DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADB
The Asian Development Bank - Ngân hàng Phát triển Châu Á
BYT
Bộ Y tế
CC
Chiều cao
CC/T
Chiều cao theo tuổi
CN
Cân nặng
CN/T
Cân nặng theo tuổi
CN/CC
Cân nặng theo chiều cao
CT
Suy dinh dưỡng
UNICEF
The United Nations Children's Fund - Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp
Quốc
UNDP
United Nations Development Programme - Chương trình Phát
triển Liên hợp quốc
VCDD
Vi chất dinh dưỡng
WHO
World Health Organization - Tổ chức y tế thế giới
WAZ
Weight-for-Age Z-score - Chỉ số Z-score cân nặng/tuổi
WHZ
Weight-for-Height Z-score - Chỉ số Z-score cân nặng/chiều cao
MỤC LỤC
2.2.5. Quá trình tổ chức nghiên cứu........................................................ 52
2.2.6. Phương pháp xử lý số liệu ............................................................ 54
2.2.7. Các sai số có thể mắc phải và biện pháp khắc phục ...................... 55
2.2.8. Đạo đức nghiên cứu...................................................................... 57
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................. 58
3.1. Xác định tỷ lệ suy dinh dưỡng, tỷ lệ thiếu máu ở trẻ từ 36 đến dưới 60 tháng
tuổi và một số yếu tố liên quan tại huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình ............. 58
3.2. Đặc điểm khẩu phần, tỷ lệ thiếu kẽm, thiếu sắt của trẻ em từ 36 đến
dưới 60 tháng tuổi tham gia nghiên cứu can thiệp............................... 67
3.3. Hiệu quả gạo tăng cường sắt, kẽm cải thiện tình trạng dinh dưỡng của
trẻ em từ 36 đến dưới 60 tháng tuổi tại địa bàn nghiên cứu ................ 76
Chương 4: BÀN LUẬN .............................................................................. 87
4.1. Tỷ lệ suy dinh dưỡng, tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em từ 36 đến dưới 60 tháng
tuổi và một số yếu tố liên quan tại huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình ....... 87
4.2. Phân tích đặc điểm khẩu phần, tỷ lệ thiếu sắt, thiếu kẽm của trẻ em từ
36 đến dưới 60 tháng tuổi tham gia nghiên cứu can thiệp ................... 96
4.3. Hiệu quả can thiệp gạo tăng cường sắt, kẽm cải thiện tình trạng dinh
dưỡng của trẻ em từ 36 đến dưới 60 tháng tuổi tại địa bàn nghiên cứu . 106
4.4. Tính mới của nghiên cứu .................................................................. 113
4.5. Hạn chế của nghiên cứu.................................................................... 114
KẾT LUẬN ............................................................................................... 115
KHUYẾN NGHỊ....................................................................................... 117
CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Phân bố trẻ từ 36 đến dưới 60 tháng tuổi tham gia nghiên cứu
theo giới . ................................................................................... 58
Bảng 3.19. Mức độ thiếu máu ở trẻ trước can thiệp ..................................... 74
Bảng 3.20. Hiệu quả can thiệp lên cân nặng và tình trạng dinh dưỡng thể
nhẹ câncủa trẻ ở 2 nhóm can thiệp và đối chứng ........................ 76
Bảng 3.21. Hiệu quả can thiệp lên cân nặng và tình trạng dinh dưỡng thể
nhẹ cân của trẻ theo nhóm tuổi................................................... 78
Bảng 3.22. Hiệu quả các biện pháp can thiệp lên chiều cao và tình trạng
dinh dưỡng thể thấp còi của trẻ .................................................. 79
Bảng 3.23. Hiệu quả can thiệp lên chiều cao và tình trạng dinh dưỡng thể
thấp còi theo nhóm tuổi .............................................................. 81
Bảng 3.24. Hiệu quả can thiệp đối với nồng độ Hb, kẽm huyết thanh và
feritin, TfR qua các thời điểm can thiệp. .................................... 82
Bảng 3.25. Hiệu quả can thiệp giảm tỷ lệ thiếu máu và thiếu kẽm ............... 83
Bảng 3.26. Hiệu quả cải thiện khẩu phần ăn của trẻ trước sau can thiệp
nhóm tuổi 1 ................................................................................ 85
Bảng 3.27. Hiệu quả cải thiện khẩu phần ăn của trẻ trước sau can thiệp
nhóm tuổi 2 ................................................................................ 86
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ các thể suy dinh dưỡng của trẻ từ 36 đến dưới 60
tháng tuổi .............................................................................. 59
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ SDD thể gầy còm theo nhóm tuổi và giới tính của trẻ từ
36 đến dưới 60 tháng tuổi....................................................... 60
Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ thiếu máu, thiếu kẽm ở trẻ trước can thiệp .................... 74
Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ thiếu sắt ở trẻ trước can thiệp ........................................ 75
Biểu đồ 3.5. Hiệu quả can thiệp tình trạng dinh dưỡng thể nhẹ cân ............ 77
Biểu đồ 3.6. Hiệu quả can thiệp lên tình trạng dinh dưỡng thể thấp còi của
trẻ ở 2 nhóm can thiệp và đối chứng....................................... 80
Biểu đồ 3.7. Hiệu quả can thiệp đối với dự trữ sắt thấp và dự trữ sắt cạn kiệt
của trẻ qua các thời điểm can thiệp......................................... 84
chất vào thực phẩm là can thiệp lâu dài, khả thi và bền vững nhằm cải thiện vấn
đề thiếu vi chất dinh dưỡng trên thế giới cũng như ở nước ta [4], [12].
