản kháng, và nhấn mạnh đến hiện tượng
đau khổ và đàn áp như là những biểu hiện xung đột trong lòng xã hội. Với xã hội
phương Đông, do đặc thù về phương thức sản xuất, tính cố kết cộng đồng và vị trí của
những người lao động càng trở nên quan trọng. Căn rễ chuyên chế phương Đông cũng
đã tái hiện những đụng độ giai cấp quyết liệt và những cơn sóng ngầm trong đời sống
trong xã hội hiện đại:
Một là, thừa nhận toàn cầu hóa đã tạo ra tính đối thoại văn hóa sâu rộng (khi có sự
giao lưu/va chạm giữa các nền văn hóa khác nhau), tác động mạnh mẽ đến đời sống,
trong đó phải kể đến tính chất giải lãnh thổ hóa, nhấn mạnh vào sự dịch chuyển của
trung tâm/ngoại vi, sự đụng độ thành thị - nông thôn trong quá trình đô thị hóa. Điều
này kéo theo mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại nhìn từ giá trị văn hóa, nhằm
hình thành khung giá trị mới, chuẩn mực mới.
Hai là, xét từ mẫu người văn hóa - chủ thể kiến tạo văn hóa, thế giới tình cảm, vô
thức có những xung đột với lí trí, ý thức để thõa mãn tự do cá nhân, đi tới ham muốn
khẳng định bản sắc cá nhân với những màu sắc mới trong thời hiện đại.
Ba là, vấn đề bản sắc và hội nhập, dân tộc và nhân loại trở nên quan trọng khi văn
hóa quốc gia phải va chạm với “kẻ khác” để khẳng định và phát triển bản sắc của dân
tộc mình. Sự đụng độ này càng cho thấy bản chất kiến tạo của bản sắc văn hóa.
Bốn là, văn học (với chất liệu ngôn ngữ có đặc trưng riêng) tham gia tích cực vào
quá trình kiến tạo văn hóa. Để thấy được những va chạm, đụng độ giữa các mô thức
văn hóa thì việc phân tích các hiện tượng văn học trở nên quan trọng và hữu ích. Lúc
này, văn học được xem là một mạng lưới kí hiệu học văn hóa đặc biệt.
1.3 Nghiên cứu xung đột văn hóa ở Việt Nam
Ở Việt Nam, định nghĩa văn hóa lần đầu tiên được nhắc tới trong công trình Việt
Nam văn hóa sử cương của học giả Đào Duy Anh: “Ta có thể nói rằng, văn hóa là
những giá trị biểu hiện cuộc sinh hoạt mạnh mẽ của loài người, trong cả các phương
diện vật chất, tinh thần và xã hội.” [1, tr.692]. Ông chỉ ra hướng tiếp cận văn hóa trên
18
hai phương diện “tĩnh” (đồng đại) và “động” (lịch đại), đồng thời gợi ý hướng thực
nghiệm trong nghiên cứu: “muốn nghiên cứu văn hóa của một dân tộc, trước hết phải
xét xem dân tộc ấy sinh trưởng ở trong những điều kiện địa lí như thế nào. (...) Nghiên
cứu xem sự hoạt động để sinh hoạt về các phương diện của một dân tộc xưa nay biến
chuyển thế nào, là nghiên cứu văn hóa lịch sử của dân tộc ấy vậy!.” [tr.11-12]. Phan Kế
của giới học thuật phương Tây. Phương Tây dịch “Identity” là căn cước/căn tính/bản
sắc, tức là một cái gì đó mà người ta nghĩ hoặc tưởng tượng, thuộc về thế giới hư cấu
đầy chủ quan. Khi tìm hiểu về bản sắc, người phương Tây quan tâm xem ai hoặc cái gì
19