1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng trưởng ở trẻ em bị chi phối bởi nhiều yếu tố: yếu tố di truyền và
môi trường bên ngoài trong đó có dinh dưỡng. Dinh dưỡng hợp lý là yếu tố
môi trường quan trọng đối với sự tăng trưởng và kiểm soát sức khỏe, bệnh tật
trong các giai đoạn vòng đời. Đầu tư cho dinh dưỡng xuyên suốt vòng đời
không chỉ mang lại lợi ích về kinh tế mà còn mang ý nghĩa xã hội thiết thực
như tiết kiệm chi phí chăm sóc y tế, tăng năng lực trí tuệ và năng suất lao
động của người trưởng thành. Nhiều công trình khoa học đã ghi nhận dinh
dưỡng chính là nền tảng cho sự phát triển thể lực, sức khoẻ, trí tuệ, tầm vóc
của trẻ , . Tại hội nghị quốc tế cấp cao về dinh dưỡng lần thứ 2 tổ chức tại
Rome tháng 11/2014, các chuyên gia cảnh báo tình trạng SDD toàn cầu vẫn
tồn tại ở mức quá cao trong thời gian dài .
Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, tình trạng dinh
dưỡng cũng được cải thiện: Tỷ lệ SDD nhẹ cân của trẻ em dưới 5 tuổi của cả
nước năm 2009 là 18,9% và năm 2015 là 14,1%. Khi nhắc tới SDD, các
chuyên gia cho rằng nó không chỉ đơn thuần là nạn đói mà còn ám chỉ khái
niệm "đói tiềm ẩn" hay tình trạng thiếu các vi chất thiết yếu như Vitamin D,
A, sắt và kẽm. Suy dinh dưỡng và thiếu vi chất dinh dưỡng đang là vấn đề có
nghĩa sức khỏe cộng đồng, trong đó nhóm đối tượng có nguy cơ cao là phụ nữ
và trẻ em, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi. Các số liệu điều tra của Viện Dinh
dưỡng Quốc gia cho thấy, tỷ lệ thiếu hụt vi chất dinh dưỡng trẻ em ở mức trên
30%. Theo nghiên cứu của Lê Thị Hợp và cộng sự cho thấy: có 45,7% trẻ bị
thiếu máu kết hợp với thiếu kẽm; 39,9% thiếu máu kết hợp với thiếu selen,
30% thiếu máu kết hợp với thiếu magie.[….. ]
Sự thiếu hụt về vi chất dinh dưỡng hoàn toàn có thể phòng ngừa và thanh
toán được nếu các đối tượng có nguy cơ được bổ sung liên tục một lượng nhỏ
các vi chất đó. Để phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng có thể thực hiện nhiều
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình SDD ở trẻ em hiện nay và một số yếu tố liên quan
1.1.1. Tình hình SDD ở trẻ em trên Thế giới
Từ 576 cuộc điều tra đại diện của các quốc gia và vùng lãnh thổ trong
giai đoạn 1990 đến 2010 cho thấy năm 1990 trên thế giới tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi
bị SDD thể thấp còi chiếm khoảng 40,0%. Vùng châu Mỹ La tinh và Caribe là
24,6%. Tỷ lệ SDD thấp còi châu Á năm 1990 là 48,4%. Các quốc gia đang
phát triển là 44,6%; các quốc gia phát triển 6,1%. Đến năm 2010 trên toàn
cầu, thấp còi ở trẻ em đã giảm từ 39,7% xuống còn 26,7%. Tuy nhiên, mức độ
giảm tỷ lệ SDD thấp còi có sự khác nhau rõ rệt giữa các khu vực. Ở châu Phi
tỷ lệ thấp còi hầu như ít thay đổi. Sau 20 năm, tỷ lệ SDD thấp còi vẫn dao
động trong mức 40,0%; trong khi đó châu Á có những chuyển biến mạnh mẽ,
giảm đáng kể tỷ lệ SDD thấp còi từ 49,0% năm 1990 xuống còn 28,0% trong
năm 2010. Tuy nhiên, ở đa số các nước đang phát triển, thấp còi vẫn còn là
một vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng trong giai đoạn hiện nay. Khoảng
80% trẻ dưới 5 tuổi thấp còi trên thế giới nằm ở 14 quốc gia trong đó nhiều
quốc gia như Đông Timor, Burundi, Niger và Madagascar, Banglades,
Campuchia, Camarun, Etiopia có tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi thấp còi cao nhất
(hơn một nửa trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thấp còi) ,,, ,. Đến năm 2012 tỷ lệ
thấp còi chung toàn thế giới khoảng 25,0%; trong đó 56,0% ở Châu Á, 36,0%
ở châu Phi .
Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới công bố tháng 5/2012 cho thấy
trong 15 năm vừa qua các quốc gia đang phát triển trung bình mới chỉ giảm
được 1,5% trẻ em SDD nhẹ cân . Theo báo cáo về tình hình an ninh lương
thực thế giới năm 2016, FAO đã nhận định rằng số ca SDD toàn cầu tuy có
4
1.1.2. Tình hình SDD ở trẻ em tại Việt nam
Theo thống kê của Liên Hợp Quốc 80,0% trẻ bị suy dinh dưỡng thấp
còi trên thế giới tập trung ở 14 nước, trong đó có Việt Nam. Hiện nay, tình
trạng SDD tại Việt Nam phổ biến ở khu vực nông thôn và dân tộc thiểu số.
Năm 2014, điều tra tại 11 tỉnh cho thấy tỷ lệ thấp còi ở trẻ dưới 24
tháng tuổi là 9,5% trong đó 5,0% trẻ dưới 6 tháng tuổi và 15,3% trẻ từ 6 đến
23,9 tháng tuổi. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng nhẹ cân và suy dinh dưỡng gầy còm
tương ứng là 5,8% và 3,4%. Có 3,7% trẻ dưới 6 tháng tuổi và 8,4% trẻ từ 6
đến 23,9 tháng tuổi bị nhẹ cân. Tỷ lệ gầy còm là 3,3% ở trẻ dưới 6 tháng tuổi
và 3,6% ở trẻ từ 6 đến 23,9 tháng tuổi. Tỷ lệ thấp còi và nhẹ cân ở trẻ trai cao
hơn so với trẻ gái: 11,4% trẻ em trai so với 7,6% trẻ gái bị thấp còi; 6,4% trẻ
trai so với 5,1% trẻ gái bị nhẹ cân. Ở trẻ dưới 6 tháng tuổi, không có sự khác
biệt nào về tình trạng thấp còi, nhưng có một chút khác biệt về tình trạng nhẹ
cân và gầy còm .
Tỷ lệ thấp còi, nhẹ cân và gầy còm khác biệt tuỳ thuộc tỉnh thành
điều tra. Ở Đà Nẵng, tỷ lệ trẻ dưới 24 tháng tuổi bị thấp còi là thấp nhất
(4,9%). Các tỉnh có tỷ lệ trẻ thấp còi cao là Cà Mau (11,7%), Quảng Trị
(11,9%), Đắk Lắk (13,8%) và Đắk Nông (17,4%). Tỷ lệ trẻ nhẹ cân dao
động từ 2,6% tại Đà Nẵng đến 7,6% tại Hải Phòng. Tỷ lệ trẻ gầy còm dao
động từ 1,6% tại Đắk Nông đến 5,0% tại Hải Phòng. Tỷ lệ thấp còi và nhẹ
cân tăng theo tuổi, trong số trẻ từ 18 đến 23,9 tháng tuổi, 20,8% trẻ bị thấp
còi và 10,7% trẻ bị nhẹ cân .
