tóm tắt luận án tiến sĩ đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết việt nam về nông thôn từ 1986 đến nay - Pdf 22

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI NHƯ HẢI
ĐẶC TRƯNG PHẢN ÁNH HIỆN THỰC
CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM VỀ
NÔNG THÔN TỪ 1986 ĐẾN NAY
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 62 22 34 01
HÀ NỘI, năm 2013
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học
xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Hồ Thế Hà
Phản biện 1: PGS. TS Phạm Thành Hưng
Phản biện 2: PGS. TS Trịnh Bá Đỉnh
Phản biện 3: PGS. TS Lê Quang Hưng

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Học viện họp tại:
Học viện Khoa học xã hội; Viện Hàn lâm Khoa học xã hội
Việt Nam vào hồi… giờ… phút, ngày… tháng… năm 2013
Có thể tìm hiểu tại:
- Thư viện quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
- Thư viện Viện văn học
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI NHƯ HẢI
ĐẶC TRƯNG PHẢN ÁNH HIỆN THỰC

xuống cuộc sống rộng lớn, mênh mông. Đặt biệt, luồng gió tư tưởng đổi mới
kể từ sau Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng đã tạo thành cơn luân vũ mãnh
liệt tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, tạo nên bầu không khí dân chủ,
cởi mở, tiến bộ hơn, trong đó, có văn học - một bức tranh nhiều màu sắc với
khát vọng vẽ trọn vẹn chân dung tâm hồn con người của thời đại từ những
miền quê. Trong sự phát triển mạnh mẽ và toàn diện của nền văn học mới,
văn xuôi nông thôn chiếm một vị trí không nhỏ cả về số lượng lẫn chất lượng,
góp phần làm nên diện mạo, thành tựu, tác dụng xã hội và tính đặc thù của
nền văn học.
Tiểu thuyết viết về nông thôn sau 1975, nhất là sau đổi mới vẫn
tiếp tục “thâm canh” trên mảnh đất đầy tiềm năng này nhưng phương
thức khai thác đã thay đổi. Nhiều trang viết ngồn ngộn chất sống từ
hương đồng rơm rạ của chốn hương quê Việt Nam qua các ngòi bút tài
danh một lần nữa khẳng định sự chiếm lĩnh hiện thực toàn diện trong
cảm hứng viết về nông thôn Việt.
1
Đề tài nông thôn được các tiểu thuyết gia quan tâm sâu sắc, nhiều
chiều hơn với nhịp chuyển động của nó trong hơi thở hiện thực, nhất là
từ những năm 1975 trở đi, tiểu thuyết viết về nông thôn đã có sự đổi mới
trong cảm hứng, cấu tứ, thi pháp để tạo nên cách nhìn nhận và tái tạo lại
hiện thực một cách đầy đủ, sinh động hơn mà tiểu thuyết về nông thôn
trước đó, do nguyên nhân chủ quan và khách quan chưa làm được. Từ
thực tế trên, tiểu thuyết viết về nông thôn dần thu hút được sự quan tâm
của bạn đọc. Đã có một số bài viết hoặc một vài cuốn sách về đề tài này,
nhưng tất cả hầu như chỉ mới dừng lại ở phạm vi hẹp, chưa có một công
trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện về đề tài này. Đây
là khoảng trống không nhỏ cần sự góp sức của tất cả những ai quan tâm
đến mảng tiểu thuyết viết về nông thôn đương đại.
Vì vậy, chọn đề tài Đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết Việt
Nam về nông thôn từ 1986 đến nay, chúng tôi mong muốn có một cái nhìn

nghiên cứu những tiền đề để tạo nên diện mạo tiểu thuyết về nông thôn từ
1986 đến 2012 như tư duy nghệ thuật; nhu cầu nhận thức về hiện thực đa
chiều; diện mạo của tiểu thuyết về nông thôn trong mạch nguồn của tiểu
thuyết đương đại… Từ đó, thấy được những đóng góp quan trọng, có ý
nghĩa của tiểu thuyết về nông thôn trong tiến trình đổi mới văn xuôi Việt
Nam sau 1986 trong tính chỉnh thể nội dung và hình thức của chúng như
quan niệm về hiện thực và con người cùng những phương thức, phương
tiện biểu hiện đặc sắc của chúng.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu xã hội học văn học; Phương pháp phân tích, so
sánh; Phương pháp hệ thống, cấu trúc; phương pháp vận dụng lý thuyết
thi pháp học…
4. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
4.1. Luận án góp phần nhận diện chung nhất tiến trình vận động
và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn từ 1986 đến
2012, nhằm thấy được sự kế thừa, tiếp nối những thành tựu của giai
đoạn trước 1986 và những vấn đề mà giai đoạn sau tiếp cận và phản ánh.
Qua đó, thấy được sự bứt phá của tiểu thuyết về nông thôn giai đoạn này
trong bước ngoặt chuyển mình của đời sống xã hội và ý thức nghệ thuật
của chủ thể sáng tạo.
4.2. Giúp bạn đọc có cái nhìn mới mẻ về tiểu thuyết Việt Nam
viết về nông thôn sau đổi mới trên cả hai phương diện nội dung và
phương thức nghệ thuật giai đoạn trước đó.
4.3. Kết quả của luận án có thể dùng để đưa vào chương trình
giảng dạy ở bậc THCS, THPT và bậc Đại học, sau Đại học; đồng thời
dùng làm tài liệu tham khảo để viết giáo trình Văn học Việt Nam hiện
đại về đề tài nông thôn.
4. CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Luận án gồm 150 trang chính văn. Ngoài phần Mở đầu, Kết luận,

