1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y
LƯƠNG QUANG ANH
NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ VÀ ĐÁNH GIÁ
SINH KHẢ DỤNG VIÊN NANG CHỨA PELLET
LANSOPRAZOL BAO TAN Ở RUỘT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC
2
HÀ NỘI 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y
LƯƠNG QUANG ANH
dược chất ít tan nên khi dùng theo đường uống thì sinh khả dụng bị ảnh
hưởng bởi tốc độ và độ hoà tan dược chất từ dạng thuốc. Hơn nữa,
lansoprazol rất nhạy cảm với nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, dễ bị phân hủy
trong môi trường acid dịch vị và kém bền nhất trong nhóm thuốc ức chế
bơm proton nên gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình bào chế cũng như
đảm bảo độ ổn định của chế phẩm [2]. Các nghiên cứu trên thế giới vẫn
đang được tiến hành để tiếp tục nâng cao độ ổn định, độ hòa tan của
lansoprazol trong các dạng bào chế bằng nhiều phương pháp khác nhau,
đồng thời ứng dụng đa dạng các loại tá dược nhằm tối ưu mục tiêu trên.
Để nâng cao sinh khả dụng của thuốc thì các biệt dược lansoprazol
chủ yếu được bào chế dưới dạng nang cứng chứa pellet bao tan ở ruột với
4
nhiều ưu điểm. Sau khi uống, nang cứng sẽ hoà tan vỏ và giải phóng ra các
pellet ở dạ dày. Pellet là những hạt nhỏ hình cầu nên chúng dễ dàng đi qua
môn vị để xuống ruột non khá đều đặn, tại đó pellet bao tan ở ruột giải
phóng dược chất để phát huy tác dụng điều trị. Do pellet có diện tích tiếp
xúc với bề mặt hấp thu lớn nên đảm bảo cho thuốc có sinh khả dụng cao
và ổn định. Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong nước vẫn chưa sản xuất
được và phải nhập khẩu pellet lansoprazol đã bao tan ở ruột để đóng nang
cứng. Điều này cho thấy việc sản xuất chế phẩm này phụ thuộc hoàn toàn
vào nhà sản xuất pellet lansoprazol ở nước ngoài. Ở Việt Nam, cho đến
nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về bào chế và đánh
giá sinh khả dụng của viên nang chứa pellet lansoprazol bao tan ở ruột được
công bố.
Hiện nay, Dược điển Mỹ đã có chuyên luận về viên nang chứa pellet
lansoprazol 30 mg bao tan ở ruột. Trong khi đó, yêu cầu chủ động về công
nghệ bào chế và sản xuất được chế phẩm này ở nước ta là cần thiết để
góp phần phát triển nền công nghiệp dược trong nước. Vì vậy đề tài:
6
acetonitril, dicloromethan, dễ tan trong dimethylformamid, tan trong
methanol, hơi tan trong ethanol. Độ tan của LPZ trong một số dung môi hữu
cơ như aceton, isopropyl alcol, npropanol, isobutyl acetat, nbutanol tăng lên
khi nhiệt độ tăng [5]. Nhiệt độ nóng chảy từ 178 182ºC [6]. LPZ là một
chất lưỡng tính với pKa= 4,15 (do nguyên tố N của nhân pyridin), 8,84 và
1,33 (do nhóm NH của nhân benzimidazol) [7].
Bảng 1.1. Độ tan của LPZ trong nước và trong đệm phosphat pH 6,8 (n=3)
Môi trường
Nước (250C )
Độ tan (μg/ml) (%) ± SD
34,478 ± 0,413 (18 giờ)
33,571 ± 5,46 (24 giờ)
pH 6,8 (370C)
44,162 ± 8,259 (24 giờ)
43,892 ± 1,46 (32 giờ)
* Nguồn: theo Pasic M. (2008) [8]
Theo Kristi A. và Vrecer F. thì độ tan của LPZ tăng khi pH môi
trường tăng. LPZ bị phân ly ở pH 9,0 và không bị phân ly ở các pH trung
tính dưới 9,0 [9]. Thử nghiệm của Wu C. và cộng sự cũng cho kết luận
tương tự về độ tan của LPZ liên quan đến pH môi trường, độ tan của LPZ
cao nhất ở pH 9,0 là 1291,5 µg/ml, thấp nhất ở pH 3,0 và tăng dần khi thử ở
pH 5,0; 7,0; 9,0. Tuy nhiên, ở pH 11,0 thì độ tan LPZ lại giảm đi chỉ còn
nhận thấy độ ổn định của các chất này được xếp theo thứ tự: đệm
phosphat
bởi ánh sáng. Khi tiếp xúc với bức xạ điện từ, dược chất sẽ hấp thụ bước
sóng đặc trưng và làm cho tốc độ phân hủy tăng lên. Sự phân hủy bởi ánh
sáng phụ thuộc vào độ dài và cường độ của sóng ánh sáng cùng với phản
ứng oxy hóa khử làm biến đổi màu sắc của dược chất (là biểu hiện rõ rệt
của sự phân hủy).
