Thực trạng bệnh đái tháo đường và đặc điểm một số chỉ số sinh lí, sinh hóa ở bệnh nhân điều trị tại khoa nội tiết bệnh viện đa khoa tỉnh hà tĩnh - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Lê Thị Hồng
THỰC TRẠNG BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ
ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ CHỈ SỐ SINH LÍ, SINH
HÓA Ở BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA NỘI
TIẾT BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
(Chuyên ngành sinh học thực nghiệm.)
Nghệ An - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Lê Thị Hồng
THỰC TRẠNG BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ
ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ CHỈ SỐ SINH LÍ, SINH
HÓA Ở BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA NỘI
TIẾT BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HÀ TĨNH
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60.42.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học : TS. Trần Đình Quang
Nghệ An - 2014
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ về mọi mặt của các
cơ quan, đơn vị, các thầy, cô giáo cũng như gia đình và bạn bè.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Sau Đại học Trường Đại học
Vinh đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu.

3.2. Một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân đái
tháo đường đang điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh 38
3.2.1. Đặc điểm lâm sàng 38
3.2.2. Đặc điểm cận lâm sàng 45
3.3. Một số yếu tố liên quan đến bệnh đái tháo đường 51
3.3.1. Tiền sử gia đình, tiền sử sản khoa, thói quen hút thuốc, uống rượu 51
3.3.2.Chỉ số khối cơ thể và chỉ số eo hông 53
3.3.3. Thói quen tập thể dục thể thao, ăn kiêng 57
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
1. Kết luận 59
2. Kiến nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC vii
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 2.1. Phân loại thể trạng theo chỉ số khối cơ thể áp dụng cho người châu Á
28
Bảng 2.2. Phân loại tăng huyết áp theo JNC VII - 2003 [13] 29
Bảng 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới 33
Bảng 3.2. Tỷ lệ đái tháo đường mới được chẩn đoán 38
Bảng 3.3. Tỷ lệ các biến chứng ở đối tượng nghiên cứu 42
Bảng 3.4. Tỷ lệ tăng huyết áp ở đối tượng nghiên cứu 44
Bảng 3.5. Chỉ số Glucose máu lúc đói của đối tượng nghiên cứu 46
Bảng 3.6. Mức độ kiểm soát chuyển hóa glucose dựa trên chỉ số HbA1c
của đối tượng nghiên cứu theo tiêu chuẩn của Hội Nội tiết và Đái tháo đường
Việt Nam 2009 49
Bảng 3.7. Chỉ số lipid máu trung bình của đối tượng nghiên cứu 50
Bảng 3.8. Tỷ lệ rối loạn các thành phần lipid máu của đối tượng nghiên cứu 50

8 IDDM Đái tháo đường phụ thuộc insulin
9 IDF Hiệp hội Đái tháo đường Quốc tế
10 JNC Liên ủy ban quốc gia Hoa Kỳ nghiên cứu về tăng huyết áp
11 LDL-c Cholesterol tỉ trọng thấp
12 MCV Thể tích trung bình hồng cầu
13 UKPDS Nghiên cứu tiến cứu về đái tháo đường của Vương quốc Anh
14 RBC Số lượng hồng cầu
15 WBC Số lượng bạch cầu
16 WHO Tổ chức Y tế Thế giới
17 WHR Chỉ số eo hông
1
MỞ ĐẦU
Nói về tình hình bệnh tật thế kỉ XXI, các chuyên gia y tế hàng đầu thế giới
đã đưa ra nhận xét: Bệnh lí của thế kỉ XXI là bệnh lí của các bệnh nội tiết và chuyển
hóa, trong đó đái tháo đường chiếm 60% - 70%. Những năm gần đây bệnh tăng
nhanh theo tốc độ phát triển của nền kinh tế. Dự đoán trong vòng 10 - 20 năm tới, ở
các nước đang phát triển tỉ lệ bệnh sẽ tăng tới 170% [11]. Theo tổ chức Y tế Thế
giới, năm 2000 có khoảng 151 triệu người bị bệnh đái tháo đường, đến năm 2006 là
246 triệu người và dự đoán đến năm 2025 sẽ là 333 triệu người. Hiện nay có
khoảng 5 - 6% người trưởng thành trên thế giới mắc bệnh đái tháo đường, tốc độ trẻ
hóa bệnh ngày càng tăng nhanh [9].
Đái tháo đường là một bệnh mạn tính do thiếu insulin tương đối hay tuyệt
đối mà hậu quả của nó gây tăng glucose máu dẫn tới các rối loạn chuyển hóa
glucide, lipid, protein và các khoáng chất. Các rối loạn chuyển hóa nếu không được
chẩn đoán và điều trị kịp thời sẽ dẫn đến biến chứng gây ra hôn mê và tử vong trong
thời gian ngắn [5].
Hiện nay, đái tháo đường là một trong những bệnh không lây nhiễm phổ biến
nhất, là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ tư ở các nước đang phát triển, là bệnh
mang tính chất xã hội cao ở nhiều nước [11]. Tốc độ phát triển của bệnh đái tháo
đường tỉ lệ thuận với tốc độ phát triển công nghiệp, đô thị hóa, sự thay đổi kinh tế