mỗi giai đoạn, mỗi tác giả và tác phẩm. Do đó, đề tài nông thôn không
hề “bạc màu”, “không bao giờ mòn”, “vẫn chưa đến mức đoản mệnh”…
1.1.2. Quan ngại về dấu hiệu chững lại
Bên cạnh đó, có các bài viết của một số nhà văn, nhà nghiên cứu
như: Đề tài về người nông dân, làm sao cho xứng tầm của Đào Thái
Tuấn, Nhà quê, nông thôn: Tự nó và về nó của Mai Anh Tuấn, Nhà văn
với đời sống nông thôn và nông dân ngày nay của Nguyễn Bính Hồng
Cầu, Nhà văn trẻ không mấy mặn mà với đề tài nông thôn của Hải Giám,
Nghệ thuật “quên” đề tài nông thôn ?, Nhà văn trẻ quên quê mình của
Hồ Huy Sơn … đều cho rằng: Văn xuôi và tiểu thuyết về nông thôn hiện
tại và tương lai có dấu hiệu chững lại. Đặc biệt, trong giới sáng tác trẻ
càng trở nên vắng bóng, nhạt nhòa, bởi họ đang hào hứng, chạy đua với
đề tài “hót” (sex, les, gay, ma, kinh dị, trinh thám), còn đề tài nông thôn
lại “xa lánh”. Như vậy, sự băn khoăn, lo lắng của bạn đọc, giới nghiên
4
cứu cũng như từ chính giới sáng tác về sự giảm sút chất lượng và số
lượng các tác phẩm về nông thôn là có cơ sở, đúng với tình hình hiện
nay. Thực tế đó, đã gióng lên hồi chuông cảnh báo cho văn giới và đặt ra
cho họ trách nhiệm khi viết về nông thôn và nông dân.
1.2. LUẬN BÀN QUANH MỘT SỐ TIỂU THUYẾT NỔI
TRỘI
1.2.1. Nhận định, đánh giá về những thành công
1.2.1.1. Thời xa vắng (1986) có một số bài viết tiêu biểu: Đọc Thời
xa vắng của Lê Lựu của Hoàng Ngọc Hiến. Nghĩ về một “Thời xa vắng”
chưa xa của Thiếu Mai. Lê Lựu - Thời xa vắng của Đinh Quang Tốn. Nhu
cầu nhận thức lại thực tại qua một Thời xa vắng của Nguyễn Văn Lưu…
1.2.1.2. Bến không chồng và Mảnh đất lắm người nhiều ma có các
bài viết như: Bức tranh làng quê và số phận người nông dân qua những
biến thiên lịch sử của Nguyễn Văn Long, Dương Hướng và Bến không
chồng của Trung Trung Đỉnh, Cái nhìn của Dương Hướng trong tiểu