Để tăng độ ổn định của LPZ, bảo vệ dược chất tránh bị phân hủy
bởi các tác nhân (ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, acid dịch vị) và đảm bảo hiệu
quả điều trị, các chế phẩm của LPZ thường được bào chế dưới dạng hạt
hoặc pellet được bao kháng dịch vị rồi tiến hành đóng nang cứng hoặc dập
viên. Trong công thức bào chế nên sử dụng dược chất có độ tinh khiết cao,
các tá dược tương hợp với dược chất trong đó đáng chú ý là vai trò của tá
dược kiềm giúp LPZ ổn định hơn khi tiếp xúc với môi trường acid, dung
môi bào chế cũng cần tương hợp với dược chất nếu được sử dụng theo
từng phương pháp bào chế cụ thể (ví dụ: Phương pháp bồi dần, phương
pháp phun sấy...). Phương pháp và quy trình bào chế hạt hoặc pellet LPZ
cần hạn chế sự tiếp xúc giữa dược chất với nhiệt độ, độ ẩm cao và môi
trường acid. Bên cạnh đó, cần phải sử dụng các màng bao bảo vệ cũng như
màng bao tan ở ruột để hạn chế sự tiếp xúc của LPZ với các tác nhân gây
mất ổn định. Việc đóng nang hay sử dụng những vật liệu bao gói phù hợp
(như nang cứng ép vỉ nhôm nhôm) cũng cần thiết để tăng độ ổn định của
dạng bào chế chứa LPZ.
1.1.3. Dược động học
LPZ hấp thu nhanh, nồng độ tối đa trung bình đạt được trong khoảng
1,2 2,1 giờ sau khi uống, sinh khả dụng tuyệt đối trên 80 % [19], [20]. Cả
nồng độ thuốc tối đa và diện tích dưới đường cong (AUC) đều giảm
10
khoảng 50 % nếu dùng thuốc sau khi ăn 30 phút nhưng không bị ảnh hưởng
nếu dùng thuốc trước khi ăn [3], [21].
25 40
77
52
tuyệt đối (%)
Thời gian đạt Cmax (giờ)
T1/2 (giờ)
Liên kết protein (%)
Chuyển hóa qua gan
Thải trừ qua nước tiểu
1 3,5
0,8 1,3
95
Có
Không
1,2 2,1
0,9 2,1
97
Có
Không
1 6
0,5 1,2
95
Có
Không
Thời gian bán thải của thuốc là 1,5 (± 1,0) giờ. Thải trừ LPZ bị kéo
dài ở người suy gan nặng nhưng không thay đổi ở người bị suy thận nặng.
Do đó phải giảm liều đối với người bị bệnh gan nặng [3].
1.1.4. Tác dụng dược lý và một số dạng bào chế
1.1.4.1. Tác dụng dược lý
Cơ chế tác dụng: LPZ liên kết không thuận nghịch với H+/K+
ATPase trên bề mặt tế bào thành dạ dày, do đó ức chế sự vận chuyển cuối
11
cùng các ion hydrogen vào trong dạ dày. LPZ ức chế bài tiết acid dạ dày do
bất kì nguyên nhân nào [3].
Liều lượng và chỉ định:
+ Điều trị cấp viêm thực quản có trợt loét ở người bị trào ngược dạ
dày thực quản: người lớn dùng 30 mg/lần/ngày trong 4 8 tuần, có thể
thêm 8 tuần nữa nếu chưa khỏi. Điều trị duy trì để giảm tái phát: người lớn
15 mg/ngày.