Kết quả của tác giả Nguyễn Thanh Hà khi nghiên cứu về tình trạng đa
vi chất của trẻ từ 6-36 tháng tuổi SDD thấp còi tại huyện Gia Bình tỉnh Bắc
Ninh cho thấy, thiếu máu, thiếu vitamin A và thiếu kẽm trên trẻ SDD thấp còi
đều ở mức nặng theo phân loại của WHO. Trẻ bị SDD thấp còi có tỷ lệ thiếu
đa vi chất khá cao. Có 37,6% số trẻ suy dinh dưỡng thấp còi thiếu 1 loại vi
7
30,0% trong số trẻ em, riêng thể thấp còi có 36,8% phối hợp với các thể SDD
khác (27,0% phối hợp với nhẹ cân, phối hợp với thừa cân chiếm 5,9%, phối
hợp gầy còm là 3,9%) . Đến năm 2014, theo kết quả của hoạt động giám sát
dinh dưỡng hằng năm do Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh tiến hành dưới sự chỉ
đạo kỹ thuật của Viện Dinh dưỡng Quốc gia thì tại Thái Bình, tỷ lệ SDD nhẹ
cân là 13,8%; SDD thấp còi là 25,2% và SDD gầy còm là 6,6% .
Như vậy có thể thấy suy dinh dưỡng ở trẻ là vấn đề được nhiều tổ chức
quan tâm. Theo UNICEF, đến tháng 8/2016 trên toàn quốc có 45,0% ca tử vong
ở trẻ dưới 5 tuổi có liên quan đến suy dinh dưỡng. Đây là mối quan ngại về Y tế
Công cộng ở Việt Nam với khoảng 1,8 triệu trẻ em bị suy dinh dưỡng thấp còi.
Bên cạnh đó, có 200.000 trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng cấp tính nặng
1.1.3. Một số yếu tố liên quan tới SDD.
Ba yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến SDD là an ninh thực phẩm,
thực hành dinh dưỡng kém và bệnh tật, các yếu tố này chịu ảnh hưởng lớn
của đói nghèo.
1.1.3.1.An ninh lương thực hộ gia đình không đảm bảo: An ninh lương
thực hộ gia đình không đảm bảo là yếu tố quan trọng dẫn đến thiếu lương
thực về số lượng và chất lượng - bao gồm thiếu năng lượng, protein và vi chất
dinh dưỡng. Hiện nay, tỷ lệ hộ nghèo đói ở các vùng sâu, vùng xa và vùng
khó khăn còn cao. Đó chính là nguyên nhân tiềm tàng đe dọa tình trạng thiếu
dinh dưỡng cá thể. Ngoài ra mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố phụ thuộc vào
khả năng tiếp cận thực phẩm ở từng hộ gia đình mà cụ thể là phụ thuộc rất
nhiều vào kiến thức dinh dưỡng, phong tục tập quán kiêng khem của từng
nhóm dân tộc.
Nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng Quốc gia thấy; ngay ở khu vực đồng
bằng Bắc bộ và Trung du cũng chưa xác lập được an ninh lương thực hộ gia
đình. Tổng Điều tra Dinh dưỡng toàn quốc năm 2010 gần đây cũng cho thấy
9
như hoàn toàn không có kiến thức dinh dưỡng. Chính vì với chế độ chăm sóc
như vậy nên dạng thức ăn được sử dụng cũng rất tùy tiện. Có một bộ phận lớn
(45%) trẻ dưới 8 tháng tuổi được cho ăn bằng cháo nấu một lần ăn cả ngày.
Đây là dạng thức ăn rất nghèo năng lượng nhưng lại được sử dụng rất phổ
biến ở nông thôn.
+ Về chất lượng bữa ăn, tập quán nuôi dạy trẻ tùy tiện vẫn còn tồn tại
khá phổ biến ở nhiều vùng miền và có ảnh hưởng quan trọng đến tỷ lệ suy
dinh dưỡng chung trong cộng đồng. Ngày nay, trình độ dân trí đã thay đổi
đáng kể so với những thập niên trước, nhiều tập quán xấu đã được loại trừ
nhưng vấn đề cân đối bữa ăn cũng đang là tồn tại khá phổ biến.