2
Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp, nơi đây được coi là vựa lúa của đồng
bằng sông Hồng. Gạo cũng là nguồn lương thực chính không thể thiếu trong
bữa ăn hằng ngày của người dân Việt Nam nói chung và người dân Thái Bình
nói riêng, mức tiêu thụ trung bình của trẻ dưới 5 tuổi khoảng 191,6 g/trẻ/ngày.
Cho tới nay ở Thái Bình chưa có một chương trình tăng cường sắt, kẽm
phòng chống thiếu kẽm nào được triển khai, mặc dù một số nghiên cứu đã cho
thấy tỷ lệ thiếu đa vi chất ở trẻ dưới 5 tuổi tại Thái Bình chiếm tỷ lệ khá cao.
Do đó, với giả thiết nếu sử dụng gạo tăng cường sắt, kẽm trong khẩu phần của
trẻ sẽ giúp giảm tỷ lệ thiếu vi chất dinh dưỡng, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng
thấp còi. Vì vậy, chúng tôi triển khai chương trình bổ sung sắt, kẽm vào gạo
cho trẻ lứa tuổi 36 đến dưới 60 tháng tuổi là nhóm trẻ trong độ tuổi nhà trẻ,
mẫu giáo đã thực hiện hoàn toàn chế độ ăn cơm. Việc đánh giá hiệu quả của
gạo tăng cường sắt, kẽm lên tình trạng sức khỏe của người dân nói chung và
trẻ em nói riêng sẽ là cơ sở để đưa ra các chính sách phù hợp về tăng cường
đa vi chất vào gạo ở Việt Nam, bổ sung khuyến nghị cho nghị định 09/2016
NĐ-CP ngày 28/1/2016 của Chính phủ về qui định tăng cường vi chất vào
thực phẩm. Do đó, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Tình trạng dinh dưỡng và
hiệu quả can thiệp gạo tăng cường sắt, kẽm ở trẻ em từ 36 đến dưới 60
tháng tuổi tại huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình” nhằm mục tiêu:
1. Xác định tỷ lệ suy dinh dưỡng, tỷ lệ thiếu máu, ở trẻ em từ 36 đến dưới 60
tháng tuổi và một số yếu tố liên quan tại huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình năm 2015.
2. Phân tích đặc điểm khẩu phần và tỷ lệ thiếu sắt, thiếu kẽm của trẻ em
từ 36 đến dưới 60 tháng tuổi tham gia nghiên cứu can thiệp tại huyện Vũ Thư
tỉnh Thái Bình năm 2015.
được 1,5% trẻ em SDD nhẹ cân [122]. Theo báo cáo về tình hình an ninh
lương thực thế giới năm 2016, FAO đã nhận định rằng số ca SDD toàn cầu
4
tuy có giảm sau 15 năm nhưng vẫn còn ở mức cao [126]. Do đó, tình trạng
này sẽ khó có khả năng đạt được “mục tiêu phát triển thiên niên kỷ thứ nhất’’
giảm một nửa tỷ lệ SDD tại các nước đang phát triển từ 20,0% vào năm 19901992 xuống còn 10,0% vào năm 2015 [110].