về những thành công ở các phương diện đề tài, ngôn ngữ, giọng điệu, kết
cấu, hình tượng nhân vật, điểm nhìn trần thuật, không gian và thời gian
nghệ thuật… của tác phẩm.
1.2.2. Nhận định, đánh giá về những hạn chế
Bên cạnh đó, các tác giả nghiên cứu trên cũng đã chỉ ra một số
hạn chế nhất định về mặt nội dung cũng như phương thức biểu hiện của
các tác phẩm trên như cách nhìn thái quá hoặc bất cập về hiện thực và
con người, về các chủ đề cải cách ruộng đất và tính dục…
Như vậy, các nhà nghiên cứu mới chỉ ra những nét chấm phá tản
mạn chứ chưa bàn sâu, bàn kĩ, vì vậy nó vẫn còn ẩn số, chứa đựng nhiều
vấn đề mới mẻ, thú vị cần khám phá. Chúng tôi kế thừa thành tựu của
những người đi trước để nghiên cứu toàn diện và đầy đủ hơn, nhằm
khẳng định và chỉ ra một cách có hệ thống những thành tựu của tiểu
thuyết viết về nông thôn trên cả hai bình diện nội dung và hình thức
nghệ thuật.
Chương 2
DIỆN MẠO CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM
VỀ NÔNG THÔN TỪ 1986 ĐẾN NAY
2.1. NHU CẦU ĐỔI MỚI TƯ DUY NGHỆ THUẬT
2.1.1. Tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết về nông thôn trước 1986
Cách mạng tháng Tám và hiện thực lịch sử của hai cuộc kháng
chiến chính là chất liệu để tiểu thuyết về nông thôn có bước chuyển biến
quan trọng. Từ chỗ bộc lộ khát vọng giải phóng cá nhân, mưu cầu hạnh
phúc (Tự lực văn đoàn); miêu tả đời sống người nông dân nghèo trong
cảnh bị bóc lột trắng trợn của chế độ phong kiến (Hiện thực phê phán),
tiểu thuyết viết về nông thôn đã chuyển sang thời kỳ sáng tác theo
khuynh hướng sử thi. Đề tài nông thôn nằm trong đề tài kháng chiến, vì
thế chủ âm nổi lên là cảm hứng ngợi ca gắn bó với kiểu tư duy sử thi
ngự trị gần như tuyệt đối thời kỳ này (Con trâu và Bếp đỏ lửa của
Nguyễn Văn Bổng, Cửa sông của Nguyễn Minh Châu, Bão biển và Đất

2.2. NHU CẦU NHẬN THỨC VÀ SỰ CHIẾM LĨNH HIỆN
THỰC ĐA CHIỀU
2.2.1. Nhu cầu nhận thức mới hiện thực trong tiểu thuyết về
nông thôn trước 1986
Nông thôn thời kỳ 1932 - 1945 trong tiểu thuyết viết về nông thôn
chỉ là bức tranh u tối của những vô lý và bất công, những thủ đoạn bóc lột
tàn nhẫn, trắng trợn, tù đọng (Tắt đèn, Bước đường cùng…). Sau Cách
mạng tháng Tám 1945, vẫn còn đọng lại không ít những mặt tiêu cực, làm
cản trở sự phát triển xã hội nông thôn, gây ra nhiều nhức nhối và thảm kịch
đối với người nông dân. Thời kỳ cải cách ruộng đất (1955-1956), do quan
niệm đấu tranh giai cấp một cách máy móc, mối quan hệ giữa nông dân và
7
địa chủ đã bị đẩy đến hai cực đối lập gay gắt, gây ra hận thù, đổ máu và làm
đảo lộn toàn bộ nền tảng xã hội nông thôn và nông dân (Bếp đỏ lửa, Cái
sân gạch…). Thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp (đầu những năm 1960), chủ
yếu xoay quanh vấn đề ra vào “hợp tác xã”, hiện thực nông thôn được tô
hồng, đơn điệu một chiều. Thời kỳ chiến tranh chống Mỹ (1964-1975), chủ
yếu tập trung vào vấn đề “hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn”,
“vừa sản xuất vừa chiến đấu (Bão biển, Đất làng…). Thời kỳ tiền đổi mới
(1975-1985), những vấn nạn trong đời sống xã hội nông thôn như hiện
tượng ô dù, nỗi thống khổ của người dân quê do cung cách làm ăn và quản
lý nông thôn theo kiểu cũ trỗi dậy (Cù lao Tràm, Nhìn dưới mặt trời, Hạt
mùa sau ).
Nhìn chung, tiểu thuyết viết về nông thôn trước 1986 có cái nhìn
bao quát hiện thực lớn lao. Song, phần “máu thịt” thuộc về đời sống
nông thôn vẫn chưa in đậm “không khí, mùi vị, màu sắc và âm thanh”
của đời sống nông thôn Việt.
2.2.2. Sự chiếm lĩnh hiện thực đa chiều trong tiểu thuyết về
nông thôn sau 1986
Nhờ không khí dân chủ hóa trong đời sống sáng tác mà hiện thực