+ Tần suất sử dụng thức ăn giàu năng lượng và giữ vai trò sinh học
quan trọng không cao.
+ Tập quán ăn kiêng, nguyên nhân đầu tiên là các bà mẹ không dám
cho trẻ nhỏ ăn thêm dầu mỡ, rau xanh vẫn còn tồn tại. Bên cạnh đó, bà mẹ
không có thời gian để chế biến cẩn thận từng bữa ăn cho trẻ. Nguyên nhân thứ
ba là do nghèo đói, không có tiền để mua thực phẩm thường xuyên cho trẻ.
c/ Trình độ văn hóa thấp và thiếu kiến thức dinh dưỡng
Nhiều tập quán ăn uống không có lợi như ăn kiêng (kiêng dầu mỡ, cá,
rau xanh…) còn duy trì; không biết tận dụng nguồn thức ăn giầu dinh dưỡng
sẵn có như đậu, vừng, lạc…bán trứng gà, hoa quả để mua thực phẩm chế biến
sẵn; không cho ăn đủ bữa, không thực hành bữa ăn cân đối…
Nguyên nhân tiềm tàng của SDD do sự bất cập trong dịch vụ chăm sóc
bà mẹ trẻ em, thiếu kiến thức của người chăm sóc trẻ, yếu tố chăm sóc của gia
đình, các vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường, tình trạng nhà ở không đảm
bảo, mất vệ sinh. Yếu tố không kém quan trọng đó là sự chăm sóc của mẹ đối
với con. Khi đời sống khá hơn, gia đình ít con, trình độ văn hóa người mẹ cao
bào trong cơ thể, trong đó giảm huyết sắc tố có ý nghĩa quan trọng nhất. Tổ
chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa: thiếu máu xảy ra khi mức độ huyết sắc
11
tố lưu hành của một người nào đó thấp hơn mức độ của một người khoẻ mạnh
cùng giới, cùng tuổi, cùng môi trường sống. Bởi vậy, thực chất thiếu máu là
thiếu hụt lượng huyết sắc tố trong máu lưu hành .
- Thiếu sắt: Là tình trạng thiếu hụt dự trữ sắt trong cơ thể, có thể biểu
hiện thiếu máu hoặc chưa có biểu hiện thiếu máu. Thiếu sắt thường là kết quả
của thiếu sắt có giá trị sinh học cao từ khẩu phần, tăng nhu cầu sắt trong
những giai đoạn cơ thể phát triển nhanh (thời kỳ có thai, trẻ em), và/hoặc tăng
mất máu như bị chảy máu đường tiêu hóa do giun móc . Thiếu sắt là hậu quả
của tình trạng cân bằng sắt âm tính kéo dài. Thiếu máu sẽ xuất hiện khi thiếu
sắt ảnh hưởng tới việc tổng hợp Hemoglobin (Hb).
- Thiếu máu do thiếu sắt: Thiếu máu do thiếu sắt là tình trạng xảy ra
khi hồng cầu bị giảm cả về số lượng và chất lượng .
1.2.1. Thực trạng thiếu máu, thiếu sắt ở trẻ em
Thiếu máu và các thiếu hụt vi chất dinh dưỡng phổ biến ở khu vực châu
Phi, châu Á, khu vực tiểu vùng Sahara, đặc biệt là các nước kém phát triển và
đang phát triển, làm suy giảm tăng trưởng, giảm khả năng miễn dịch và nhận
thức ,,,,. Theo kết quả tổng điều tra quốc gia về Vi chất dinh dưỡng năm 2014,
2015 - Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho thấy ở nhóm tuổi càng nhỏ trẻ càng có
nguy cơ thiếu máu cao: nhóm trẻ 0-12 tháng và 12-24 tháng có tỷ lệ thiếu
máu cao nhất đạt 45,0% và 42,7%; trong khi đó ở nhóm 24-35 tháng tỷ lệ này
là 23,0%; nhóm 36-47 tháng tỷ lệ này là 18,8%; nhóm 48-60 tháng tỷ lệ này
là 14,3%; tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em vùng thành thị là 22,2%; ở nông thôn là
28,4%; ở miền núi là 31,2% .
