1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƢƠNG
-----------------*-------------------
BỘ Y TẾ
PHAN HƢỚNG DƢƠNG
THỰC TRẠNG TIỀN ĐÁI THÁO ĐƢỜNG
VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP CÓ BỔ SUNG
METFORMIN Ở NGƢỜI CÓ BMI ≥ 23 kg/m2
TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG NĂM 2012 - 2014
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
HÀ NỘI – 2016
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƢƠNG
-----------------*-------------------
BỘ Y TẾ
PHAN HƢỚNG DƢƠNG
THỰC TRẠNG TIỀN ĐÁI THÁO ĐƢỜNG
đoạn trung gian của chuyển hóa bất thường glucose máu giữa bình thường và đái tháo
đường [110]. Giai đoạn tiền đái tháo đường đã xuất hiện kháng insulin, là giai đoạn
khởi đầu trong tiến trình tiến triển thành đái tháo đường typ 2. Nhiều nghiên cứu cho
thấy, ngay giai đoạn tiền đái tháo đường đã xuất hiện nhiều biến chứng của bệnh đái
tháo đường [22].
Người tiền đái tháo đường có nguy cơ bị đái tháo đường typ 2 cao gấp 3-10 lần
người bình thường. Sự phát hiện và can thiệp sớm người tiền đái tháo đường có khả
năng làm giảm hoặc làm chậm lại sự tiến triển thành đái tháo đường, các biến chứng
mạch máu nhỏ và tim mạch [66].
Nhằm ngăn chặn sự gia tăng của bệnh đái tháo đường trên toàn thế giới, đã có
nhiều nghiên cứu can thiệp phòng, chống bệnh ở những đối tượng có nguy cơ cao bị
đái tháo đường, đặc biệt người thừa cân, béo phì và tiền đái tháo đường. Các biện pháp
can thiệp bao gồm: dinh dưỡng, luyện tập và sử dụng thuốc [6].
Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển kinh tế, mô hình bệnh tật đang thay đổi, từ
các bệnh lây nhiễm sang các bệnh không lây nhiễm. Tỷ lệ đái tháo đường cũng đang
gia tăng nhanh chóng [16]. Theo kết quả điều tra của Bệnh viện Nội tiết Trung ương,
4
trong vòng 10 năm từ năm 2002 đến 2012 tỷ lệ đái tháo đường ở đối tượng 30-64 tuổi
đã tăng 200% từ 2,7% lên 5,4%, tiền đái tháo đường từ 7,3% lên 13,7% [2],[48].
Chúng ta cũng đã có những nghiên cứu can thiệp phòng bệnh bằng thay đổi lối
sống trên những đối tượng có yếu tố nguy cơ cao mắc bệnh đái tháo đường. Từ nhiều
năm nay, Dự án Phòng chống bệnh đái tháo đường quốc gia đã tiến hành sàng lọc phát
hiện sớm đái tháo đường, tiền đái tháo đường và thực hiện công tác tư vấn phòng bệnh
đối tượng tiền đái tháo đường sau sàng lọc tại cộng đồng. Biện pháp can thiệp phòng
bệnh chủ yếu hiện nay là dinh dưỡng và luyện tập không sử dụng thuốc. Tuy nhiên,
hiệu quả công tác tư vấn thay đổi lối sống cho người tiền đái tháo đường chưa đạt hiệu
quả như mong muốn do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu do sự khó khăn
Nhật Bản, Ấn Độ từ thế kỷ thứ 3 đến thứ 6 sau công nguyên với nước tiểu ngọt [101],
[116]. Tại Châu Âu, bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) đã không được biết đến, cho đến khi
Thomas Willis (1621 – 1675) sử dụng từ (Diabetes) để gọi căn bệnh này [101]. Năm
1674, AD. Thomas Willis là người đầu tiên so sánh vị ngọt của đường trong nước tiểu
giống như mật. Từ đó thuật ngữ diabetes mellitus (tiếng latinh, với nghĩa tiếng anh là
ngọt như mật ong) được sử dụng phổ biến cho đến ngày nay [6].