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Tìm hiểu thực trạng bệnh đái tháo đường thông qua bệnh nhân điều trị nội
trú tại Khoa Nội tiết Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh.
- Phân tích một số chỉ số sinh lí, sinh hóa máu, huyết học của bệnh đái tháo
đường.
- Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến bệnh đái tháo đường.
Nội dung nghiên cứu của đề tài
1. Điều tra thực trạng bệnh đái tháo đường ở bệnh nhân điều trị nội trú tại
Khoa Nội tiết Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh.
2. Nghiên cứu một số chỉ số sinh học liên quan đến bệnh đái tháo đường:
a. Các chỉ số nhân trắc học: Chỉ số WHR (Waist to Hip Ratio), chỉ số BMI
(Body Mass Index).
b. Các chỉ số huyết áp.
c. Các chỉ số sinh hóa máu:
− Cholesterol toàn phần.
− Chỉ số glucose máu lúc đói.
− HDL-c (High Density Lipoprotein-Cholesterol), LDL-c (Low Density
Lipoprotein-Cholesterol).
− Tryglycerid.
− HbA1c.
− Creatinin.
d. Chỉ số xét nghiệm nước tiểu: - Protein niệu.
e. Chỉ số huyết học: WBC - số lượng bạch cầu (White Blool Cell), RBC - số
lượng hồng cầu (Red Blool Cell), MCV - thể tích trung bình hồng cầu (Mean
Corpuscular Volume).
f. Một số yếu tố liên quan đến bệnh đái tháo đường.
3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái niệm về bệnh đái tháo đường
1.1.1. Định nghĩa

theo là người Mỹ gốc Mêhicô, người Mỹ gốc Ấn rồi người Đông Nam Á, người Mỹ
gốc Phi [9]. Ảnh hưởng của các yếu tố về yếu tố địa lí, xã hội, đặc điểm văn hóa của
từng dân tộc tới sự phát triển của đái tháo đường đã được chứng minh. Điều tra dịch
4
tễ học ở khu đô thị Madras - Đông Nam Ấn Độ, tỉ lệ đái tháo đường tăng lên 40%
trong khoảng thời gian từ năm 1988 - 1989 đến 1994 - 1995 và tỉ lệ bệnh là 16%
(năm 2000) nhưng trong đó tỉ lệ bệnh ở vùng nông thôn chỉ tăng có 2% [11]. Nhiều
nghiên cứu dịch tễ đã dự đoán ở các quốc gia đang phát triển tỉ lệ bệnh sẽ tăng gấp
1,5 lần vào những năm 2000 và sẽ tăng gấp 3 lần vào khoảng năm 2025 [9].
Đái tháo đường tuyp 2 ở trẻ nhỏ, tuổi dậy thì và tuổi trưởng thành đang là
một thực tại đáng lo ngại. Đái tháo đừng tuyp 2 ở lứa tuổi trẻ đang có xu hướng
phát triển nhanh ở Mỹ, Nhật Bản, các đảo ở Thái Bình Dương, Hồng Kông,
Australia và Vương quốc Anh [1]. Ở Mỹ, tỉ lệ đái tháo đường tuyp 2 ở lứa tuổi từ
12 - 19 là 4,1/1000. Từ năm 1967 - 1976 đến năm 1987 - 1996, tỉ lệ đái tháo đường
trẻ em nữ tăng từ 2,7% lên 5,3% và trẻ em nam tăng từ 2,4% lên 2,7% [11].
Bệnh đái tháo đường đã, đang và sẽ là gánh nặng cho nền kinh tế, xã hội của
cả thế giới và mỗi quốc gia vào thế kỉ 21 bởi chi phí điều trị của người bệnh.
Đái tháo đường không được chẩn đoán là vấn đề đang giành được mối quan
tâm. Người ta thấy việc chẩn đoán đái tháo đường giống như một tảng băng, phần
nổi - phần được chẩn đoán chiếm một phần nhỏ, còn phần lớn chưa được chẩn đoán
là phần chìm của tảng băng này. Nghiên cứu AusDiab - Australia (2003), khẳng
định rằng ở lứa tuổi ≥ 25, cứ một người được chẩn đoán đái tháo đường thì có một
người chưa được chẩn đoán. Ở các nghiên cứu khác ở Nam Á hoặc châu Phi tỉ lệ
này từ 22- 23% [1]. Ở Việt Nam, theo Tạ Văn Bình (2007), có khoảng 60% người
mắc bệnh không được chẩn đoán [11].
1.1.2. Chẩn đoán bệnh đái tháo đường
Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định:
Theo Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) năm 1997 và được Tổ chức Y
tế Thế giới (WHO) công nhận năm 1998, tuyên bố áp dụng vào năm 1999, đái tháo
đường được chẩn đoán xác định khi có bất kỳ một trong ba tiêu chuẩn sau:

Có thể có các dưới nhóm:
- Đái tháo đường qua trung gian miễn dịch.
- Đái tháo đường tuyp 1 không rõ nguyên nhân.
1.1.3.2. Đái tháo đường tuyp 2
Đái tháo đường tuyp 2 chiếm tỉ lệ 90% đái tháo đường trên thế giới, thường
gặp ở người trưởng thành trên 40 tuổi. Nguy cơ mắc bệnh tăng dần theo tuổi. Tuy
nhiên, do có sự thay đổi nhanh chóng về lối sống, về thói quen ăn uống, đái tháo
đường tuyp 2 ở lứa tuổi trẻ đang có xu hướng phát triển nhanh [1].
Đặc trưng của đái tháo đường tuyp 2 là kháng insulin đi kèm với thiếu hụt
tiết insulin tương đối. Đái tháo đường tuyp 2 thường được chẩn đoán rất muộn vì
giai đoạn đầu tăng glucose máu tiến triển âm thầm không có triệu chứng. Không có
biểu hiện lâm sàng thường kèm theo các rối loạn khác về chuyển hóa lipid, các biểu
hiện bệnh lí về tim mạch, thần kinh, thận …, nhiều khi các biến chứng này đã ở
mức độ rất nặng.
Theo Tạ Văn Bình, đặc điểm lớn nhất trong sinh lí bệnh của đái tháo đường
tuyp 2 là có sự tương tác giữa yếu tố gen và yếu tố môi trường trong cơ chế bệnh
sinh [11]. Người mắc bệnh tháo đường tuyp 2 có thể điều trị bằng cách thay đổi thói
6
quen, kết hợp dùng thuốc để kiểm soát glucose máu, tuy nhiên nếu quá trình này
thực hiện không tốt thì bệnh nhân cũng sẽ phải điều trị bằng cách dùng insulin.
1.1.3.3. Đái tháo đường thai kỳ
Cho tới nay đái tháo đường thai kỳ đang là một vấn đề đáng quan tâm của y
tế cộng đồng vì tỉ lệ mắc bệnh cũng như các biến chứng của bệnh cho cả bà mẹ và
thai nhi.
Đái tháo đường thai kỳ được định nghĩa là tình trạng không dung nạp
carbohydrat được phát hiện lần đầu khi mang thai. Thường gặp ở phụ nữ có thai, có
glucose máu tăng, gặp khi có thai lần đầu [9]. Đái tháo đường thai kỳ thường xuất
hiện vào khoảng tuần thứ 24 - 28 của thai kỳ khi nhau thai bắt đầu sản xuất một
lượng lớn các hormon gây kháng insulin.
Nhìn chung, cũng giống như can thiệp cho người mắc đái tháo đường không