Nghiên cứu của Trần Quang Trung về thực trạng suy dinh dưỡng thấp
thiếu máu là 9,1%; thiếu sắt là 12,9%. Tỷ lệ thiếu máu, thiếu sắt thuộc mức ý
nghĩa sức khỏe cộng đồng nhẹ theo phân loại của WHO. Tỷ lệ thiếu máu và
tình trạng sắt của trẻ
Tỉ lệ người dân sử dụng thực phẩm bổ sung kẽm và đa vi chất chung của 3
khu vực là 7,7% và 4,3% , .
Kết quả nghiên cứu của Trần Thúy Nga và cộng sự về tình trạng thiếu
kẽm của trẻ dưới 5 tuổi tại 5 xã thuộc huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình trên 447
15
trẻ dưới 5 tuổi được lấy máu đo nồng độ kẽm huyết thanh. Tỉ lệ thiếu kẽm ở
trẻ dưới 5 tuổi là 85,0%. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ thiếu kẽm
ở trẻ dưới 24 tháng tuổi là: 91,8% và ở trẻ 24-59 tháng tuổi là 81,3%. Tỉ lệ
thiếu thiếu kẽm ở trẻ dưới 5 tuổi tại các xã nghiên cứu rất cao .
Trong nghiên cứu của Phan Bích Nga khi tìm hiểu tình trạng vi chất
dinh dưỡng của trẻ sơ sinh đủ tháng có cân nặng thấp đẻ tại Bệnh viện Phụ
sản Trung ương kết quả cho thấy: Tỷ lệ kẽm huyết thanh thấp chiếm 52,8% ở
nhóm trẻ suy dinh dưỡng bào thai. Theo Nhóm tư vấn quốc tế về Kẽm khoảng
27,8% người dân Việt Nam đang có nguy cơ thiếu kẽm .
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Hà trên 6-36 tháng tuổi bị SDD
thấp còi tại huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, cũng cho thấy cho thấy, tỷ lệ thiếu
kẽm trên trẻ SDD thấp còi cũng ở mức nặng theo phân loại của WHO. Tỷ lệ
thiếu kẽm giảm theo nhóm tuổi, tỷ lệ cao nhất ở trẻ 6-24 tháng tuổi là 41,5%
và thấp hơn ở nhóm trẻ 25-36 tháng tuổi là 38,2% .
Kết quả điều tra về tình trạng thiếu đa vi chất dinh dưỡng ở trẻ nhỏ tại
các vùng nông thôn Việt Nam của tác giả Nguyễn Văn Nhiên và cộng sự: tỷ lệ
thiếu kẽm, selenium, magnesium và đồng cao (86,9%; 62,3%; 51,9% và
1,7%). Tỉ lệ trẻ thiếu đồng thời từ 2 vi chất dinh dưỡng trở lên chiếm tới
79,4%. Các tác giả cũng tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa
thiếu máu và thiếu selenium, thiếu retinol huyết thanh. Kết quả của nghiên
cứu này cho thấy thiếu đa vi chất dinh dưỡng ở trẻ nhỏ vẫn là vấn đề rất phổ
biến ở Việt Nam .
với p
- Nguồn vi chất dinh dưỡng bổ sung vào thực phẩm phải đảm bảo chất
lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Không gây ảnh hưởng đến tính chất của thực phẩm (mầu sắc, mùi vị,
cấu trúc, đặc điểm chế biến).
- Không làm giảm thời hạn sử dụng của thực phẩm
- Hàm lượng, dạng và độ tinh khiết của vi chất dinh dưỡng được qui
định đối với từng loại thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng khác nhau
b) Đối với thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng
19
- Thực phẩm phải có khả năng tiếp cận đến quần thể dân cư can thiệp
(giá cả, tính tiện dụng, khả năng phân phối, vận chuyển sản phẩm)
- Việc thiết lập qui trình sản xuất phải phù hợp để đảm bảo chi phí sản
xuất hợp lý.