Đối với tiền đái tháo đường (tiền ĐTĐ), trước đây người ta thường dùng các thuật
ngữ như “Đái tháo đường tiềm tàng”, “Đái tháo đường sinh hóa”, “Đái tháo đường tiền
lâm sàng” để chỉ các trường hợp rối loạn dung nạp glucose (RLDNG) mà chưa có biểu
hiện lâm sàng [6].
Năm 1979, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã nêu khái niệm RLDNG. RLDNG
được WHO và Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) xem là giai đoạn tự nhiên của
rối loạn chuyển hóa carbohydrate. Năm 1999, rối loạn glucose máu lúc đói (RLGMLĐ)
là thuật ngữ mới được giới thiệu. Cả hai trạng thái này đều có tăng glucose máu nhưng
chưa đạt tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường [21]. Năm 2003, ADA đưa ra khái
niệm tiền đái tháo đường (Pre-diabetes) bao gồm RLGMLĐ và RLDNG. Năm 2006,
tình trạng rối loạn glucose máu trên được ADA có sự đồng thuận của WHO đặt tên
chính thức là tiền đái tháo đường (Pre-diabetes) [128].
* Định nghĩa đái tháo đƣờng: Theo Tổ chức Y tế thế giới, đái tháo đường là một rối
loạn chuyển hóa do nhiều nguyên nhân. Bệnh được đặc trưng bởi tăng glucose máu
mãn cùng với những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, lipid và protein do hậu quả của
6
sự suy giảm bài tiết insulin, hoạt động của insulin hoặc kết hợp cả hai [129].
* Định nghĩa tiền đái tháo đƣờng: Tiền đái tháo đường là tình trạng glucose máu cao
hơn mức bình thường nhưng chưa đến mức chẩn đoán bệnh ĐTĐ khi làm xét nghiệm
glucose máu lúc đói hoặc nghiệm pháp dung nạp glucose. Tiền đái tháo đường bao
gồm RLGMLĐ và RLDNG [65].
(140-200 mg/dl)
Rối loạn glucose máu Glucose máu lúc đói: 6,1 – 6,9 mmol/l (100-125 mg/dl)*
lúc đói
và (nếu đo)
Glucose máu 2 giờ sau nghiệm pháp: < 7,8 mmol/l (140
mg/dl)
* Năm 2003, ADA khuyến cáo: glucose máu lúc đói từ 5,6 – 6,9 mmol/l
7
* Phân loại bệnh đái tháo đƣờng
Theo Tổ chức Y tế thế giới, bệnh ĐTĐ được phân thành 4 loại sau [129]:
- Đái tháo đường typ 1: do quá trình tự miễn dịch phá hủy tế bào bê ta của tụy
dẫn đến sự thiếu hụt insulin tuyệt đối. Bệnh ĐTĐ type 1 ước tính chiếm khoảng 5-10%
bệnh ĐTĐ.
- Đái tháo đường typ 2: hậu quả kháng insulin hoặc/và suy giảm tăng dần bài tiết
insulin của tuyến tụy. Bệnh ĐTĐ typ 2 ước tính chiếm khoảng 80-90 % bệnh ĐTĐ.
Bệnh ĐTĐ typ 2 là sự tác động giữa yếu tố gen và môi trường sống. Có rất nhiều yếu
tố khác nhau ảnh hưởng đến sự tiến triển của bệnh. Phần lớn bệnh nhân ĐTĐ typ 2 là
bệnh nhân béo phì. Những bệnh nhân không bị béo phì có thể có sự tăng lên tỷ lệ phân
bố mỡ nội tạng tập trung ở vùng bụng.
- Đái tháo đường khác do nhiều nguyên nhân khác nhau : khiếm khuyết gen của
tế bào bê ta hoặc rối loạn quá trình chuyển hóa glucose (thể MODY), đột biến gen ảnh
hưởng đến hoạt động của insulin, bệnh lý tụy, thuốc, hóa chất…
- Đái tháo đường thai kỳ : đái tháo đường được phát hiện khi mang thai.
Do bệnh ĐTĐ typ 2 chiếm tỷ lệ lớn trong số bệnh nhân bị ĐTĐ (80-90%) và
bệnh ĐTĐ typ 2 cũng là bệnh có thể phòng hoặc làm chậm lại sự tiến triển thành bệnh
ở những người có nguy cơ cao bị bệnh. Vì vậy, trong nội dung nghiên cứu của luận văn
bệnh [124].