hậu, với nhiều cá tính sáng tạo và bút pháp khác nhau nhưng họ cùng
chung lý tưởng, cùng đứng vào hàng ngũ của Đảng, cùng hòa nhập với
công - nông - binh, vừa cầm bút vừa sẵn sàng đến những vùng mũi nhọn
của cuộc sống nhằm phục vụ mục đích: kháng chiến và kiến quốc (Xung
kích, Con trâu ).
2.3.1.3. Hai mươi năm (1954 - 1975), tiểu thuyết viết về nông
thôn đã bắt kịp nhịp đi của thời đại, của dân tộc qua việc hướng ngòi bút
vào những vấn đề có tính thời sự như tiền tuyến và hậu phương, cải cách
ruộng đất, hàn gắn vết thương chiến tranh, đấu tranh giữa cái cũ và cái
mới, khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội xã hội chủ nghĩa (Cái sân gạch,
Xung đột, Ao làng…).
2.3.1.4. Những năm tiền đổi mới (1975 - 1985), tiểu thuyết viết về
nông thôn đã âm thầm diễn ra cuộc chuyển mình ở chiều sâu trong đời
sống nội tại, với những trăn trở, tìm tòi thầm lặng mà quyết liệt ở những
nhà văn mẫn cảm trước những biến động của thời đại như: Chu Văn, Ma
Văn Kháng, Nguyễn Thị Ngọc Tú… Bên cạnh, cảm hứng ngợi ca là cảm
hứng phê phán, cảm hứng đời tư, cảm quan nhận thức lại hiện thực và có
sự đánh giá, quan sát người nông dân dịch chuyển dần về phía đạo đức
sinh hoạt; là tiếng nói “phản biện”, “lập luận” trong cung cách làm ăn kinh
tế của những người “đi trước thời đại”, đồng thời chỉ ra sự lỗi thời, lạc hậu
của cơ chế bao cấp, những bất cập trong tiêu chí đánh giá người nông dân
nặng về ý thức hệ… Những vấn đề nóng bỏng đó được các nhà văn quan
tâm một cách rốt ráo, phản ánh nông thôn đang chuyển mình, bung phá
cùng nhịp đập toàn dân tộc (Đất mặn, Mưa mùa hạ, Bí thư cấp huyện ).
2.3.2. Diện mạo tiểu thuyết về nông thôn sau 1986
2.3.2.1. Từ khởi động tạo đà (1986 - 1990)
Mốc 1986 dĩ nhiên không phải thời điểm làm thay đổi diện mạo
của tiểu thuyết viết về nông thôn. Sự đổi thay đó như một dòng chảy
9
ngầm từ những năm 80 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, chặng này vẫn đang

dồi dào và nhiều tác phẩm được giải thưởng giá trị.
Trong sự mở rộng về chủ đề, nhiều tác phẩm đã tái hiện bộ mặt
nông thôn ở chiều rộng lẫn bề sâu (Dòng chảy đất đai, Cuồng phong,
Đồng sau bão…). Đặc biệt, với sự xuất hiện hai chủ đề số phận con người
và hạnh phúc cá nhân đã đưa tiểu thuyết về nông thôn đăng quang ở chiều
sâu và chiều cao trong phản ánh hiện thực.
Những kĩ thuật viết mới của chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại được
các nhà văn sử dụng như bút pháp nhại, huyền ảo, kỳ ảo, nghịch dị, vô thức,
10
những kỹ thuật phâm tâm học, dòng ý thức, đa giọng điệu, liên văn văn ;
hình tượng và ngôn ngữ được kiến tạo theo nguyên tắc lạ hóa, sự xáo trộn
giữa thực và hư, giữ siêu nhiên, huyền bí và đời thường (Đất trời vần vũ,
Họ vẫn chưa về, Thần thánh và bươm bướm…).
Chương 3
HIỆN THỰC VÀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT
VIỆT NAM VỀ NÔNG THÔN TỪ 1986 ĐẾN NAY
3.1. HIỆN THỰC THỜI CHIẾN, HẬU CHIẾN VÀ CON
NGƯỜI GẮN BÓ VỚI ĐẤT ĐAI, XỨ SỞ
3.1.1. Nông thôn thời chiến và hậu chiến - từ góc nhìn lịch đại
3.1.1.1. Hàng ngàn đời nay, người nông dân chỉ biết con trâu, đồng
ruộng, nhưng lạ thay, khi đất nước có chiến tranh, người nông dân ý thức
hướng về dân tộc và cách mạng, đặt bút viết đơn tình nguyện bằng chính
dòng máu của mình mong được nhập ngũ, ra trận, được chiến đấu (Giang
Minh Sài trong Thời xa vắng). Nhiều người không đủ độ tuổi nhập ngũ
cũng tìm mọi cách để vào được hàng ngũ quân đội (Nguyễn Kỳ Công
trong Thời của thánh thần). Anh Quặc (Dưới chín tầng trời) suốt đời lam
lũ, khổ ải cũng sẵn sàng để con lên đường tòng quân. Chị Cả Thuần
(Dòng sông Mía), chị Nhân (Bến không chồng) hi sinh cả tuổi thanh xuân
cốt để chồng ra chiến trường Họ là những đại diện tiêu biểu cho tấm
lòng sắt son của hàng triệu nông dân Việt Nam trung trinh với cách mạng,