- Sản phẩm phải có chất lượng dinh dưỡng (thành phần, hàm lượng các
vi chất dinh dưỡng) đáp ứng theo qui định, chất lượng cảm quan chấp nhận
được đối với các đối tượng tiêu thụ, phải đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn
thực phẩm.
- Sự hợp pháp về nhãn mác sản phẩm, nhu cầu về dinh dưỡng và sức
khỏe đặt ra đối với sức khỏe cộng đồng.
Về tác động sinh học đối với thực phẩm bổ sung phụ thuộc vào:
- Hàm lượng các vi chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn
- Khả năng sinh học và sự chuyển hóa sinh học của các vi chất dinh dưỡng
- Tầm quan trọng của các chất dinh dưỡng bù đắp
Ý nghĩa sức khỏe cộng đồng của thực phẩm tăng cường bao gồm
- Giúp cho nhóm dân cư có nguy cơ cải thiện được giá trị sinh học của
các vi chất bổ sung thông qua thực phẩm tăng cường.
- Có hàm lượng các vi chất dinh dưỡng dưới ngưỡng mà khi tiêu thụ
dinh dưỡng bắt buộc tăng cường vào thực phẩm, thực phẩm bắt buộc tăng
cường vi chất dinh dưỡng và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
trong việc tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm. Nghị định áp dụng
đối với các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu vi chất dinh
dưỡng; thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng dùng trong nước và các cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; Không áp dụng đối với cơ sở xuất khẩu
21
thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng và cá nhân làm nghề sản xuất muối
thủ công .
Việc tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm nhằm tăng cường I
ốt vào muối để phòng, chống bệnh bướu cổ và các rối loạn do thiếu I ốt gây
ra; Tăng cường sắt vào bột mỳ để phòng, chống thiếu máu thiếu sắt và khắc
phục các hậu quả do thiếu máu thiếu sắt gây ra như chậm tăng trưởng, suy
dinh dưỡng, giảm phát triển trí tuệ; Tăng cường kẽm vào bột mỳ để cải thiện
tăng trưởng góp phần nâng cao tầm vóc con người; phòng chống một số rối
loạn chuyển hóa, biệt hóa tế bào, bệnh nhiễm khuẩn, rối loạn phát triển
xương, suy giảm chức năng sinh dục; Tăng cường vitamin A vào dầu thực vật
để phòng chống khô mắt, mù lòa và khắc phục các hậu quả như còi cọc, suy
dinh dưỡng do thiếu vitamin A gây ra và góp phần tăng cường sức đề kháng
cơ thể .
Theo Nghị định 09/2016 ngày 28/1/2016 của chính phủ: Thực phẩm bắt
buộc phải tăng cường vi chất dinh dưỡng gồm: Muối dùng để ăn trực tiếp,
dùng trong chế biến thực phẩm phải được tăng cường I ốt; Bột mỳ dùng trong
chế biến thực phẩm phải được tăng cường sắt và kẽm; Dầu thực vật có chứa
một trong các thành phần dầu đậu nành, dầu cọ, dầu hạt cải và dầu lạc phải
tăng cường vitamin A, trừ dầu thực vật dùng trong chế biến thực phẩm theo
phương pháp công nghiệp .
hợp thực phẩm, thiết lập và duy trì tiêu chuẩn đầy đủ về quản lý chất lượng,
và duy trì các hệ thống giám sát và phân phối.