Người tiền ĐTĐ có nguy cơ rất cao tiến triển thành ĐTĐ typ 2 trong tương lai
nếu không có các biện pháp can thiệp kịp thời. Ngay tại giai đoạn tiền ĐTĐ, một số
mức độ tăng biến chứng mạch máu lớn và mạch máu nhỏ đã được mô tả [125]. Nghiên
cứu của Phan Long Nhơn, Đặng Xuân Hào và Hoàng Thị Kim Nhung tại Bình Định,
cho thấy trong số đối tượng bị tiền ĐTĐ đã có 30,15% THA, suy tim: 9,52%, bệnh
mạch vành: 1,58% và tai biến mạch máu não: 7,9% [41].
Người tiền ĐTĐ có nguy cơ bị ĐTĐ typ 2 cao gấp 3-10 lần người bình thường.
Sự phát hiện và điều trị sớm người tiền ĐTĐ có khả năng làm giảm hoặc làm chậm lại
sự tiến triển thành ĐTĐ, các biến chứng mạch máu nhỏ và tim mạch [66]. Trong
trường hợp tiền ĐTĐ không được phát hiện và can thiệp, bệnh thường diễn biến đến
ĐTĐ thật sự. Tình trạng bắt đầu bằng tăng glucose máu ở tiền ĐTĐ sẽ diễn biến đồng
thời với tổn thương chức năng tế bào bêta và tăng đề kháng insulin ở mô ngoại biên.
Khi glucose máu được kiểm soát sớm, chức năng tế bào bêta sẽ được bảo vệ [22].
9
Sự tiến triển thành ĐTĐ typ 2 ở người RLDNG từ 6-10% mỗi năm, người bị cả
RLDNG và RLGMLĐ thì tần số mắc bệnh ĐTĐ tích lũy trong 6 năm đến 65% (so với
mức 5% ở người có mức glucose máu bình thường tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu)
[105]. Nghiên cứu the Insulin Resistance Atherosclerosis Study–Hoa Kỳ cho thấy
những bệnh nhân được chẩn đoán RLGMLĐ, RLDNG hoặc hội chứng chuyển hóa thì
tỷ lệ tiến triển thành ĐTĐ là 8-10%/năm, nhưng nếu người bệnh có cả 3 chẩn đoán trên
thì tỷ lệ tiến triển thành ĐTĐ vượt xa 10%/năm [70]. Nghiên cứu tại Thượng Hải
(Trung Quốc) trong thời gian 3 năm, cho thấy những người bị RLDNG và RLGMLĐ
hoặc bị cả hai thì có nguy cơ bị ĐTĐ cao gấp 11,7 lần người có dung nạp glucose bình
thường [93].
1.1.3. Sàng lọc phát hiện bệnh đái tháo đƣờng typ 2 và tiền đái tháo đƣờng:
Bệnh ĐTĐ typ 2 thường tiến triển âm thầm, một giai đoạn dài “không triệu
1.2.1. Dịch tễ học tiền đái tháo đƣờng
1.2.1.1. Trên thế giới
Tiền ĐTĐ, giai đoạn đầu tiến triển của bệnh ĐTĐ, đang tăng nhanh trên toàn thế
giới. Tiền ĐTĐ tập trung ở các nước đang phát triển, đặc biệt những nước có tốc độ
phát triển nhanh như Ấn Độ, Trung Quốc. Do sự tăng lên của việc tiêu thụ thực phẩm
giầu năng lượng, của lối sống ít vận động và quá trình đô thị hóa làm gia tăng số lượng
người tiến triển thành ĐTĐ typ 2 [117].
Theo Liên đoàn đái tháo đường thế giới (IDF), năm 2010, ước tính trên toàn thế
giới có khoảng 344 triệu người (chiếm 7,9%) trong lứa tuổi 20-79 tuổi có RLDNG. Sự
bất thường dung nạp glucose thường đi kèm theo béo bụng, tăng huyết áp và rối loạn
mỡ máu hay còn gọi là hội chứng chuyển hóa. Những người có hội chứng chuyển hóa
có nguy cơ cao bị ĐTĐ và bệnh lý mạch vành [117]. Năm 2011, ước tính trên thế giới
tỷ lệ tiền ĐTĐ là 6,5% lứa tuổi 20 – 79 tuổi, tương ứng 280 triệu người. Tỷ lệ tiền
ĐTĐ sẽ tăng lên 6,7%, tương ứng 398 triệu người vào năm 2030 [89].