Mía…). Chiến tranh chẳng mang lại gì cho họ ngoài cuộc sống mỗi người
mỗi cảnh. “Hạnh phúc thì ai cũng giống ai, nhưng bất hạnh không ai giống
ai”.
3.1.2. Người nông dân gắn bó với quê hương, xứ sở
3.1.2.1. Môi trường tự nhiên như là mái nhà văn hóa trong quan niệm
của người nông dân. Môi trường tự nhiên có tầm quan trọng nhất, cốt tử nhất
đối với đời sống nông dân. Người nông dân gắn bó với đất đai, xứ sở, bởi đấy
chính là nơi tổ tiên, cha mẹ đã từng sinh trưởng và nơi chôn nhau cắt rốn của
họ. Họ yêu quí, gắn bó với đất đai, xứ sở bằng tình yêu vốn có từ lâu, sâu sắc
và bền vững như chính máu thịt của mình như Quy trong Mảnh đất tình yêu,
Hoàng Kỳ Bắc trong Dưới chín tầng trời, Thuần trong Giời cao đất dày và
nhiều tác phẩm khác.
3.1.2.2. Cũng đề cập đến vấn đề nông dân trong mối quan hệ với đất đai,
xứ sở, nhưng trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, Bão đồng…, tác giả lại mổ
xẻ từ hướng khác: tình yêu đất đai gắn với ý thức dòng tộc, làng xã. Đất đai
không chỉ tài sản, mồ hôi, máu mà còn là niềm tự hào, danh dự đối với người
nông dân trong nhiều mối quan hệ xã hội, văn hóa khác nhau.
3.1.2.3. Ở Bắc Bộ và miền Trung thường xuyên thiên tai, lũ lụt nên
người nông dân luôn biết đối phó với thiên nhiên trong mọi hoàn cảnh để
bảo vệ xóm làng, mùa màng. Đọc Thời xa vắng, Thủy hỏa đạo tặc, Giời cao
đất dày, Cánh đồng lưu lạc, Dòng chảy đất đai…, bạn đọc sẽ thấy sự gian
nan, vất vả và cả khổ đau, mất mát của người nông dân trong việc đối phó
với thiên tai, lũ lụt.
3.1.2.4. Người nông dân Việt Nam không chỉ biết đối phó với tự nhiên,
mà còn biết tận dụng tự nhiên để sinh tồn. Họ tận dụng nơi cửa sông, cửa lạch
để sinh sống, lập xóm làng, vì đó là nơi thuận tiện để đi lại, sản xuất, đánh
bắt. Chính vì thế, trong bữa ăn của người nông dân, ngoài cơm, thì thức ăn
thường xuyên là những cá, tôm, cua, ếch, nhái… có sẵn trong môi trường
thiên nhiên gần gũi (Giời cao đất dày, Bão đồng…).
12

xây, bồi đắp như miếu mạo, đình làng, chùa chiền, cây cối, mồ mả đều bị đập
phá, chặt trụi, chôn chung Hỗ trợ công cuộc đấu tố, tàn phá là những tiếng
trống, tiếng kẻng vang khắp các nẻo đường, thôn xóm; những khẩu hiệu, biểu
ngữ “viết nguệch ngoạc” trên các vật liệu có sẵn, đủ các kiểu (Chuyện làng
ngày ấy, Dưới chín tầng trời…).
3.2.1.2. Sự đảo nghịch trong đời sống xã hội nông thôn lúc bấy
giờ là người ta kiểm chứng lòng trung thành với Đảng bằng cách xử lý
người cùng gia đình, dòng tộc, làng xã của mình (Thước, Vạn trong Bến
13
không chồng, Lưu Minh Hiếu trong Chuyện làng Cuội, Vũ Đình Phúc
trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, Cục trong Thời của thánh thần…).
3.2.1.3. Bộ máy chính quyền địa phương chủ yếu là cán bộ thuần
nông nghèo, cùng đinh mạt hạng, rất chất phác, nhiệt tình, tích cực hăng
hái, thực thi nhiệm vụ. Nhưng do trình độ học vấn thấp, nhận thức còn
ấu trĩ, non kém nên đã gây nhiều khuyết điểm, tội lỗi (Lão Khổ trong
Lão Khổ, Tựu trong Thời của thánh thần, Nhự trong Ao bèo gợn sóng,
Đào Kinh trong Dưới chín tầng trời, Hiếu trong Chuyện làng Cuội, cô
Bi trong Giời cao đất dày, Phạm Tòng trong Ma làng…).
3.2.1.4. Chính cái thời “nhiễu nhương, trắng đen lẫn lộn, cóc
ngóe nhảy lên làm người” của lớp cán bộ cải cách khiến người nông
dân đau khổ, thiệt hại cả vật chất lẫn tinh thần (gia đình Thuần trong
Giời cao đất dày, gia tộc Hoàng Kỳ trong Dưới chín tầng trời, gia đình
bà Đất trong Chuyện làng Cuội…).
3.2.1.5. Xét thấy phong trào cải cách ruộng đất không phù hợp
với thực tiễn, Đảng và Nhà nước đã sửa sai, tiến hành mô hình hợp
tác hóa nông nghiệp. Người nông dân phấn khởi, khí thế ầm ầm, nhưng
thực tế bộ mặt nông thôn vẫn cứ đói nghèo, nhếch nhác (Dưới chín tầng
trời, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Cuồng phong…).
Nhìn nhận lại quá khứ nông thôn, các nhà văn thấu đáo để hiểu
một cách trọn vẹn căn cốt của vấn đề, không hằn học, miệt thị, né tránh,