- Tăng cường sinh học lương thực (Bio - fortification):
Tăng cường sinh học lương thực là cho ra đời, sửa đổi đặc điểm di
truyền của các loại cây trồng nhằm mục đích tăng hàm lượng vi chất có trong
đó, hoặc áp dụng phương pháp mới để đạt mục đích này. Hoàn toàn có thể
chọn các loại ngũ cốc (như gạo) và các loại đậu có hàm lượng vi chất sắt cao,
23
các giống cà rốt và khoai lang cho hàm lượng ß-caroten cao, và các giống ngô
có hàm lượng phytate thấp (để tăng hấp thu sắt và kẽm). Tuy nhiên, cần xem
xét đến tính an toàn, chi phí và ảnh hưởng của chúng đến môi trường nếu đó
là trường hợp biến đổi gen .
- Tăng cường tự nguyện hay bắt buộc:
Tăng cường thực phẩm được phân chia qua 2 loại: Bắt buộc hoặc tự
nguyện. Phân chia phụ thuộc vào mức độ quy định bắt buộc của luật pháp mà
nhà sản xuất thực phẩm phải tuân thủ.
Hình thức tăng cường thực phẩm bắt buộc
Những đặc điểm cơ bản:
Tăng cường bắt buộc là khi chính phủ yêu cầu nhà sản xuất tăng cường
một hay nhiều loại vi chất dinh dưỡng vào một hay nhiều loại thực phẩm cụ thể.
Hình thức tăng cường bắt buộc, nhất là khi được hỗ trợ bởi một hệ thống
phổ biến thông tin và thực thi đúng sẽ đạt được mức độ chắc chắn cao hơn.
Trong khi quyết định đưa ra quy định cho thực phẩm tăng cường bắt
buộc, phải đảm bảo sự kết hợp giữa thực phẩm và vi chất tăng cường hiệu quả
cho nhóm dân mục tiêu, an toàn cho cả nhóm dân số mục tiêu và nhóm dân
số không mục tiêu. Thực phẩm để tăng cường phải thuộc loại những hàng hóa
thông thường như bột mỳ, đường và muối có sẵn trên thị trường bán lẻ cho
Những người thường xuyên sử dụng thực phẩm tăng cường cũng có thể
đạt được những lợi ích nhất định.
Các quốc gia cần đưa ra quy định nhằm đảm bảo tính an toàn của loại
thực phẩm tăng cường cho tất cả người sử dụng, cũng như tạo cơ hội cho
ngành công nghiệp sản xuất thực phẩm tăng cường có cơ hội cung cấp chất
dinh dưỡng cho người sử dụng.
Hình thức tăng cường tự nguyện trong mối liên quan đến sức khỏe
cộng đồng
25
Hình thức tăng cường tự nguyện được áp dụng khi nguy cơ rủi ro thấp
đối với sức khỏe cộng đồng. Tình trạng thiếu VCDD do thay đổi về cách
sống, về kinh tế xã hội ít nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe hơn so với tình
trạng thiếu hụt do thay đổi thói quen và hành vi ăn uống.
Do không thống nhất về lượng vi chất tăng cường trong mỗi loại thực
phẩm và người dân có thể sử dụng thực phẩm tăng cường với số lượng khác
nhau, nên hình thức tăng cường tự nguyện ít khả năng cung cấp đầy đủ lượng
vi chất cần thiết cho toàn bộ dân số mục tiêu hơn so với hình thức tăng cường
bắt buộc.
Với nguồn cung cấp ổn định và phù hợp quy định, thực phẩm tăng cường
tự nguyện được sử dụng thường xuyên và rộng rãi bởi nhóm dân số mục tiêu
có thể mang lại lợi ích về sức khỏe cộng đồng bằng cách tích cực góp phần
cân bằng vi chất dinh dưỡng và giảm nguy cơ thiếu hụt.
c) Tiêu chuẩn xem xét lựa chọn tăng cường bắt buộc hay tăng cường tự nguyện.
Có 5 yếu tố quan trọng xác định sự lựa chọn giữa tăng cường tự nguyện
và tăng cường bắt buộc. Năm yếu tố này được mô tả tóm tắt dưới đây:
Yếu tố 1: Tầm quan trọng của sức khỏe cộng đồng hay nguy cơ thiếu
hụt, được xác định bởi các mức độ nghiêm trọng của vấn đề và sự phổ biến