Tóm tắt luận văn Thạc sĩ Kế toán: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên thị trường - Pdf 58

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LÊ THỊ BẢO NGỌC

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN
MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO
TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH
HÀNG TIÊU DÙNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƢỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01

Đà Nẵng - 2017


Công trình được hoàn thành tại
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN

Ngƣời hƣớng dẫn KH: TS. Nguyễn Hữu Cƣờng

Phản biện 1: PGS. TS. Hoàng Tùng
Phản biện 2: GS. TS. Đặng Thị Loan

Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt
nghiệp Thạc sĩ Kế toán họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà
Nẵng vào ngày 27 tháng 8 năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng

cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong
báo cáo tài chính của các doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng


2
niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” để thực hiện luận
văn tốt nghiệp này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng mức độ CBTT trong BCTC của các DN.
Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTC của
các DN ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam. Và đề
xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao chất
lượng thông tin được công bố đối với các DN ngành này.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về CBTT trong
BCTC và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTC của
các DN ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Thông tin được công bố trong BCTC
năm 2015 đã được kiểm toán của tất cả các DN ngành hàng tiêu
dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Mức độ CBTT được đo lường bởi chỉ số CBTT bao gồm các
chỉ mục thông tin phải (hoặc nên) được quy định trong Thông tư
200/2014/TT-BTC và các chuẩn mực kế toán Việt Nam có liên quan
về CBTT trên BCTC năm.
- Ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT được kiểm
chứng thông qua phân tích hồi quy bằng mô hình hồi quy.
5. Bố cục đề tài
Luận văn được cấu trúc thành bốn chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công bố thông tin và các nhân tố

của DN và các nhân tố khác (bên ngoài DN). Điều đáng chú ý là kết
quả kiểm chứng về sự ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT
là không hoàn toàn giống nhau ở các nghiên cứu khác nhau [10].


4
Tuy vậy, nhân tố quy mô DN là một trong số những nhân tố được
kiểm chứng gần như trong tất cả các nghiên cứu trước đây [10]. Cụ
thể mối quan hệ cùng chiều giữa mức độ CBTT và quy mô DN được
ghi nhận trong rất nhiều các nghiên cứu trong nước (như [6], [8])
cũng như ngoài nước (như [24], [33], [36]).
Sử ảnh hưởng của khả năng sinh lời cũng được phần lớn các
nghiên cứu trước kiểm chứng nhưng không có kết quả thống nhất.
Trong khi một số nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa khả năng
sinh lời và mức độ CBTT (như [8], [12], [33]). Những người khác lại
cho rằng mối liên hệ này là không đáng kể (chẳng hạn [11], [31]).
Tỷ suất nợ cũng được xem là một trong những nhân tố bên
trong tác động đến mức độ CBTT của DN. Một số nghiên cứu trước
đây cho thấy mối liên hệ tích cực (ví dụ, [29], [33]), những người
khác lại tìm thấy một mối liên hệ tiêu cực (ví dụ, [25]) hoặc không
tìm thấy mối liên hệ giữa hai nhân tố này (ví dụ như [11], [12], [20]).
Khả năng thanh toán cũng được xem là một trong những nhân
tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT. Ví dụ, trong khi sự liên kết tích cực
đã được tìm thấy trong một số nghiên cứu (chẳng hạn như [11],
[29]); Những người khác lại cho thấy liên kết này không đáng kể (ví
dụ như [8], [12], [16]).
Sử ảnh hưởng của tài sản cố định cũng được các nghiên cứu
trước kiểm chứng nhưng phần lớn kết quả lại không tìm thấy được
mối liên hệ giữa tài sản cố định và mức độ CBTT của DN (chẳng
hạn như [7], [11], [24]).