3.3.1. Nông thôn với đời sống tâm linh phong phú
Bằng những nẻo đường riêng, tiểu thuyết viết về nông thôn giai
đoạn này khai vỡ hiện thực tâm linh đã và đang tồn tại trong đời sống
văn hóa nông thôn với những mức độ và biểu hiện khác nhau.
3.3.1.1. Văn hóa tâm linh thể hiện trong việc xây dựng những không
gian thiêng (Làng Đông trong Bến không chồng, xóm Giếng Chùa trong
Mảnh đất lắm người nhiều ma, xóm cư dân sống bên bờ sông Châu Giang
trong Dòng sông Mía, làng Cổ Đình trong Mẫu thượng ngàn…).
3.3.1.2. Tôn giáo (Phật giáo, Thiên chúa giáo…) cũng là một “nhu
cầu tín ngưỡng, nhu cầu tâm linh” của người nông dân Việt Nam. Bởi vì,
tôn giáo là nơi mỗi người dân nỗ lực để thực hiện chân lí và đức tin, thể
hiện nỗi niềm ngưỡng vọng, cầu mong “ban phát tài lộc, hóa giải hung
hạn, ngõ hầu có một cuộc sống sung túc, khỏe mạnh, bình an” (Đội gạo
lên chùa, Đứa con của thần linh ).
3.3.1.3. Tin vào sự tồn tại của linh hồn là cách để người nông dân
tìm về với đời sống tâm linh (Bến không chồng, Mảnh đất lắm người
nhiều ma, Dòng chảy đất đai…).
3.3.1.4. Thế giới tâm linh cũng xuất hiện khi người nông dân rơi
vào trạng thái khủng hoảng, bất an (ông Hàm trong Mảnh đất lắm
người nhiều, lão Bành trong Đồng làng đom đóm,Tòng và Lường trong
Ma làng, Trần Tăng trong Dưới chín tầng trời, Ngô Quất trong Bóng
đêm và mặt trời…).
3.3.1.5. Năng lực dự báo của người nông dân cũng là một khía
cạnh nữa của đời sống tâm linh (ông Tạ Thế Thiên, lão Khổ trong Lão
Khổ, Đào trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, ông Xung trong Bến
không chồng…).
15
3.3.1.6. Đời sống tâm linh của người nông dân còn biểu hiện ở tính
duy nhiên. Không chỉ trong đời sống vật chất, thiên nhiên còn ảnh hưởng
sâu đậm đến đời sống tinh thần của con người. Không ít người tìm về tự