Trong khi 98,0% nạn đói trên thế giới tập trung ở các nước đang phát
triển và chiếm đến 16,0% dân số thế giới thì tại từng khu vực cho thấy châu Á
là nơi tập trung chủ yếu của tình trạng SDD, đã tạo nên gánh nặng lớn về kinh
tế khi cải thiện tình trạng SDD tại khu vực này cũng như cản trở việc đạt được
mục tiêu thiên niên kỷ thứ nhất [59],[108],[121],[127].
Tại khu vực Đông Nam Á, tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi
cũng tương tự: tỉ lệ SDD thấp còi năm 1990 là 58,6% giảm xuống 33,9% vào
năm 2014; SDD nhẹ cân giảm từ 46,9% năm 1990 xuống 24,8% vào năm
2014 [100],[101],[109],[113].
Báo cáo của WHO cho thấy, đến năm 2015 trên toàn cầu có 156 triệu
trẻ em bị SDD thấp còi, chiếm khoảng 23,0% tổng số trẻ dưới 5 tuổi. Nhiều
bằng chứng cho thấy mặc dù số trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thấp còi còn cao,
nhưng tỉ lệ phân bố không đều ở các khu vực trên thế giới [60], [111], [125].
SDD thấp còi có mức độ trầm trọng hơn SDD thể nhẹ cân. Ở các nước
đang phát triển, trẻ ở nông thôn có nguy cơ mắc SDD thấp còi cao gấp 1,5 lần
so với trẻ ở thành phố [83], [88], [116]. Chiều hướng giảm SDD thấp còi ở trẻ
em dưới 5 tuổi cũng tương tự như với SDD nhẹ cân. Tỷ lệ SDD thấp còi ở các
nước đang phát triển là 26,8% (2014), toàn thế giới là 22,5% (2013) [123].
Dự đoán đến năm 2020, tỷ lệ SDD thấp còi trên toàn thế giới tiếp tục giảm.
Tỷ lệ SDD thấp còi ở các nước đang phát triển sẽ tiếp tục giảm từ 29,8% năm
2000 xuống khoảng 16,3% năm 2020. Ở Châu Phi mức độ giảm ít hơn rất
trẻ thiếu 2 vi chất kết hợp và 8,2% tổng số trẻ SDD thấp còi thiếu kết hợp cả 3
loại vi chất [11].
6
Các kết quả nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng Việt Nam đến năm 2014
cho thấy: Phân bố SDD ở nước ta không đồng đều giữa các vùng sinh thái,
nhiều địa phương miền núi tỷ lệ SDD cao hơn hẳn vùng đồng bằng. Tỷ lệ cao
nhất ở vùng Tây Nguyên (22,6% với SDD nhẹ cân và 34,9% với SDD thấp
còi). Ở vùng Đông Nam Bộ tỷ lệ SDD thấp hơn so với các vùng khác (8,4%
với SDD nhẹ cân và 18,3% với SDD thấp còi), thấp nhất trong các vùng sinh
thái của cả nước. Riêng tỷ lệ SDD thấp còi cao nhất ở vùng Tây Nguyên
(34,9%), Trung du và miền núi phía Bắc (20,3%). Tỷ lệ SDD thể thấp còi
không đồng đều theo vùng sinh thái. Vùng núi và cao nguyên phía Bắc và
Vùng bắc miền Trung và ven biển miền Trung vẫn ở cấp độ ý nghĩa sức khỏe
cộng đồng cao (>30,0%). Tốc độ giảm trung bình trong 10 năm qua của tỷ lệ
SDD nhẹ cân là 1,26%/năm; của tỷ lệ SDD thấp còi là 1,4%/năm [45].
SDD cũng có liên quan mật thiết với tình trạng kinh tế, xã hội của
người dân. Tỷ lệ SDD nhẹ cân của trẻ em ở nông thôn (13,8%) cao hơn vùng
thành thị (7,1%). Tương tự, tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ em ở vùng nông thôn
(21,8%) cao hơn vùng thành thị (12,1%), tỷ lệ SDD gày còm của trẻ em ở
vùng nông thôn (6,6%) cao hơn vùng thành thị (5,0%) [51].