Theo quan điểm của Bộ Tài Chính, CBTT được hiểu là
phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của DN nhằm bảo
đảm các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một
cách công bằng [14]. Cụ thể hơn, CBTT kế toán là việc công khai
toàn bộ thông tin của DN liên quan đến các hoạt động trong quá khứ,
những hoạt động hiện tại, những dự báo cho tương lai và nhiều thông
tin khác mà nhà đầu tư có yêu cầu thông qua hệ thống các BCTC
trong một thời kỳ nhất định [14].
CBTT bao gồm ba loại đó là CBTT bắt buộc, CBTT tự
nguyện (hay CBTT không bắt buộc) và CBTT tùy ý.
1.2. YÊU CẦU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN
1.2.1. Công bố thông tin theo quy định của chuẩn mực kế
toán
Việc CBTT kế toán phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau
(theo VAS 01 [1]): Trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu
và có thể so sánh.
1.2.2. Công bố thông tin kế toán trong báo cáo tài chính
Chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 01 [1] - Chuẩn mực chung
đã quy định rõ các yếu tố cơ bản của BCTC. BCTC phản ánh tình
trạng tài chính của DN bằng cách tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài
chính có cùng tính chất kinh tế thành các yếu tố của BCTC.


7
1.2.3. Công bố thông tin đối với doanh nghiệp niêm yết.
Để đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư cũng như sự phát triển
bền vững của thị trường và đáp ứng nhu cầu quản lý của Nhà nước,
Luật chứng khoán yêu cầu một sự CBTT cao hơn. Cụ thể, Thông tư
52/2012/TT-BTC yêu cầu việc CBTT của các DN niêm yết phải đảm
bảo tính “đầy đủ, chính xác và kịp thời” theo quy định của pháp luật.

dụng lý thuyết đại diện. Chẳng hạn như nghiên cứu của Garcia-Meca
& cộng sự [21], Oyeler & cộng sự [28], Rodriguez [30]. Các nhà
nghiên cứu này đã lý giải sự ảnh hưởng đến của các nhân tố như quy
mô của DN, đòn bẩy tài chính, và khả năng sinh lời.
1.4.2. Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory)
Lý thuyết tín hiệu chỉ ra rằng, thông tin không đối xứng giữa
DN và nhà đầu tư sẽ gây nên lựa chọn bất lợi cho nhà đầu tư. Và để
tránh tình trạng này, các DN CBTT một cách tự nguyện nhằm đưa
tín hiệu tốt đến thị trường [36]. Lý thuyết này ngụ ý rằng các DN có
kết quả hoạt động tốt thường sử dụng thông tin tài chính như là một
công cụ truyền tín hiệu đến thị trường. Các nghiên cứu về CBTT trên
thị trường tài chính thừa nhận rằng, các DN có khả năng sinh lời cao
sẽ đạt được lợi thế cạnh tranh thông qua việc CBTT [18].
1.4.3. Lý thuyết chi phí chính trị (Political cost theory)
Lý thuyết này cho rằng DN chịu chi phí chính trị cao sẽ công
bố nhiều thông tin hơn nhằm giảm thiểu gánh nặng của những chi
phí này. Kiểm tra thực nghiệm về mối liên hệ giữa chi phí chính trị
và mức độ CBTT có thể tìm thấy trong các nghiên cứu trước đây,
chẳng hạn như nghiên cứu của Inchausti [23] hay Raffournier [30].
Các nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, các DN có quy mô lớn, khả năng
sinh lời cao thường phải chịu một chi phí chính trị cao và lúc này,
mức độ CBTT của những DN này cũng cao hơn.


9
1.4.4. Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary costs theory)
Lý thuyết này giả định rằng không có mâu thuẫn giữa nhà
quản trị và chủ sở hữu, và do vậy cũng khẳng định tính tin cậy của
các thông tin được công bố tự nguyện. Một DN cũng sẽ phải chịu chi
phí sở hữu hay chi phí cạnh tranh bất lợi khi các bên liên quan có thể