Tỷ lệ tiền ĐTĐ tại một số nước châu Phi thay đổi theo sự phát triển của kinh tế.
Ai Cập là nước Bắc Phi có tỷ lệ tiền ĐTĐ ở người trên 20 tuổi là 10%, trong khi đó tỷ
lệ RLDNG ở Cameroon (Tây Phi) ở người lứa tuổi 24-74 tuổi chỉ là 1,8%, còn tại
Nam Phi, tỷ lệ RLDNG là 7% [117].
Tại Hoa Kỳ, nghiên cứu 2005-2006, tỷ lệ RLGMLĐ là 25,7% và RLDNG là
11
13,8%, tương ứng khoảng 30% người bị tiền ĐTĐ ở lứa tuổi ≥ 20 tuổi [110]. Năm
2008, ước tính có 57 triệu người bị tiền ĐTĐ, nhiều người đã có các biến chứng mạch
máu nhỏ [75], năm 2010, có 79 triệu người lứa tuổi ≥ 20 tuổi bị tiền ĐTĐ [65].
Tại Châu Âu, kết quả của nhiều cuộc điều tra cho thấy tỷ lệ tiền ĐTĐ của các
nước khác nhau, cao nhất là Ba Lan (16,9%), Đan Mạch (15,2%), Thụy Điển (9%),
Phần Lan (8,8%)… thấp nhất là Anh (5,0%), Albani (2,4%) và Ailen (1,9%) [117].
Tại Châu Á, điều tra 6 thành phố lớn của Ấn Độ năm 2001 cho thấy tỷ lệ RLDNG
Nghiên cứu tại thành phố Thái Nguyên ở 1185 đối tượng 30-75 tuổi có nguy cơ
cao năm 2006, kết quả cho thấy tỷ lệ RLGMLĐ là 16,1%, tỷ lệ RLDNG là 10,4% [57].
Nguyễn Văn Hoàn, Hồ Văn Hiệu và cs nghiên cứu ở đối tượng 30-64 tuổi tại
Nghệ An. Kết quả cho thấy: tỷ lệ tiền ĐTĐ đã tăng từ 13,1% năm 2005 lên 19,3% năm
2010. Có sự khác biệt giữa các khu vực. Trong đó cao nhất là khu đô thị 15,4% năm
2005 và 21,3% năm 2010, tiếp theo là khu vực miền núi: 14,3% (2005) và 18,0%
(2010) và cuối cùng là khu vực đồng bằng: 11,7% (2005) và 17,2% (2010) [29].
Cao Mỹ Phượng, Đinh Thanh Huề và Nguyễn Hải Thủy điều tra 775 đối tượng
dân tộc Khmer tuổi ≥ 45 tuổi tại huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, kết quả tỷ lệ tiền
ĐTĐ là 17,0% [44].
Các nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy tỷ lệ tiền ĐTĐ tại một số
tỉnh/thành phố như sau: Yên Bái là 4,4% [19]; Quảng Bình là 14,8% [3]; Quảng Ngãi
là 21,4%, trong đó khu vực Hải đảo: 17,6%, miền núi: 19,2% và đồng bằng là 22,9%
[52]; thành phố Biên Hòa, Đồng Nai là 9,4% [61]; tỷ lệ RLGMLĐ tại thành phố Hồ
Chí Minh là 9,2% [34]; Thái Bình: tỷ lệ RLDNG: 5,8% và RLGMLĐ: 5,7% [24]; Nam
Định là 23,9%, Thanh Hóa là 11,7%, Phú Thọ là 9,6% và Sơn La: 7,9% [13].
Năm 2012, điều tra toàn quốc của Bệnh viện Nội tiết TW cho thấy tỷ lệ RLDNG
là 13,7%. Tỷ lệ RLDNG tại các khu vực như sau: miền núi phía Bắc: 10,7%, đồng
bằng sông Hồng: 11,2%, duyên hải miền Trung: 13%, Tây Nguyên: 10,7%, miền Đông
Nam Bộ: 17,5% và đồng bằng sông Cửu Long: 13,6% [48].