8,5 lần ở người sống ở vùng Đông Nam Á, tăng 10,9 lần ở người Đông Ấn và gấp
15 lần ở người Mỹ bản địa. Những phát hiện này cũng tương tự như đối với tỉ lệ đái
tháo đường tuyp 2 ở các nhóm chủng tộc tương ứng, cũng như sự liên hệ với tuổi và
sự béo phì [trích từ 11].
Ở Việt Nam cũng đã có một vài nghiên cứu về vấn đề này. Lứa tuổi hay gặp
của những sản phụ được chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ thường trên 35 tuổi,
thường gặp ở người thừa cân, béo phì (BMI trên 23). Đái tháo đường thai kỳ cũng
hay gặp ở phụ nữ đã từng sinh đẻ nhiều lần [11]. Một số công trình nghiên cứu tại
Việt Nam công bố tỉ lệ đái tháo đường trong nhóm mang thai chiếm khoảng 3,9%
của các tác giả Ngô Thị Kim Phụng - 1994 [3], 3,6% của Nguyễn Thị Kim Chi
-2000 [11], 5,7% của Tạ Đình Bình - 2004 [6], 10,6% của Tô Thị Minh Nguyệt -
2007 [1]. Từ các nghiên cứu trên có thể thấy tỉ lệ đái tháo đường thai kỳ ở nước ta
không thấp và có xu hướng tăng.
1.1.3.4. Các thể đái tháo đường khác (hiếm gặp)
Nguyên nhân liên quan đến một số bệnh, thuốc, hóa chất.
- Khiếm khuyết chức năng tế bào bê - ta.
- Khiếm khuyết gen hoạt động của insulin.
- Bệnh tụy ngoại tiết: Viêm tụy, chấn thương, carcinom tụy…
- Thuốc hoặc hóa chất.
- Các thể ít gặp qua trung gian miến dịch.
1.1.4. Biến chứng bệnh đái tháo đường
Đái tháo đường nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh sẽ
tiến triển nhanh chóng và xuất hiện các biến chứng cấp và mạn tính. Bệnh nhân có
thể tử vong do các biến chứng này. Biến chứng của bệnh đái tháo đường thường
được chia ra theo thời gian xuất hiện và mức độ của các biến chứng.
1.1.4.1. Biến chứng cấp tính
Các biến chứng cấp tính của bệnh đái tháo đường thường là hậu quả của
chẩn đoán muộn, điều trị không thích hợp hoặc do nhiễm khuẩn cấp tính. Biến
chứng cấp tính có thể đe dọa tính mạng người bệnh, thường hay gặp ở các nước
đang phát triển.

glucose (chủ yếu bởi cơ vân) trong tuần hoàn. Các nguyên nhân thường gặp là:
- Tăng bài tiết insulin (chất có tác dụng ức chế sản xuất glucose tại gan, kích
thích tiêu thụ glucose ở cơ vân và mô mỡ).
- Giảm tiếp nhận thức ăn (do chế độ ăn uống khắt khe hoặc có vấn đề về rối
loạn hấp thu).
- Tăng mức độ luyện tập (làm tăng sử dụng glucose ở cơ vân) [8].
* Hôn mê tăng glucose máu không nhiễm toan ceton
Theo Tạ Văn Bình, đây là hội chứng thường gặp ở người mắc đái tháo đường
tuyp 2 trên 60 tuổi, nữ thường gặp hơn nam [11].
Bệnh có tiên lượng xấu, tỉ lệ tử vong cao ngay cả khi được cấp cứu ở những
trung tâm có đầy đủ phương tiện và có những chuyên gia giỏi, nếu có qua khỏi cũng
9
thường để lại di chứng. Hôn mê tăng glucose máu chiếm 5 - 10%. Ở bệnh nhân đái
tháo đường tuyp 2 nhiều tuổi, tỉ lệ tử vong từ 30 - 50% [55].
Tăng glucose máu không nhiễm toan ceton có thể gặp ở người chưa bao giờ
được chẩn đoán đái tháo đường tuyp 2 và thường là nguyên nhân phải vào viện cấp
cứu của những người đái tháo đường tuyp 2.
Hôn mê tăng glucose máu có nhiều điểm giống với hôn mê nhiễm toan
ceton. Tuy nhiên có nhiều điểm khác nhau, nhất là về mức độ các tổn thương. Đặc
điểm chính của bệnh là tăng glucose máu, mất nước và điện giải. Người hôn mê do
tăng glucose máu không nhiễm toan ceton có đặc điểm lớn nhất là mất nước, đa
phần là mất nước nặng. Thường khi đã có triệu chứng rối loạn ý thức lâm sàng,
lượng nước mất có thể chiếm tới 25% trọng lượng cơ thể [9].
Đặc điểm quan trọng để phân biệt với hôn mê nhiễm toan ceton là không có
thể ceton hoặc có rất nhẹ trong nước tiểu. Đó là do:
- Do nồng độ insulin tăng cao ở hệ thống cửa làm tăng khả năng tạo ra thể
ceton tại gan.
- Do hệ thống hormon đối lập không tăng tiết (do không giảm lượng insulin
máu), nên giảm khả năng bẻ gãy các mẫu lipid, giảm kích thích tạo ra các thể ceton
ở gan.