+ Điều trị loét dạ dày tá tràng cấp: 15 30 mg/lần/ngày trong 4 8
tuần hoặc đến khi khỏi. Dùng phối hợp với amoxicilin và clarithromycin
trong điều trị nhiễm Helicobater pylori ở người loét dạ dày tá tràng thể
hoạt động [3], [23]. Có thể sử dụng LPZ để dự phòng loét dạ dày tá tràng
do các thuốc chống viêm không steroid gây ra [24], [25]. Theo Liu M.K. và
cộng sự, tác dụng diệt trừ Helicobacter pylori của LPZ tương đương với
RPZ trên bệnh nhân loét dạ dày tá tràng có nhiễm vi khuẩn này [26].
+ Điều trị các chứng tăng tiết acid bệnh lý như hội chứng Zollinger
Ellison, u đa tuyến nội tiết, tăng dưỡng bào hệ thống: người lớn bắt đầu từ
60 mg/lần/ngày, uống vào buổi sáng trước ăn, sau điều chỉnh liều cho phù
hợp mức độ hấp thu và cần thiết để đạt hiệu quả lâm sàng. Các lần sau
cần khoảng 30 180 mg hàng ngày, liều trên 120 mg thì nên chia làm 2 lần.
Cần giảm liều cho bệnh nhân mắc bệnh gan nặng, thường không quá 30
mặt, phát ban (ADR > 1/100). Các triệu chứng ít gặp như mệt mỏi, tăng
mức gastrin huyết thanh, enzym gan, hematocrit, hemoglobin, acid uric và
protein niệu (1/1000
15
đó, phương pháp quang phổ UV VIS là phương pháp đơn giản nhưng có
độ chính xác tương đôi cao nên có th
́
ể sử dụng phương pháp này để định
lượng LPZ.
1.1.5.2. Định lượng lansoprazol trong dịch sinh học
Phương pháp HPLC là phương pháp định lượng LPZ trong dịch sinh
học được áp dụng trong nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới cho kết
quả có độ chính xác cao.
Bảng 1.4. Một số nghiên cứu về định lượng LPZ trong dịch sinh học
STT
1
2
3
Tác giả
Điều kiện sắc kí
Cột: RP TSK gel ODS 120T (250 mm x 4,6 mm, 5
µm).
Detector: UV ở 285 nm.
Tốc độ dòng: 1 ml/phút.
Aoki I.
Chuẩn nội là dung dịch phydroxy benzoic acid n
butylester.
Chiết lỏnglỏng bằng tertbutylmethylether.
Giới hạn định lượng dưới trong huyết tương: 0,042
mg/l.
Cột: Dupont SBCN.
Detector: Mảng diod ở 285 nm.
Tốc độ dòng: 1,5 ml/phút.
Thể tích tiêm: 10 µl.
Pha động: Acetonitril:đệm kali dihydrophosphat pH 4,5
Dugger H.A.
(46:54), Chuẩn nội là megesterol acetat.
[75]
Chiết lỏnglỏng bằng tertbutylmethylether.
Giới hạn định lượng dưới trong huyết tương: 20 ng/ml.
STT
Tác giả
5
Karol M.D.
[76]
6
Masa K.
[77]
µg/ml.
Cột: Chiral CDPh (100 mm x 4 mm, 5 µm).
Detector: UV ở 285 nm.
Tốc độ dòng: 0,5 ml/phút.
Miura M.
Thể tích tiêm: 50 µl.
[78]
Pha động: NaClO4 0,5 M:acetonitril:methanol (6:3:1).
Chuẩn nội là (S)OPZ.
Chiết pha rắn.
Giới hạn định lượng dưới trong huyết tương: 10 ng/ml.
Cột: C18, 250 mm x 4,6 mm; 5 µm.
Detector: UV ở 285 nm.
Tốc độ dòng: 1 ml/phút.
Thể tích tiêm: 50 µl.
Pha động: đệm kali dihydrophosphat 10 mM:acetonitril
Noubarani M.
(53:47) điều chỉnh pH đến 7,3 bằng triethylamin. Chuẩn
[79]
nội là PPZ.
Chiết lỏnglỏng bằng tertbutyl methyl ether.
Giới hạn định lượng dưới trong huyết tương: 20 ng/ml.
STT
Tác giả
9
Qiao H.L.
(70:30, tt/tt).
Giới hạn định lượng dưới trong huyết tương: 3 ng/ml.
