Công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ 5 tuổi ở các trường mầm non huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 58

VJE

Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt tháng 7/2019, tr 11-14; 150

CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH
TRONG VIỆC CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ 5 TUỔI
Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Lại Ngọc Phượng - Trường Mầm non Hoa Thiên Lý 1, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh
Ngày nhận bài: 25/6/2019; ngày chỉnh sửa: 7/7/2019; ngày duyệt đăng: 20/7/2019.
Abstract: From the theoretical issues, in the article, we show the current situation of between
school and families in the care and education of 5-year-old children in public preschools in Binh
Chanh district, Ho Chi Minh City and propose measures to manage this work in the district,
contributing to improving the quality and efficiency of coordination between schools - families
and the work of caring and educating children, creating conditions best for children to develop
comprehensively.
Keywords: Preschool, family, co-ordination, education, 5-year-old children.
Giáo dục mầm non (GDMN) là bậc học đầu tiên của
hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng
việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ.
Điều 94, Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi bổ sung
năm 2009, 2015) quy định trách nhiệm nuôi dưỡng, CSGD của gia đình: “Cha mẹ hoặc người giám hộ có trách
nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc, tạo điều kiện
cho con em hoặc người giám hộ được học tập, rèn luyện,
tham gia các hoạt động học tập của nhà trường. Mọi người
trong gia đình có trách nhiệm xây dựng gia đình văn hóa,
tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn diện về
đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ của con em; người lớn tuổi có
trách nhiệm giáo dục, làm gương cho con em, cùng nhà
trường nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục” [2] [3].
Trong thực tế hiện nay, vấn đề phối kết hợp giữa nhà
trường và gia đình trong công tác CS-GD trẻ 5 tuổi vẫn

trong việc chăm sóc, giáo dục (CS-GD) trẻ 5 tuổi ở các
trường MN công lập, trong những năm qua, Phòng GDĐT huyện Bình Chánh luôn thực hiện tốt chủ trương,
đường lối của Đảng, có sự vận dụng sáng tạo phù hợp
với thực tiễn địa phương. Tuy nhiên, việc giáo viên
(GV) trực tiếp trao đổi, tư vấn cho cha, mẹ của trẻ về
phương pháp CS-GD trẻ tại gia đình chưa được chú
trọng. Chính vì vậy, quản lí công tác phối hợp giữa nhà
trường và gia đình còn gặp khó khăn, chưa được thực
hiện thường xuyên. Đây chính là nội dung cần khắc
phục và có hướng cải thiện lâu dài.
Xuất phát từ thực tiễn trên, bài viết trình bày thực
trạng công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong
việc CS-GD trẻ 5 tuổi ở các trường MN công lập huyện
Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh; qua đó đề xuất một số
biện pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu
quả công tác phối hợp giữa nhà trường - gia đình trong
công tác CS-GD trẻ 5 tuổi.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Một số vấn đề về sự phối hợp giữa nhà trường và
gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non
2.1.1. Quy định về sự phối hợp giữa nhà trường và gia
đình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non

11

Email: [email protected]


VJE


trách nhiệm của cha mẹ đối với việc nuôi dạy con cái là
những vấn đề quan trọng nhất trong thực tiễn sư phạm.
2.2. Thực trạng nhận thức về công tác phối hợp giữa
nhà trường với gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục
trẻ 5 tuổi ở các trường mầm non công lập huyện Bình
Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1. Nhận thức của cán bộ quản lí, giáo viên về tầm
quan trọng của công tác phối hợp giữa nhà trường và
gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ 5 tuổi
Tháng 12/2018, chúng tôi tiến hành khảo sát nhận
thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của công tác phối
hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc CS-GD trẻ 5
tuổi ở các trường MN công lập. Đối tượng khảo sát: 212
người, bao gồm 29 CBQL (8 hiệu trưởng, 19 phó hiệu
trưởng), 183 GV tại 8 trường MN ở huyện Bình Chánh,
TP. Hồ Chí Minh (Trường MN 30-4, Trường MN Hoa
Sen, Trường MN Baby, Trường Mẫu giáo Hoa Phượng,