hành vi tình dục lệch lạc, “sa đọa”, “bất bình thường” của mụ Quản (Lão
Khổ), mụ Hơn (Bến không chồng), Lẹp (Dòng sông Mía)…
Có thể nói, khám phá nhu cầu tình yêu, tình dục vừa như là sự thôi
thúc bản năng tự kìm nén, lại vừa khơi gợi những ước ao hạnh phúc một
cách độc đáo và hết sức nhân bản. Tiếng nói ấy góp phần xây dựng hình
tượng người nông dân trong tiểu thuyết viết về nông thôn gần gũi, chân
thực, sinh động, bản chất hơn nhưng cũng đa dạng, đa phân hơn.
16
Chương 4
PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT
NAM VỀ NÔNG THÔN TỪ 1986 ĐẾN NAY
4.1. NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
4.1.1. Ngôn ngữ cuộc sống đời thường, nhiều màu sắc
4.1.1.1. Nhằm miêu tả hiện thực đời sống nông thôn và người
nông dân chân thực, như nó vốn có, ngôn ngữ trong tiểu thuyết viết về
nông thôn giai đoạn này đã thoát ly ngôn ngữ chuẩn mực, trang trọng,
thay vào đó là thứ ngôn ngữ ruộng đồng, gần gũi lời ăn tiếng nói hằng
ngày của người nông dân: chân chất, mộc mạc, thô ráp, đôi khi tục tĩu.
Ngôn ngữ đời thường biểu hiện trong việc sử dụng đại từ xưng hô, cách
gọi tên nhân vật rất thân mật, thậm chí suồng sã, bỗ bã. Ngôn ngữ “chợ
quê, đường quê”, chửi thề, văng tục của người nông dân được các nhà
văn vận dụng một cách đắc địa, góp phần thể hiện sinh động hiện thực
nông thôn, khẳng định cá tính riêng của người dân quê (Đứa con của
thần linh, Ba người khác, Dưới chín tầng trời, Thủy hỏa đạo tặc, Đồng
sau bão…).
4.1.1.2. Ngôn ngữ đời thường còn thể hiện trong việc sử dụng chất
liệu dân gian: thành ngữ, ca dao, hò vè, các bài khấn, những cách nói ví
von, so sánh… Đọc Mảnh đất lắm người nhiều ma, Bến không chồng,
Lão Khổ, Dòng sông Mía, Dòng chảy đất đai…, người đọc sẽ thấy tần
suất chât liệu xuất hiện rất lớn, góp phần tạo sắc thái ý nghĩa cho tác

thương, sẻ chia với người khác.
Ngôn ngữ độc thoại thể hiện qua những dòng suy nghĩ, tâm sự của
nhân vật giàu chất thơ. Ngôn ngữ giàu chất thơ làm nên sự quyến rũ riêng,
nó chuẩn bị tâm thế giúp người đọc lắng dịu lại để cảm nghiệm về những
suy tư, trăn trở của nhân vật (Bến không chồng, Ao bèo gợn sóng…).
Nhằm hướng vào thế giới bên trong, khám phá chiều sâu tâm
linh, tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn này còn sử dụng thủ
pháp độc thoại nội tâm - dòng ý thức. Trong Lão Khổ, Giời cao đất
dày, Bến không chồng…, các tác giả sử dụng độc thoại nội tâm -
dòng ý thức để khám phá những cung bậc tình cảm hạnh phúc/khổ
đau, niềm vui/nỗi buồn của nhân vật, qua đó, thế giới tinh thần của
nhân vật trở nên huyền bí, thiêng liêng.
Xét trên phương diện nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ độc thoại
nội tâm đã góp phần đem lại tính chất đa thanh, phức điệu cho ngôn ngữ
tiểu thuyết viết về nông thôn thời kỳ đổi mới.
4.2. GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT
4.2.1. Giọng điệu cảm thương, xa xót
4.2.1.1. Trước hết, các nhà văn viết về nông thôn sử dụng giọng
điệu này nhằm sẻ chia với những người nông dân áo lính thời hậu chiến
bị chấn thương. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng dư âm vẫn còn đọng lại,
những mất mát, đau thương và cả sự hi sinh của những người nông dân
áo lính vẫn đang tiếp diễn. Nỗi đau nhân lên gấp bội, vẫn còn vẹn
nguyên những nỗi niềm cô quạnh, những khát khao tình yêu, hạnh phúc
(Bến không chồng, Dòng sông Mía, Ao bèo gợn sóng…)
18
4.2.1.2. Đặc biệt, các tác giả sẻ chia, trân quý với những người
nông dân vất vả, khổ nhọc, chân yếu tay mềm. Dư vị sẻ chia bộc lộ rõ ở
Đồng làng đom đóm, Ma làng, Bến không chồng Đồng thời, các tác
giả đồng cảm, chia sẻ đối với những người nông dân có ý thức nhận ra
lỗi lầm, sai trái của mình (Lão Bành trong Đồng làng đom đóm, Lường