Ở trong nước, tác giả Vũ Ngọc Thắng và Nguyễn Ngọc Chiến đã
xây dựng phương pháp định lượng LPZ trong huyết tương chó bằng chiết
lỏng lỏng bằng tert butyl methyl ether, sử dụng chuẩn nội là PPZ với các
điều kiện sau: Cột sắc ký RP18 150 mm x 4,6 mm, 5 µm; pha động là hỗn
hợp dung dịch kali dihydrophosphat 0,01 M (điều chỉnh pH đến 8,0 bằng
triethylamin) ACN (65:35, tt/tt); tốc độ dòng 1 ml/phút; thể tích tiêm 50 µl;
detector UV ở bước sóng 285 nm. Phương pháp này dễ thực hiện, đảm bảo
hiệu suất chiết cao, cần dùng ít dung môi hữu cơ để chiết và cần một
lượng huyết tương nhỏ nên tiết kiệm được chi phí tiến hành và ít gây hại
với môi trường. Phương pháp đã được thẩm định, đáp ứng được yêu cầu
của phương pháp phân tích thuốc trong dịch sinh học theo hướng dẫn của
FDA và DĐVN IV. Đây là một trong những phương pháp đáng tin cậy để
định lượng LPZ trong nghiên cứu sinh khả dụng của thuốc trên động vật
thực nghiệm [82].
Trong các nghiên cứu trên, cột sắc ký HPLC pha đảo thường được sử
dụng để tách LPZ trong dịch sinh học. Pha động khá đa dạng với các tỷ lệ
phối hợp khác nhau, đáng chú ý là pH pha động hầu hết được các tác giả
đưa về giá trị trung tính hoặc kiềm. Về phương pháp chiết LPZ trong dịch
sinh học, đa số các tác giả đều sử dụng phương pháp chiết lỏng lỏng là
phương pháp dễ thực hiện và có chi phí thấp.
Bên cạnh phương pháp HPLC, phương pháp sắc kí lỏng khối phổ
(LCMS) [83], [84], [85], [86] và HPTLC [87] cũng được sử dụng để định
lượng LPZ trong dịch sinh học.
1.2. PELLET VÀ PELLET BAO TAN Ở RUỘT
19
1.2.1. Pellet và các thành phần của pellet
́
88],
[89], [90], [91]. Bên cạnh đó, micropellet còn để chỉ những hạt nhỏ có
đường kính chỉ từ 500 đến 700 µm [92]. Pellet la nh
̀ ững chế phẩm trung
gian được đóng vào nang cứng hoặc dập thành viên nén, trong đó đáng chú
ý là dạng thuốc chứa đa đơn vị liều là dạng bào chế hiện đại nhằm kiểm
soát giải phóng dược chất hoặc dùng để che vị [93].
Pellet có nhiều ưu điểm để ứng dụng đưa vào sản xuất các dạng bào
chế hiện đại vì pellet dê dang đi qua môn vi xuông ruôt non, có b
̃ ̀
̣
́
̣
ề mặt tiếp
xúc lớn và dễ phân bố đồng đều trong đường tiêu hoá nên lam tăng sinh
̀
khả dụng cua thuôc
̉
́ . Việc bao mang cho pellet thuân l
̀
̣ ợi hơn so vơi viên nen
́
́
hay hat, dê dang thu đ
̣
̃ ̀
ược chế phẩm có độ đồng đều về khối lượng và hàm
lượng dược chất, thuận lợi cho việc tao ra cac chê phâm thuôc
ương phap đ
́ ể bào chế pellet, sử dụng thiêt bi chuyên
́ ̣
dung riêng va co hiêu suât khac nhau. Ph
̣
̀ ́ ̣
́
́
ương phap bao chê khac nhau cho
́ ̀
́ ́
pellet co đăc tinh khac nhau
́ ̣ ́
́
về đô đông đêu vê kich th
̣ ̀
̀ ̀ ́
ươc, tinh chât bê măt,
́ ́
́ ̀ ̣
đô xôp, ty trong, đô c
̣ ́ ̉ ̣
̣ ứng. Các phương pháp bào chế pellet gồm có:
1.2.2.1. Phương pháp đùn tạo cầu
Là phương pháp được áp dụng rộng rãi nhất do ưu thế về năng suất
và chất lượng pellet thu được, có thể đưa vào dạng bào chế những dược
chất có hàm lượng cao [95]. Phương pháp này gồm các bước như sau: Tạo
hỗn hợp bột kép đồng nhất giữa dược chất và tá dược, tạo khối bột ẩm,
Hình 1.3. Cơ chế hình thành pellet bồi dần từ bột mịn
* Nguồn: theo Kandukuri J.M. (2009) [96]
1.2.2.3. Các phương pháp khác
Phương pháp đùn nóng chảy: Trong phương pháp đùn tạo cầu, cần
sử dụng chất lỏng để tạo hạt và phải sấy khô, tốn nhiều thời gian. Vì vậy,
phương pháp đùn nóng chảy được phát triển để có thể tạo ra những pellet
hình cầu mà không cần nước hoặc bất kì dung môi nào trong quá trình sản
xuất, giảm bớt sự ảnh hưởng của ẩm tới độ ổn định của dược chất [ 98].