Thái Bình là một tỉnh đồng bằng sông Hồng, năm 2010 tỷ lệ SDD thể
nhẹ cân của Thái Bình là 17,3%, SDD thấp còi là 26,7% cao hơn so với tỷ lệ
chung của vùng đồng bằng sông Hồng là 25,5%. Nghiên cứu của Trần Quang
Trung tại vùng ven biển huyện Tiền Hải, Thái Bình năm 2012 cho thấy, tình
trạng SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi phổ biến nhất là tỷ lệ mắc thể thấp còi với
26,9% rồi đến thể nhẹ cân 11,1% và thấp nhất là thể gầy còm 4,5%; tỷ lệ SDD
tăng dần lên theo tuổi, tăng nhanh từ nhóm 13-24 tháng và tỷ lệ cao nhất từ
đồng bằng Bắc bộ và Trung du cũng chưa xác lập được an ninh lương thực
hộ gia đình. Tổng Điều tra Dinh dưỡng toàn quốc năm 2010 gần đây cũng
cho thấy vẫn còn từ 10-25% số hộ thiếu đói lương thực vào thời điểm giáp
hạt. Tình trạng mất an ninh thực phẩm theo mùa là một vấn đề rất đáng quan
8
tâm. Đây vẫn còn là một tồn tại khá phổ biến; ở những hộ nghèo, có 33,0%
gia đình thiếu ăn trước thời vụ và 19,0% gia đình trong tình trạng thiếu ăn
sau thu hoạch [45].
1.1.3.2. Thực hành dinh dưỡng kém
Thực hành dinh dưỡng kém liên quan đến sự mất cân đối trong bữa ăn
và sự lựa chọn ưu tiên hợp lý cho đối tượng là trẻ em và người mẹ mang thai.
Ngay cả khi một hộ gia đình đảm bảo được an ninh lương thực vẫn có thể
thiếu lương thực thực phẩm đối với cá thể, nhất là các cá thể có nguy cơ cao
như trẻ em dưới 5 tuổi, phụ nữ mang thai… mà nguyên nhân chủ yếu là do
thực hành dinh dưỡng [64]. Các yếu tố nhạy cảm nhất trong thực hành dinh
dưỡng ở trẻ em là sữa mẹ, chế độ ăn bổ sung và kiến thức dinh dưỡng cũng
như trình độ văn hóa của bà mẹ ảnh hưởng tới chất lượng nuôi trẻ.
a) Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ chưa tốt
Sữa mẹ là nguồn thức ăn tự nhiên của trẻ em. Ngoài việc cung cấp chất
dinh dưỡng hợp lý về số lượng, còn là nguồn cung cấp globulin miễn dịch.
Hàm lượng và tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong sữa mẹ của phụ nữ Việt Nam
cũng tương đương với các nước khác. Tuy nhiên, phần lớn trẻ em, đặc biệt là
ở các nước kém phát triển và đang phát triển, thời gian bú sữa mẹ chưa được
đảm bảo, nhất là thời gian bú sữa mẹ hoàn toàn [80].
b) Ăn bổ sung không đủ số lượng và chất lượng bữa ăn
+ Về số lượng bữa ăn, chế độ chăm sóc ưu tiên không được chú trọng
dẫn đến số bữa ăn không đảm bảo và không đúng bữa đang còn tồn tại phổ
với con. Khi đời sống khá hơn, gia đình ít con, trình độ văn hóa người mẹ cao
hơn thì thời gian người mẹ dành cho đứa trẻ nhiều hơn và thực hành dinh
dưỡng cũng như chăm sóc trẻ tốt hơn và ngược lại [61]. Cuộc tổng điều tra về
dinh dưỡng trẻ em trên toàn quốc năm 2011 cho thấy: tỉ lệ SDD ở cả 3 thể:
nhẹ cân, thấp còi, gầy còm đều rất khác nhau giữa các vùng miền, giữa trình
10
độ học vấn, nhận thức của các bà mẹ và người chăm sóc trẻ: ở đồng bằng
Sông Hồng, các tỉ lệ SDD trên lần lượt là: 12,7%; 22,7%; 5,4%; ở ĐB Sông
Cửu Long lần lượt là: 15,2%; 26,8%; 7,0%; ở Tây Bắc lần lượt là: 22,1%;
33,6%; 6,9% và các tỉnh Tây Nguyên lần lượt là: 25,9%; 37,3%; 8,6% [31].