Năm 2014, Chu Thị Hà và cs điều tra tỷ lệ ĐTĐ thành phố Hà Nội trên 2402 đối
tượng tuổi từ 30-69 tuổi cho thấy tỷ lệ tiền ĐTĐ là 27,4%. Tỷ lệ tiền ĐTĐ khu vực nội
thành và khu vực ngoại thành xấp xỉ nhau tương ứng là 27,7% và 27% [25].
1.2.2. Yếu tố nguy cơ của tiền đái tháo đƣờng
Tiền ĐTĐ là giai đoạn trung gian của sự tiến triển thành bệnh ĐTĐ typ 2. Vì vậy,
13
các yếu tố nguy cơ (YTNC) của bệnh ĐTĐ typ 2 cũng là những YTNC làm tăng nguy
-
Rối loạn glucose máu lúc đói, rối loạn
dung nạp glucose
-
Tuổi
-
Tiền sử ĐTĐ thai kỳ
Hội chứng chuyển hóa:
-
Hội chứng buồng trứng đa nang
-
THA
Giảm HDL-c
Tăng triglycerides
-
Yếu tố dinh dưỡng
-
20-30%
Aboriginies ở Australia
-
Ấn Độ và Trung Đông
-
10-20%
-
Châu Âu và Bắc Mỹ
-
5-10%
-
Châu Phi
-
3,1%
Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ ĐTĐ cao ở người Mỹ gốc latine và người Mỹ gốc Phi. Điều tra
năm 1991 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở người da trắng là 6%, người Cuba là 9%, người
giảm khả năng tiết insulin. Khi tế bào tụy không còn khả năng tiết insulin đủ với nhu
cầu cần thiết của cơ thể, glucose máu sẽ tăng và bệnh ĐTĐ thực sự xuất hiện [54].
Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ ĐTĐ tăng lên đáng kể theo lứa tuổi. Tuổi từ 45 tuổi
trở lên là một yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh. Chính vì vậy theo khuyến cáo của
IDF, tại Việt Nam, Dự án Phòng chống đái tháo đường đã tiến hành sàng lọc phát hiện
sớm bệnh ĐTĐ, tiền ĐTĐ ở những người ≥ 45 tuổi và có thêm 1 yếu tố nguy cơ khác
như: thừa cân, béo phì, tiền sử rối loạn glucose máu, tiền sử gia đình bị ĐTĐ…[2].
Năm 2002, nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết TW cho thấy tỷ lệ tiền ĐTĐ tăng
theo nhóm tuổi. Cụ thể tỷ lệ RLDNG ở nhóm tuổi 30-34, 35-39, 40-44, 45-49, 50-54,
55-59 và 60-64 tuổi tương ứng là 3,9%, 6,1%; 7,9%; 7,5%; 10,1%; 11,4% và 12,5%
(p
kỳ. 30-50% phụ nữ mắc ĐTĐ thai kỳ sẽ bị lại khi mang thai sau này. Khoảng 20-50%
phụ nữ ĐTĐ thai kỳ sẽ tiến triển thành ĐTĐ typ 2 trong vòng 5-10 năm [110].
Việt Nam chưa có số liệu toàn quốc, tuy nhiên nghiên cứu tại một số tỉnh/thành
phố như sau: tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội thì tỷ lệ ĐTĐ thai kỳ là 3,6% [9],[49],
Bệnh viện Bạch Mai là 7,9% [38], Đồng Nai là 8,5% [40], Bệnh viện A Thái Nguyên
là 9,4% [39].
Phạm Thị Lan, Tạ Văn Bình và cs nghiên cứu 1611 phụ nữ mang thai quản lý tại
Bệnh viện Phụ sản Trung ương và Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ năm 2002 – 2004: tỷ
lệ ĐTĐ thai kỳ là 3,9% [10].