Giọng điệu triết lí trong Dưới chín tầng trời chủ yếu toát ra từ nhân vật
hay người kể chuyện. Người kể chuyện đôi khi buông ra lời nói rất nhẹ
nhàng, nhưng đậm chất triết lí. Tuy nhiên, giọng điệu triết lí chủ yếu tác
giả trao cho nhân vật tự triết luận, suy ngẫm khi đã có trải nghiệm nhất
19
định về cuộc đời, về nhân sinh, về được - mất của vòng xoay con tạo.
Đằng sau sự chiêm nghiệm, suy tư đó là cái nhìn tinh nhạy của chính
nhà văn trong việc nắm bắt những vấn đề nóng bỏng đặt ra trong đời
sống nông thôn Việt trong tiến trình lịch sử.
Lê Lựu cũng là cây bút nghiêng về giọng điệu triết lí, suy tư.
Trong Chuyện làng Cuội và nhiều tác phẩm khác, giọng điệu triết lí, suy
tư trải đều trên từng trang văn. Bằng cái nhìn sắc bén và một trái tim
nồng hậu đối với nông thôn và nông dân, tác giả đã sử dụng giọng điệu
triết lí để phản ánh quan niệm duy ý chí một thời cũng như những hậu
quả mà người nông dân gánh chịu do quan niệm ấy mang lại.
Như vậy, các nhà văn viết về nông thôn giai đoạn này không chấp
nhận “lối mòn” trong việc sử dụng giọng điệu, mà đã nỗ lực sáng tạo,
đổi mới để tạo nên các kiểu giọng điệu giàu sắc thái, uyển chuyển, mềm
mại, mang cốt cách người nông dân.
4.3. KẾT CẤU NGHỆ THUẬT
4.3.1. Kết cấu đơn tuyến và sự làm mới trên nền truyền thống
Tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn từ 1986 đến 2102 đã sử
dụng kết cấu đơn tuyến, nhưng không tuân thủ theo mô hình truyền
thống, mà “biến hóa” linh hoạt. Sự linh hoạt thể hiện trong việc thay đổi
cấu trúc theo hướng lịch sử - tâm hồn (mà không theo cấu trúc lịch sử -
sự kiện). Chính cấu trúc này, một mặt làm cho đời sống xã hội nông
thôn hiện lên trong tác phẩm đa chiều hơn, phong phú hơn, mặt khác đi
sâu khám phá đời sống tâm lý đầy phức tạp của người nông dân. Bến
không chồng, Dưới chín tầng trời, Thời xa vắng, Giời cao đất dày, Ao
bèo gợn sóng, Dòng sông chở kiếp, Ba người khác… tiêu biểu cho lối

biệt bóng tối… đã dung nạp nhiều thể loại khác nhau như thư, văn bản
hành chính, quảng cáo, bài đồng dao, những bài hát rao, phong dao cổ,
những vở kịch dân gian có phân vai, lời thoại… Pha trộn giữa các thể loại
trong tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn này không chỉ đơn thuần là
thao tác cơ học mà còn là trò chơi nghệ thuật đầy tính sáng tạo, đem lại
nhiều giá trị thẩm mĩ cho tác phẩm, kích thích khả năng liên tưởng độc
đáo ở độc giả; nới rộng cấu trúc thể loại, mở rộng trường nhìn, hỗ trợ tối
đa thủ pháp lắp ghép; giúp nhà văn có cái nhìn về hiện thực đời sống đa
chiều hơn, tránh được cái nhìn đơn nhất, lí tưởng, gia tăng điểm nhìn trần
thuật, tạo nên tính đối thoại giữa các nhân vật, giữa tác giả và người đọc;
đồng thời, qua đó, tính cách, quan điểm, tư tưởng của nhân vật - mà cũng
là của nhà văn được bộc lộ.
4.3.2.3. Lồng ghép điện ảnh
Lắp ghép điện ảnh là một trong kiểu kết cấu được tiểu thuyết nông
thôn giai đoạn này sử dụng khá hiệu quả. Tính tối ưu của kiểu lắp ghép
điện ảnh thể hiện ở chỗ: các sự kiện, các hành động của nhân vật được
che dấu như một “tảng băng ngầm”, khiến người đọc không thể biết
trước sẽ xảy ra đều gì, kết thúc câu chuyện ra sao? Người đọc buộc phải
đi tìm “mê cung đầy những ổ khóa”(Jean Rondan) để giải mã ẩn số đó.
Chuyện làng Cuội, Lời nguyền hai trăm năm… được xây dựng theo kiểu
lồng ghép điện ảnh tiêu biểu nhất.
21
4.3.3. Kết cấu buông lửng và sự vẫy gọi đồng sáng tạo
Kết cấu buông lửng là kiểu kết thúc mở, kết thúc vẫy gọi - một
trong những biểu hiện mang tính chất hiện đại trong kết cấu của tiểu
thuyết về nông thôn nói riêng, tiểu thuyết đương đại nói chung. Mảnh đất
lắm người nhiều ma, Dòng sông Mía, Trăm năm thoáng chốc… thể hiện
rõ nhất cho kiểu kết cấu buông lửng đã làm thay đổi hẳn lối tư duy mòn cũ
(kết thúc có hậu), đáp ứng được thị hiếu thẩm mĩ của độc giả hiện đại. Sự
cách tân đáng kể về kết cấu để ngỏ không chỉ thể hiện sự nghiêm túc, tài

thực tế hơn. Hiện thực nông thôn được phản chiếu qua lăng kính lồi lõm, với
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status