Số liệu ở bảng 1 cho thấy, tất cả các nội dung ý kiến
khảo sát đều được đánh giá ở mức độ “Rất quan trọng”
và “Quan trọng”; không có đánh giá nào ở mức “Ít quan
trọng” và “Không quan trọng”.
Đặc biệt nội dung về quản lí công tác phối hợp giữa
nhà trường và gia đình trong việc CS-GD trẻ 5 tuổi ở các
trường MN đánh giá ở mức độ “Rất quan trọng” là cao
nhất, đạt tỉ lệ 84,4 %. Qua đó, có thể thấy, quản lí công
tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc
CS-GD trẻ 5 tuổi ở các trường MN là sự kết hợp qua lại
một cách biện chứng, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ
đạo; còn gia đình đóng vai trò quan trọng hỗ trợ đắc lực


Bảng 2. Mức độ thường xuyên sử dụng và kết quả đạt được
ở các hình thức phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác CS-GD trẻ 5 tuổi
Mức độ sử dụng (%)
Kết quả (%)
STT
Nội dung
RTX
TX
ĐK
KSD
Tốt
Khá
TB
Yếu
Trao đổi với phụ
huynh qua đợt kiểm tra
1
46,0
49,8
4,3
0
90,0
9,6
0,5
0
sức khỏe hoặc kiểm tra
chỉ số phát triển của trẻ
Giới thiệu trang web
để phụ huynh trao đổi

12,4
0,5
0
GV với phụ huynh.
Thông qua các ngày lễ,
6
37,4
47,9
14,7
0
72,2
24,9
2,9
0
ngày hội
Trao đổi sổ liên lạc, sổ
7
56,7
41,9
1,0
0,5
87,9
12,1
0
0
bé ngoan
Phổ biến thông tin qua
bảng thông tin dành
8
59,2

Số liệu thống kê ở bảng 3 cho thấy, ý kiến của CBQL,
“Trao đổi trực tiếp giữa GV với phụ huynh” chiếm tỉ lệ GV được khảo sát đều ở mức độ “Thường xuyên” với tỉ
72,5% và “Phổ biến thông tin qua bảng thông tin dành lệ kết quả khảo sát trung bình khá cao, trong đó, nội dung
cho phụ huynh” chiếm tỉ lệ 59,2%. Bên cạnh đó, CBQL “Phối hợp thực hiện chương trình chăm sóc, bảo vệ sức
và GV đánh giá rất cao các nội dung sau “Trao đổi sổ khỏe cho trẻ” tỉ lệ 87,1% và “Phối hợp kiểm tra, đánh
liên lạc, sổ bé ngoan” tỉ lệ 56,7%; “Trao đổi với phụ giá công tác CS-GD trẻ” tỉ lệ 78,4%.

13


VJE

Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt tháng 7/2019, tr 11-14; 150

Tuy nhiên, kết quả khảo sát ở bảng 3 cho thấy, trong
nội dung “Tham gia xây dựng cơ sở vật chất” vẫn còn tỉ
lệ không đạt chiếm 5,3%. Như vậy, trong công tác xây
dựng kế hoạch phối hợp của CBQL phải đặc biệt chú ý
đến nội này trên để quản lí tốt hơn các nội dung phối hợp
từ phía nhà trường và gia đình.
2.3. Đề xuất biện pháp quản lí công tác phối hợp giữa
nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục
trẻ 5 tuổi ở các trường mầm non công lập huyện Bình
Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh
2.3.1. Nâng cao nhận thức về công tác phối hợp giữa nhà
trường và gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ 5
tuổi
Công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong
CS-GD trẻ chỉ thật sự có hiệu quả khi có sự tham gia tích
cực của phụ huynh nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện và