Hơn nữa, pellet được tạo từ phương pháp này không cần lớp bao phim bên
ngoài do sự giải phóng dược chất được kiểm soát bởi quá trình khuếch tán
bên trong pellet dạng cốt.
22
Phương pháp phun sấy: Là phương pháp chuyển trực tiếp các dung
dịch hoặc hỗn dịch dược chất với tá dược vào luồng không khí nóng để tạo
thành các pellet nhờ thiết bị sấy phun. Dung dịch hoặc hỗn dịch dược chất
và tá dược được bơm và phun liên tục qua vòi phun có đường kính thích
hợp, biến dịch lỏng thành các giọt nhỏ. Các giọt nhỏ này bay hơi rất nhanh
dung môi và để lại các pellet khô ở bộ phận chứa của thiết bị.
Phương pháp phun đông tụ: Là phương pháp tương tự như phương
pháp phun sấy nhưng sử dụng luồng không khí lạnh. Trong quá trình phun
đông tụ, các giọt lỏng chứa dược chất nóng chảy, phân tán hoặc hòa tan
trong tá dược được làm lạnh xuống dưới điểm chảy của chất mang và tạo
thành pellet đông tụ hình cầu [88], [97].
Phương pháp kết tụ tạo cầu: Là một quá trình tạo pellet từ bột
dược chất và tá dược với một lượng chất lỏng thích hợp, hỗn hợp được
chuyển đổi thành các hạt hình cầu bởi quá trình cuộn hoặc nhào liên tục,
́ ứng đây đu cac
̀ ̉ ́
yêu câu trên co thê phôi h
̀
́ ̉
́ ợp hai hoăc nhiêu lo
̣
̀ ại polyme trong cung m
̀
ột
mang bao. V
̀
ỏ bao phải có khả năng kháng dịch vị trong khoảng thời gian
nhất định và rã, hòa tan một cách chắc chắn trong dịch ruột để giải phóng
dược chất [88].
Các dạng bào chế sử dụng các polyme bao tan ở ruột co đô tan phu
́ ̣
̣
thuôc vao pH đê bao mang bao tan
̣
̀
̉
̀
ở ruôt [
̣ 101], [102], [103] như cellulose
acetat phthalat (CAP), cellulose acetat trimellitat (CAT), polyvinyl acetat
phtalat (PVAP), Shellac, hydroxypropyl methylcellulose phtalat (HPMCP),
hydroxypropyl methylcellulose acetat succinat (HPMCAS), carboxymethyl
ethyl cellulose (CMEC), polyme acrylic là các sản phẩm trùng hiệp của acid
methacrylic như Eudragit L100, Eudragit S100, Eudragit L10055, Eudragit
trong đường tiêu hóa gợi ý cho việc sử dụng màng bao đối với các thuốc
giải phóng theo nhịp [107].
Fedorak R.N. và cộng sự đưa ra 2 viên nang chứa budesonid với
polyme bao tan ở ruột với chế phẩm tên thương mại là Entocort EC và
Budenofalk. Các chế phẩm này sử dụng polyme acid methacrylic để bao tan
25
ở ruột. Kết quả thử nghiệm cho thấy các chế phẩm này có khả năng giải
phóng budesonid tại vùng hỗng tràng và gần đại tràng, rất có hiệu quả
trong điều trị bệnh Crohn [108].
Bảng 1.5. Một số polyme có độ tan phụ thuộc vào pH
Polyme
Eudragit L100
Eudragit S100
Eudragit L10055
Polyvinyl acetat phtalat
Hydroxypropyl methylcellulose phtalat
Hydroxypropyl methylcellulose acetat succinat
Carboxymethyl ethylcellulose
Cellulose acetat trimelliat
Cellulose acetat phtalat
Shellac
pH
6,0
7,0
5,5
4,5 5,0