1.1.3.3. Vai trò của bệnh tật
Bệnh tật được coi là một trong hai nguyên nhân trực tiếp gây SDD ở trẻ
em. Nhiễm trùng làm tăng sự hao hụt các chất dinh dưỡng, trẻ biếng ăn và ăn
với số lượng ít hơn do giảm ngon miệng. Các nghiên cứu ước tính rằng nhiễm
trùng ảnh hưởng đến 30,0% sự giảm chiều cao ở trẻ em. Những trẻ có HIV
thường bị tiêu chảy và kéo theo là tình trạng SDD. Nhiễm khuẩn dễ đưa đến
SDD do rối loạn tiêu hoá, và ngược lại SDD dễ dẫn tới nhiễm khuẩn do
đề kháng giảm. Do đó, tỷ lệ SDD có thể dao động theo mùa và thường cao
trong những mùa có các bệnh nhiễm khuẩn lưu hành ở mức cao (tiêu chảy,
viêm hô hấp, sốt rét). Bên cạnh tiêu chảy, các bệnh nhiễm trùng khác cũng
ảnh hưởng nhiều tới dinh dưỡng như nhiễm khuẩn đường hô hấp, sởi và các
bệnh ký sinh trùng đường ruột [33], [46], [61].
1.2. Thực trạng thiếu máu, thiếu sắt, thiếu kẽm ở trẻ em
1.2.1. Thực trạng thiếu máu, thiếu sắt ở trẻ em
Thiếu máu và các thiếu hụt vi chất dinh dưỡng phổ biến ở khu vực
châu Phi, châu Á, khu vực tiểu vùng Sahara, đặc biệt là các nước kém phát
triển và đang phát triển, làm suy giảm tăng trưởng, giảm khả năng miễn dịch
thanh thấp chỉ có 1,5% ở nhóm suy dinh dưỡng bào thai trong ngày đầu sinh.
Tuy vậy, tỷ lệ thiếu máu ở đối tượng trẻ SDD bào thai trong nghiên cứu này
rất cao là 84,0% [26].
Nghiên cứu điều tra tình hình thiếu vi chất ở 6 tỉnh miền núi phía Bắc
đã phát hiện thấy tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em là 29,1% thuộc mức trung bình về ý
nghĩa sức khỏe cộng đồng. Tỷ lệ dự trữ sắt thấp (Ferritin
nhưng kết quả của một số nghiên cứu gần đây cho thấy tỉ lệ thiếu kẽm ở trẻ
dưới 5 tuổi là rất cao. Kết quả Điều tra về tình trạng dinh dưỡng tại 6 tỉnh ở
Việt Nam năm 2009 cho thấy tỷ lệ phụ nữ có thai bị thiếu kẽm là 90,0%; ở trẻ
em dưới 5 tuổi là 81,2% và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là 65,0% [4].
Tỷ lệ thiếu kẽm chiếm tỉ lệ rất cao, ngay ở cả khu vực thành thị (49,7%),
cao nhất là khu vực miền núi (80,8%) qua cuộc điều tra quốc gia về VCDD
năm 2014-2015 do Viện Dinh dưỡng Quốc gia tổ chức thực hiện ở 3 khu vực
trên toàn quốc, bao gồm khu vực thành phố Hà Nội, thành phố Huế, thành
14
phố Hồ Chí Minh; khu vực nông thôn (Nam Định, Nghệ An, Bạc Liêu); khu
vực miền núi (Bắc Kạn, Quảng Ngãi, Kon Tum) cho thấy, tỉ lệ thiếu kẽm của
3 vùng tương ứng là: 49,7%; 71,6%; - 80,8% (trung bình chung là: 69,4%). Tỉ
lệ người dân sử dụng thực phẩm bổ sung kẽm và đa vi chất chung của 3 khu
vực là 7,7% và 4,3% [27], [47].
Kết quả nghiên cứu của Trần Thúy Nga và cộng sự về tình trạng thiếu
kẽm của trẻ dưới 5 tuổi tại 5 xã thuộc huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình trên 447
trẻ dưới 5 tuổi được lấy máu đo nồng độ kẽm huyết thanh. Tỉ lệ thiếu kẽm ở
trẻ dưới 5 tuổi là 85,0%. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ thiếu kẽm
ở trẻ dưới 24 tháng tuổi là: 91,8% và ở trẻ 24-59 tháng tuổi là 81,3%. Tỉ lệ
thiếu thiếu kẽm ở trẻ dưới 5 tuổi tại các xã nghiên cứu rất cao [27].
Trong nghiên cứu của Phan Bích Nga khi tìm hiểu tình trạng VCDD
của trẻ sơ sinh đủ tháng có cân nặng thấp đẻ tại Bệnh viện Phụ sản Trung
ương kết quả cho thấy: Tỷ lệ kẽm huyết thanh thấp chiếm 52,8% ở nhóm trẻ
SDD bào thai. Theo Nhóm tư vấn quốc tế về Kẽm khoảng 27,8% người dân
Việt Nam đang có nguy cơ thiếu kẽm [26].