được đo lường bởi ROA hay ROE. Lý thuyết đại diện chỉ ra rằng,
các nhà quản lý của DN có lợi nhuận cao thường thúc đẩy tiết lộ
thêm thông tin để tăng cường uy tín, năng lực làm việc của bản thân
và gia tăng mức thưởng của họ [33]. Còn theo lý thuyết tín hiệu, các
DN có lợi nhuận cao thường có xu hướng phát đi nhiều tín hiệu
thông qua việc CBTT để phân biệt với các DN có lợi nhuận thấp
nhằm giúp gia tăng giá trị cổ phiếu của họ.
1.5.3. Tỷ suất nợ
Tỷ suất nợ thường được tính bằng cách lấy tổng nợ của DN
chia cho giá trị tổng tài sản trong cùng kỳ của DN. Lý thuyết đại diện
chỉ ra rằng các DN càng nợ nhiều sẽ càng công bố nhiều thông tin
làm giảm chi phí đại diện. Lý thuyết tín hiệu cũng gợi ý rằng các DN
nợ càng nhiều thì các nhà quản trị DN càng có động cơ công bố
nhiều thông tin nhằm đáp ứng yêu cầu minh bạch của chủ nợ.
1.5.4. Khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán hay còn gọi là tính thanh khoản là khả
năng đáp ứng tình hình nợ của DN trong ngắn hạn. Theo lý thuyết tín
hiệu, DN có khả năng thanh toán càng cao sẽ CBTT càng nhiều
nhằm khuếch trương uy tín và tăng giá trị của DN. Ngược lại, cũng
có ý kiến cho rằng các DN có khả năng thanh toán thấp có thể tăng
cường CBTT để cho những cổ đông, nhà quản lý bớt lo lắng.
1.5.5. Tài sản cố định
Tài sản cố định là tư liệu sản xuất có giá trị lớn và liên quan
đến nhiều kỳ sản xuất kinh doanh của DN. Trong các nghiên cứu


11
trước đây, nhân tố tài sản cố định được đo lường bằng giá trị còn lại
của tài sản cố định trên tổng tài sản của DN. Theo lý thuyết tín hiệu,
các DN có giá trị tài sản cố định càng lớn càng cần phải CBTT nhiều

ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN
2.1. THỰC TRẠNG NGÀNH HÀNG TIÊU DÙNG TẠI VIỆT
NAM
2.2. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Mục đích của nghiên cứu của luận văn này là nhằm trả lời
hai câu hỏi sau. Một là, thực trạng CBTT trong BCTC của các DN
ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay như
thế nào. Và hai là, những nhân tố nào ảnh hưởng đến mức độ CBTT
trong BCTC của các DN ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK
Việt Nam?
2.3. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
H1: Các DN có quy mô càng lớn thì mức độ CBTT trong
BCTC của các DN càng cao.
H2: Các DN có khả năng sinh lời càng lớn thì mức độ CBTT
trong BCTC của các DN càng cao.
H3: Các DN có tỷ suất nợ càng lớn thì mức độ CBTT trong
BCTC của các DN càng cao.
H4: Các DN có khả năng thanh toán càng nhanh thì mức độ
CBTT trong BCTC của các DN càng cao.
H5: Các DN có tài sản cố định càng nhiều thì mức độ CBTT
trong BCTC của các DN càng cao.
H6a: Các DN có tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập
càng cao thì mức độ CBTT trong BCTC của các DN càng cao.
H6b: Các DN có tính độc lập của chủ tịch hội đồng quản trị
càng cao thì mức độ CBTT trong BCTC của các DN càng cao.


13
H7: Các DN có thời gian niêm yết càng dài thì mức độ CBTT
trong BCTC của các DN càng cao.


Tham số tự do

β1, β2, β3, β4, β5, β6, β7, β8 và β9 : Các tham số chưa biết của
mô hình.
QMDN:

Quy mô DN

KNSL:

Khả năng sinh lời

TSN:

Tỷ suất nợ


14
KNTT:

Khả năng thanh toán

TSCD:

Tài sản cố định

TLTVHDQTDL:

Tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị

công bố gồm có 149 chỉ mục (và được chia thành 8 nhóm), còn
thông tin mang tính tự nguyện gồm có 16 chỉ mục.
2.6.2. Đo lƣờng chỉ số công bố thông tin
Trong luận văn này, mức độ CBTT trong BCTC năm của các
DN niêm yết (Mj) được đo lường theo công thức sau:


15

Trong đó:

Mj : chỉ số CBTT của DN j, 0 ≤ Mj ≤ 1.
dij bằng 1 nếu chỉ mục thông tin i được công bố

trong BCTC của DN j.
dij bằng 0 nếu chỉ mục thông tin i có phát sinh mà
không được công bố.
nj : số các chỉ mục thông tin có thể công bố ở DN j
(Sau khi đã loại bỏ các chỉ mục thông tin không tồn tại trên BCTC
của DN) (n ≤ 165).
2.7. ĐO LƢỜNG BIẾN ĐỘC LẬP
Số
TT