đạo trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm
tra, đánh giá công tác phối hợp đó.
2.3.3. Tổ chức, chỉ đạo công tác phối hợp giữa nhà
trường và gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ
5 tuổi
Tăng cường công tác tổ chức và chỉ đạo huy động các
lực lượng phối hợp giữa nhà trường và gia đình, góp phần
thực hiện mục tiêu giáo dục, nâng cao chất lượng CS-GD
trẻ. Việc CS-GD trẻ em được chia sẻ trách nhiệm giữa gia
đình, các nhà giáo dục cộng đồng sẽ thúc đẩy và tạo điều
kiện tối ưu cho sự phát triển toàn diện của trẻ; nhà trường
cũng cần chủ động tổ chức và chỉ đạo phối hợp thường
xuyên và chặt chẽ với các lực lượng trong và ngoài nhà
trường để xây dựng môi trường giáo dục thống nhất.
2.3.4. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá
công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc
chăm sóc, giáo dục trẻ 5 tuổi
Công tác kiểm tra là một hoạt động thường xuyên của
CBQL, GV; thông qua hoạt động này, CBQL, GV nắm
bắt một cách cụ thể vể tình hình thực hiện công tác phối
hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc CS-GD trẻ tại
các lớp (những thuận lợi, khó khăn), từ đó có kế hoạch
chỉ đạo và có những biện pháp can thiệp kịp thời giúp
GV hoàn thành nhiệm vụ CS-GD trẻ. Nhà trường kiểm
tra hoạt động sư phạm của GV nhằm động viên, thúc đẩy
GV hoàn thành tốt nhiệm vụ CS-GD trẻ theo hướng “lấy
trẻ làm trung tâm”, đồng thời nâng cao nhận thức cho
CBQL, GV trong công tác CS-GD trẻ.
(Xem tiếp trang 150)


gợi mở. Trong thời gian sắp tới, chúng tôi sẽ tiếp tục tìm
hiểu các biện pháp mới, đồng thời kết hợp các biện pháp
giáo dục STEM nhằm nâng cao kĩ năng GQVĐ cho trẻ
ở trường mầm non.
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ GD-ĐT (2011). Giáo dục kĩ năng sống trong các
môn học ở tiểu học lớp 1 (Tài liệu dành cho giáo
viên). NXB Giáo dục Việt Nam.
[2] Fisher Kelly - Hirsh Pasek - Golinkoff Roberta Laura Berk (2011). Playing around in School:
Implications for Learning And Educational Policy.
Oxford Handbook of the Development Play, Oxford
University Press.
[3] Colwell Malinda - Eric Lindsey (2013). Pretend and
Physical Play: Links to Preschoolers Affective
Social Competence. Merrill-Palmer Quarterly, Vol.
59 (3), pp. 330-360.
[4] Huỳnh Văn Sơn (2009). Nhập môn về kĩ năng sống.
NXB Giáo dục Việt Nam.
[5] H.D.Levitov (1963). Tâm lí học lao động.
Matxcova.
[6] Lecne.I.Ia (1977). Dạy học nêu vấn đề. NXB Giáo dục.
[7] Phan Khắc Nghệ (2012). Một số biện pháp bồi
dưỡng năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho

học sinh trong dạy sinh học. Tạp chí Giáo dục, số
286, tr 55-57.
[8] Hoàng Phê (2011). Từ điển tiếng Việt. NXB Đà
Nẵng.
CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG…
(Tiếp theo trang 14)

non.
[6] Hoàng Thị Hải Quế (2018). Phối hợp giữa nhà
trường, gia đình và xã hội trong chăm sóc, giáo dục
trẻ mầm non. Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt kì 1
tháng 5, tr 138-142.
[7] Nguyễn Thị Dư (2017). Kĩ năng phối hợp của giáo
viên mầm non với phụ huynh trong việc chăm sóc,
giáo dục trẻ. Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt kì 1 tháng
10, tr 26-28.

150




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status