1.2.2.2. Yếu tố nguy cơ thay đổi đƣợc:
Béo phì
Béo phì là sự thái quá mô mỡ của cơ thể dẫn đến ảnh hưởng bất lợi đối với sức
khỏe. Béo phì được coi như là bệnh lý vì nó có thể gây ảnh hưởng tới tâm sinh lý và
cuộc sống xã hội của người béo phì. Trên lâm sàng, chỉ số khối cơ thể BMI (Body
Mass Index) đã được sử dụng phổ biến nhất để chẩn đoán béo phì . Theo WHO, người
thừa cân khi có BMI ≥ 25 kg/m2, còn đối với người Châu Á, thừa cân khi BMI ≥ 23
kg/m2 [84],[132].
Bảng 1.4. Phân loại thừa cân, béo phì theo BMI - ngƣời trƣởng thành Châu Á
(WHO 1998) [36]
Phân loại
BMI (kg/m2)
Yếu tố nguy cơ mắc bệnh
Gầy
< 18,5
Thấp (nhưng tăng YTNC các bệnh khác)
18
Vòng bụng là chỉ số đơn giản nhất để đánh giá tầm quan trọng của khối mỡ nội tạng
[95]. Béo phì hiện đã trở thành nạn dịch trên toàn thế giới, không chỉ ở các nước phát
triển và các nước đang phát triển mà thậm chí còn ở các nước chậm phát triển.
Béo phì là yếu tố nguy cơ lớn đối với bệnh ĐTĐ typ 2. Các nghiên cứu cho thấy
có mối quan hệ chặt chẽ giữa khối lượng mỡ của cơ thể và nguy cơ bị bệnh ĐTĐ. Tỷ lệ
béo phì ở người bị ĐTĐ typ 2 thay đổi giữa các khu vực trên thế giới: 60 – 80% ở
Nam Mỹ, Châu Âu đến 100% ở người Da đỏ Pima, các đảo Thái Bình Dương [84].
Nhiều nghiên cứu cho thấy các dạng rối loạn lipid máu khác nhau thường tăng lên
trong béo phì, nhất là các a xít béo tự do. Béo phì, đặc biệt là béo tạng, đóng vai trò
quan trọng trong kháng insulin [95].
Mối liên quan giữa béo phì và ĐTĐ typ 2 ngày càng được hiểu biết hơn nhưng
cũng ngày càng phức tạp hơn. Rõ ràng nhất đó là Hội chứng chuyển hóa bao gồm các
yếu tố đan xen có liên quan tới nhau như: béo phì và rối loạn hoạt động của mô mỡ,
tình trạng kháng insulin, tăng HA, tăng cholesterol máu, hạ thấp nồng độ HDLcholesterol, tăng nồng độ glucose máu (RLDNG hoặc ĐTĐ) [77]. Nguy cơ bị bệnh
tăng khi BMI > 24 kg/m2, còn đối với người Châu Á, nguy cơ bị bệnh xuất hiện ở mức
BMI thấp hơn [84]. Béo trung tâm (béo bụng được đánh giá bằng vòng bụng ≥ 90 cm
đối với nam và ≥ 80 cm đối với nữ) là YTNC mạnh phát triển bệnh. Nhiều nghiên cứu
đã chỉ ra rằng vòng eo hoặc chỉ số eo/hông có thể là YTNC phát triển thành ĐTĐ hơn
là BMI [79]. Nghiên cứu INTERHEART đã cho thấy béo phì, đặc biệt là béo bụng còn
làm tăng nguy cơ bệnh lý tim mạch [82].
Nghiên cứu EPIC Potsdam cho thấy ở lứa tuổi 25 - 40 tuổi cứ tăng 1 đơn vị BMI
thì nguy cơ bị ĐTĐ typ 2 tăng 25% và tỷ lệ còn lớn hơn ở lứa tuổi 40 – 55 tuổi. Điều
này cho thấy béo phì là yếu tố nguy cơ rất mạnh của ĐTĐ typ 2 [84]. Một nghiên cứu
tiến cứu ở các nữ y tá ở Mỹ có BMI từ 23- 24,9 kg/m2 trong vòng 14 năm cho thấy
tăng nguy cơ ĐTĐ typ 2 từ 4-5 lần so với nữ y tá có BMI < 22 kg/m2. Những phụ nữ
có BMI 29 – 30,9 kg/m2 có nguy cơ bị ĐTĐ cao gấp 27,6 lần [84].
người hoạt động thể lực bình thường [65]. Nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên quan
béo phì với ít vận động và ăn quá nhiều ở những trẻ em trải qua hàng giờ trong xã hội
hiện đại để xem ti vi và chơi games [96].
Nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết TW năm 2002, cho thấy nhóm đối tượng ít
vận động thể lực có nguy cơ bị mắc RLDNG là 1,4 lần so với nhóm hoạt động thể lực
20
nhiều (p
bệnh tim mạch cao gấp 2 lần người bình thường [65]. Nghiên cứu DECODE đã nhận
thấy tỷ lệ nguy cơ cao hơn của bệnh động mạch vành ở những người có tăng glucose
máu sau ăn, thậm chí kể cả glucose máu lúc đói bình thường [135].
Nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết TW cho thấy, nhóm có THA có nguy cơ bị
RLDNG gấp 2,46 lần so với nhóm không có THA [1]. Một nghiên cứu tại thành phố
Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ eo/hông cao và THA là những nguy cơ độc lập của bệnh
ĐTĐ typ 2. So với những người không có béo bụng và THA, nguy cơ bị ĐTĐ ở những
người có béo bụng và THA tăng gấp 6,4 lần đối với nam và 4,1 lần đối với nữ. Điều
này cho thấy chỉ số eo/hông cao và THA là những yếu tố nguy cơ cao của bệnh ĐTĐ
typ 2 [121].
Một số nghiên cứu khác trong nước cho thấy mối liên quan giữa tiền ĐTĐ và
22
THA: tại Bình Định, trong số những người mới phát hiện tiền ĐTĐ, tỷ lệ THA là
30,15% [41]; nghiên cứu tại tỉnh Quảng Bình năm 2011 cho thấy tỷ lệ tiền ĐTĐ ở
nhóm THA là 9,59% cao hơn nhóm không bị THA là 2,9% (OR: 3,53)[3], nghiên cứu
tại Trà Vinh năm 2006: bệnh nhân THA kèm giảm HDL-c bị tiền ĐTĐ là 24,7% [43],
nghiên cứu tại Nghệ An cho thấy tỷ lệ RLDNG, RLGMLĐ ở nhóm THA là 16,6% và
6,4% cao hơn nhóm không THA: 7,6% và 4,1% [27].
Rối loạn lipid máu
Rối loạn lipid máu kinh điển trong Hội chứng chuyển hóa là tăng TG, giảm HDLc và tăng yếu tố gây xơ vữa mạch LDL-c (nổi trội là phần đậm đặc kích thước nhỏ)
[79]. Trong Hội chứng chuyển hóa, sự tăng lên của việc cung cấp các a xít béo tự do
đến gan và tăng sản xuất apo-B sẽ làm tăng sản xuất VLDL. HDL-c giảm có thể là do
tăng quá trình đào thải, hậu quả của tăng cao TG và cũng có thể là hậu quả của kháng
insulin [64]. LDL-c kích thước đậm đặc là kết quả của việc tăng TG trong thành phần
bao gồm este hóa và không este hóa cholesterol. Kích thước của LDl-c là yếu tố nguy
cơ độc lập của bệnh tim mạch [99].
Tăng lipid máu, đặc biệt các a.béo tự do trong máu ảnh hưởng đến chức năng tế
là nước có số dân bị ĐTĐ đứng thứ 2 thế giới [88]. Người phụ nữ nông thôn Ấn Độ có
thân hình nhỏ và được cho là thiếu dinh dưỡng mãn tính do chỉ số khối cơ thể thấp.
Thiếu sắt và thiếu vi chất dinh dưỡng thường gặp trong nhóm này. Trẻ em Ấn Độ là
một trong những nước khi sinh ra nhỏ nhất trên thế giới: 1/3 trẻ sơ sinh có cân nặng
thấp, dưới 2,5 kg. Như vậy có thể thấy, sự suy dinh dưỡng bà mẹ và thai nhi đã góp
phần vào việc gia tăng dịch bệnh ĐTĐ tại Châu Á. Tại Ấn Độ, ĐTĐ được chẩn đoán
sớm hơn ít nhất 10 năm và các đối tượng gầy hơn đáng kể so với những người bị bệnh
như họ tại nước Anh. Người Ấn Độ có chân tay gầy hơn nhưng họ cũng bị béo bụng
với tỷ lệ eo/hông và tỷ lệ nếp cuộn da dưới vai – cơ tam đầu cao hơn những người cũng
bị bệnh như họ tại nước Anh [112].