Ký hiệu

1

QMDN


tài sản (ROA)

Tỷ suất nợ

Bằng nợ phải trả trên tổng tài sản

Khả

Bằng tài sản ngắn hạn trên nợ ngắn

năng

hạn

thanh toán
Tài

sản

cố

định
Tỷ lệ thành

6

TLTVH

viên hội đồng


Ký hiệu
T

Tên biến

Chỉ tiêu đo lƣờng và cách xác định

hội đồng quản

đồng quản trị và giám đốc điều hành

trị

của DN; nhận giá trị bằng không nếu
chủ tịch hội đồng quản trị cũng
chính là giám đốc điều hành của DN

8

TGNY

Thời

gian

niêm yết

Bằng thời gian kể từ khi DN niêm
yết lần đầu trên SGDCK đến thời
điểm nghiên cứu


17
Mức độ CBTT trong BCTC của các DN ngành hàng tiêu dùng
niêm yết trên hai SGDCK là như nhau nhau. Tuy nhiên, mức độ
CBTT trên BCTC của các DN niêm yết trên TTCK thành phố HCM
thì tuân thủ việc CBTT bắt buộc và tự nguyện tốt hơn so với các DN
niêm yết trên SGDCK Hà Nội (nhưng không đáng kể).
3.2. PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN MỨC
ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH HÀNG TIÊU DÙNG
3.2.1. Thống kê mô tả các biến độc lập
3.2.2. Phân tích tƣơng quan giữa các biến trong mô hình
Biến khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, tài sản cố định,
tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập, thời gian niêm yết và chủ
thể kiểm toán có mối quan hệ ngược chiều với mức độ CBTT chung,
còn lại các biến khác đều có mối quan hệ cùng chiều với biến phụ
thuộc mức độ CBTT chung. Hệ số tương quan giữa biến phụ thuộc
và từng biến độc lập dao động từ 0,026 đến 0,421. Trong đó, hệ số
tương quan cặp cao nhất giữa các biến độc lập ở cả 3 trường hợp đều
là tỷ suất nợ và khả năng sinh lời. Ngoài ra, hệ số tương quan cặp
giữa quy mô DN và chủ thể kiểm toán, tỷ suất nợ và khả năng thanh
toán ở cả 3 trường hợp cũng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
3.2.3. Kiểm định phân phối chuẩn
Kết quả kiểm định phân phối chuẩn cho thấy với các biến
mức độ CBTT bắt buộc, mức độ CBTT tự nguyện, mức độ CBTT
chung, khả năng sinh lời, tỷ suất nợ, khả năng thanh toán, tài sản cố
định, tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập, tính độc lập chủ tịch
hội đồng quản trị, thời gian niêm yết và chủ thể kiểm toán có phân
phối chuẩn, trong khi đó, biến quy mô DN đo lường bằng tổng tài
sản không có phân phối chuẩn nên được biến đổi bằng cách lấy

chứng khoán
a. Khuyến khích doanh nghiệp gia tăng công bố thông tin tự
nguyện
Đẩy mạnh tổ chức các buổi hội thảo cho các DN niêm yết về
ảnh hưởng cũng như lợi ích của DN khi tự nguyện công bố những
thông tin không bắt buộc. Ngoài ra, cũng cần có những cơ chế nhằm
khuyến khích các DN CBTT tự nguyện thông qua các giải thưởng
được trao hàng năm do hiệp hội DN và các nhà đầu tư bình chọn cho
các DN CBTT trung thực, kịp thời và hữu ích nhất.
b. Tăng cường chất lượng kiểm toán độc lập
Tăng cường và hoàn chỉnh khung pháp lý để kiểm soát công
tác kiểm toán. Bên cạnh đó, cần có những giải pháp theo hướng
khuyến khích, trợ giúp các DN kiểm toán nâng cao chất lượng báo
cáo kiểm toán như: đào tạo con người và xây dựng tài liệu hướng
dẫn kiểm toán.
4.1.2. Đối với nhà đầu tƣ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ CBTT có mối quan hệ
cùng chiều với quy mô doanh nghiệp và ngược chiều với các yếu tố:
khả năng thanh toán và chủ thể kiểm toán. Qua đó, nhà đầu tư có
thể rút ra kinh nghiệm khi quy mô DN càng tăng thì mức độ CBTT
càng cao, đồng thời khi khả năng thanh toán càng cao và chủ thể
kiểm toán càng lớn thì ngược lại mức độ CBTT trong BCTC của DN
ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK lại không mấy minh bạch.