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Hà trên 6-36 tháng tuổi bị SDD
thấp còi tại huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, cũng cho thấy cho thấy, tỷ lệ
Nam của tác giả Phạm Vân Thúy cho thấy tỷ lệ trẻ bị thiếu kẽm là 51,9%
thuộc mức ý nghĩa sức khỏe cộng đồng nặng, và tỷ lệ thiếu kẽm ở nông thôn
cao hơn có ý nghĩa thống kê so với thành thị [38].
Nghiên cứu của tác giả Đặng Hoàng Cương khi đánh giá thực trạng
SDD và thiếu máu, thiếu kẽm, thiếu albumin, đặc điểm khẩu phần ở trẻ thấp
còi từ 25 đến 48 tháng tuổi tại 3 xã, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, năm
2016 cho thấy có 66,1% trẻ thấp còi bị thiếu kẽm trong đó tỷ lệ này là 62,5%
trẻ thấp còi nam và 69,2% trẻ thấp còi nữ. Tình trạng thiếu kẽm xảy ra ở
57,1% trẻ thấp còi trong độ tuổi 25-36 tháng và 75,9% trẻ thấp còi trong độ
16
tuổi 37-48 tháng. Có sự khác biệt giữa hai nhóm tuổi về tình trạng thiếu kẽm
với p
về tình trạng vi chất dinh dưỡng cho người dân, với chi phí rất hợp lý, đặc biệt
là nếu tận dụng được công nghệ hiện có và mạng lưới phân phối địa phương.
Tuy nhiên, mỗi cá nhân phải tiêu thụ một lượng thực phẩm tăng cường đầy
đủ. Do vậy, cần hỗ trợ người dân dễ tiếp cận và sử dụng với những loại thực
phẩm này. Tăng cường vi chất vào thực phẩm không được làm thay đổi thuộc
tính: mùi vị, cảm quan của thực phẩm đó [73],[74],[77].
1.3.3.1. Các yêu cầu đối với thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng
a) Đối với vi chất dinh dưỡng bổ sung
Theo qui định của pháp luật, VCDD bổ sung vào thực phẩm phải đảm
bảo các điều kiện sau [37]:
18
- Nguồn VCDD bổ sung vào thực phẩm phải đảm bảo chất lượng và vệ
sinh an toàn thực phẩm.
- Không gây ảnh hưởng đến tính chất của thực phẩm (màu sắc, mùi vị,
cấu trúc, đặc điểm chế biến).
- Không làm giảm thời hạn sử dụng của thực phẩm.
- Hàm lượng, dạng và độ tinh khiết của VCDD được qui định đối với
từng loại thực phẩm tăng cường VCDD khác nhau.
b) Đối với thực phẩm tăng cường VCDD [37].
- Thực phẩm phải có khả năng tiếp cận đến quần thể dân cư can thiệp
(giá cả, tính tiện dụng, khả năng phân phối, vận chuyển sản phẩm).
- Việc thiết lập qui trình sản xuất phải phù hợp để đảm bảo chi phí sản
xuất hợp lý.
- Sản phẩm phải có chất lượng dinh dưỡng (thành phần, hàm lượng các
VCDD) đáp ứng theo qui định, chất lượng cảm quan chấp nhận được đối với
các đối tượng tiêu thụ, phải đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Sự hợp pháp về nhãn mác sản phẩm, nhu cầu về dinh dưỡng và sức
sữa. Hình thức này thường do nhà nước chỉ định, ủy thác và quy định. Tăng
cường đại trà nói chung là lựa chọn tốt nhất khi phần lớn dân số có nguy cơ bị
thiếu hụt một VCDD cụ thể. Ở Việt Nam, trước đây Bộ Y tế đã ban hành văn
bản quy định các tiêu chuẩn kỹ thuật về bổ sung vi chất vào thực phẩm
(Quyết định số 6289/2003/QĐ-BYT ngày 9/12/2003), đưa ra những hướng
dẫn cụ thể về hàm lượng các VCDD được phép bổ sung trong bột mỳ, dầu ăn.
Đến đầu năm 2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 09/2016/NĐCP về quy định tăng cường VCDD vào thực phẩm. Nghị định có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 15/3/2016. Nghị định này quy định về VCDD bắt buộc tăng
cường vào thực phẩm, thực phẩm bắt buộc tăng cường VCDD và trách nhiệm
của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tăng cường VCDD vào thực