Tại Việt Nam, với quá trình phát triển kinh tế nhanh chóng trong những năm gần
đây (GDP bình quân đầu người tăng gấp 5 lần) đã làm tăng sự tiêu thụ thực phẩm giầu
năng lượng, lối sống ít vận động và hậu quả đó là gia tăng béo phì, tiền ĐTĐ, ĐTĐ.
Điều tra của Viện Dinh dưỡng năm 2009 – 2010 cho thấy khẩu phần ăn đang dần mất
đi sự cân đối và tăng cao mức năng lượng so với khuyến nghị về tiêu thụ lương thực
thực phẩm. Mức năng lượng khẩu phần ăn hầu như không thay đổi nhưng cơ cấu khẩu
24
phần ăn thay đổi với sự gia tăng chất béo, protein, dầu mỡ…[60].
Các yếu tố nguy cơ khác
Kháng insulin và béo phì được ghi nhận như là tình trạng tiền viêm và làm tăng các
cytokin gây viêm trong tuần hoàn mà có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch trong
cộng đồng. Đó là tăng bài tiết yếu tố hoại tử mô – anpha (TNF-α), IL-6 từ mô mỡ và
tăng sản xuất các chất phản ứng cấp, CRP và fibrinogen tại gan. Những yếu tố gây
viêm này làm giảm tác dụng của insulin lên mô đích và góp phần vào kháng insulin
[84].
Các yếu tố nguy cơ khác mức độ nguy cơ bị bệnh thay đổi và thấp hơn so với các
YTNC cao là gen và yếu tố lối sống. Tuy nhiên các nghiên cứu đều cho thấy, những
Công thức tính kháng insulin - HOMA IR (Homeostasis model of insulin
resistance) và chức năng tế bào β – HOMA B như sau.
-
Kháng insulin: HOMA-IR = FPI (U/ml) x FPG (mmol/l)/22.5
-
Chức năng tế bào beta: HOMA-%B = 20 x FPI (U/ml)/ [FPG (mmol/l)- 3.5].
Trong đó: FPG là nồng độ glucose máu lúc đói, FPI là nồng độ insulin máu lúc đói.
HOMA 1 đã được sử dụng trong các cuộc điều tra dịch tễ học và nghiên cứu lâm
sàng bệnh đái tháo đường typ 2. Tuy nhiên HOMA 1 chưa tính đến biến thiên, độ nhậy
insulin ở trạng thái glucose máu cao, chưa tính đến các yếu tố sử dụng glucose ở não,
mất glucose ở thận [138],[139].
Những hạn chế của HOMA 1 được khắc phục bởi HOMA 2 (Computer
Homeostatic Model Assessment). HOMA 2 hay phần mềm HOMA2 sau khi hoàn
chỉnh được công bố năm 2004; ngoài việc sử dụng glucose, insulin còn sử dụng Cpeptid để tính toán chức năng tế bào bê ta và độ nhậy insulin. HOMA 2 xác định độ
nhạy insulin và chức năng tế bào bê ta được máy tính mô phỏng theo không gian 3
chiều cho phép sử dụng nồng độ insulin đặc hiệu và C-peptide giúp đánh giá chính
xác, nhanh chóng chức năng tế bào bê ta và độ nhạy insulin, hạn chế sai số của
HOMA1 vì có thể có phản ứng chéo của proinsulin [62],[138].
Nguyễn Thanh Xuân và Hoàng Trung Vinh nghiên cứu trên 34 người trưởng
thành khỏe mạnh thuộc nhóm chứng và 83 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 được chẩn đoán lần
đầu. Tính toán các chỉ số dựa trên mô hình HOMA 2. Kết quả cho thấy: tính theo
insulin thì chỉ số nhậy cảm insulin HOMA-%S nhóm chứng là 162,1 ± 55,4 cao hơn
nhóm bệnh là 74,3 ± 46,7. Chỉ số chức năng tế bào bê ta HOMA-%B tính theo insulin