20
Do đó, dựa vào các yếu tố này, các nhà đầu tư có thể nhận biết
được mức độ trung thực chính xác của các thông tin mà doanh
nghiệp công bố để kết hợp với một số thông tin khác nhằm đưa ra
các quyết định đầu tư chính xác hơn.

bảo mật, tính pháp lý của thông tin được công bố, đồng thời rút ngắn
thời gian CBTT.
Tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả, chất lượng của
kiểm toán độc lập; Tiếp tục hoàn thiện hệ thống kế toán DN nói
chung và hệ thống BCTC nói riêng; Nâng cao vai trò của Ủy ban
chứng khoán Nhà nước trong tham mưu cho Bộ Tài Chính sửa đổi,
bổ sung các văn bản pháp lý trong giám sát, quản lý việc thực hiện
các quy định trong lĩnh vực chứng khoán, đặc biệt là việc phát hành
chứng khoán của các DN niêm yết; Có sự phối hợp đồng bộ và chặt
chẽ trong mối quan hệ giữa các cơ quan điều hành và các tổ chức
cung ứng các dịch vụ CBTT trên thị trường.
b. Nâng cao trách nhiệm của giới truyền thông trong việc
công bố thông tin
Làm rõ vai trò của giới truyền thông trong hoạt động CBTT
của các DN niêm yết trên TTCK.
Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phải có sự phối
hợp với các cơ quan thông tin đại chúng đẩy mạnh việc tuyên truyền
thông tin với nội dung và phương thức đa dạng để công chúng hiểu
hơn về những lợi ích của việc minh bạch thông tin trên TTCK.
4.2. KẾT LUẬN
4.2.1. Kết quả đạt đƣợc
Mức độ CBTT của các DN ngành hàng tiêu dùng niêm yết chỉ
đạt 81,23% hay nói cách khác 18,77% thông tin không được công
bố. Điều này cũng có nghĩa là thông tin chưa được công bố đầy đủ.
Kết quả cũng chỉ ra mức độ CBTT trong BCTC của các DN ngành


22
hàng tiêu dùng niêm yết chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: quy mô DN,
khả năng thanh toán và chủ thể kiểm toán.

góp phần vào sự bền vững của thị trường chứng khoán. Trong thời
gian vừa qua, thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua nhiều sự
kiện thăng trầm do ảnh hưởng và tác động bởi nhiều yếu tố nhưng
trong đó, nổi bật nhất là vấn đề CBTT. Có rất nhiều sai phạm trong
CBTT như sai phạm trong CBTT bất thường, thông tin công bố
không đầy đủ. Việc thiếu minh bạch trong CBTT là nguyên nhân
chính gây ra những tin đồn thất thiệt ảnh hưởng đến TTCK, đặc biệt
là đối với các nhà đầu tư.
Nhà đầu tư là thành phần quan trọng nhất của TTCK. Sự phát
triển của TTCK của một quốc qia phụ thuộc rất nhiều vào nhà đầu
tư. Vì vậy bảo vệ nhà đầu tư là bảo vệ sự phát triển của thị trường từ
gốc. Tuy nhiên vai trò của nhà đầu tư ít được đề cập đến ở Việt Nam
trong thời gian qua.
Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng như những khuyến nghị
của tác giả với mong muốn góp một phần nhỏ giúp các DN niêm yết
nói chung cũng như các DN thuộc ngành hàng tiêu dùng niêm yết
nói riêng nhận thức được tầm quan trọng của việc CBTT trong
BCTC của các DN niêm yết trên TTCK Việt Nam, từ đó chú trọng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status