và nhồi máu cơ tim là nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất. Nguy cơ tử vong ở
người đái tháo đường do bệnh lí mạch vành so với người không bị đái tháo đường
cao gấp 3 - 4 lần [9].
Một nghiên cứu được tiến hành trên 353 bệnh nhân đái tháo đường tuyp 2 là
người Mỹ gốc Mêhicô trong 8 năm cho thấy có 67 bệnh nhân tử vong và 60% là do
bệnh mạch vành [9].
Một nghiên cứu liên tục trong 9 năm ở Hoa Kỳ, lứa tuổi 65 - 74 (số liệu năm
1993):
- Tử vong do bệnh tim - đái tháo đường ở nam là 4,9%, ở nữ là 3,2% (người
không bị đái tháo đường tỉ lệ này ở nam là 1,9%, nữ là 0,9%).
- Tử vong do thiếu máu cục bộ - đái tháo đường là 3,8% ở nam, ở nữ 2,3%
(người không đái tháo đường tỉ lệ này ở nam là 1,3%, ở nữ là 0,7%).
Tăng huyết áp thường gặp ở bệnh nhân đái tháo đường, tỉ lệ mắc bệnh chung
của tăng huyết áp ở bệnh nhân đái tháo đường gấp đôi so với người bình thường.
Trong đái tháo đường tuyp 2, 50% đái tháo đường mới được chẩn đoán có tăng
huyết áp. Tăng huyết áp ở người dái tháo đường tuyp 2 thường kèm theo các rối
loạn chuyển hóa và tăng lipid máu [6], [59].
Ngoài ra, tỉ lệ biến chứng mạch não ở bệnh nhân đái tháo đường tăng gấp 1,5
- 2 lần, viêm động mạch chi dười gấp 5 - 10 lần so với người bình thường.
Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Tạ Văn Bình, khoảng 80% bệnh nhân đái
tháo đường mắc thêm các bệnh liên quan đến tim mạch [11].
Tuổi thọ của người mắc bệnh đái tháo đường giảm đi đáng kể khi so sánh với
tuổi thọ trung bình của người không bị mắc đái tháo đường. Tuổi thọ càng giảm
nhiều đặc biệt với người đái tháo đường mắc thêm các bệnh về tim mạch [9].
* Biến chứng thận
Biến chứng thận do đái tháo đường là một trong những biến chứng thường
gặp, tỉ lệ biến chứng tăng theo thời gian. Bệnh thận đái tháo đường khởi phát bằng
11
protein niệu, sau đó khi chức năng thận giảm xuống, ure và creatinin sẽ tích tụ trong
máu.

Nhưng cũng thấy rằng khi bị đái tháo dường, đục thủy tinh xảy ra nhanh hơn, sớm
hơn, hai mắt đục không đều, mắt đục trước, mắt đục sau. Theo Leonard Goffe, có
rất nhiều bằng chứng cho thấy những bệnh nhân đái tháo đường có nguy cơ xảy ra
những biến đổi thủy tinh thể do tuổi già và những biến đổi này thường xảy ra ở lứa
tuổi trẻ hơn so với người không mắc đái tháo đường. Tỉ lệ đục thủy tinh thể theo
12
nghiên cứu của Lê Huy Hiệu là 22,8%, Thái Hồng Quang là 17,5% và Phạm Thị
Hồng Hoa là 30%.
Theo nghiên cứu của Tô Văn Hải, Phạm Hoài Anh (2006) tại Bệnh viện
Thanh Nhàn - Hà Nội, số bệnh nhân có bệnh về mắt chiếm 72,5%, trong đó tỉ lệ
bệnh võng mạc đái tháo đường 60,5%, đục thủy tinh thể 59% [32].
Nghiên cứu của Đặng Văn Hòa và Nguyễn Kim Lương (2007) tại Bệnh viện
Đa khoa Trung ương Thái Nguyên cho thấy 52,94% bệnh nhân đục thủy tinh thể,
22,94% bệnh nhân bị bệnh võng mạc đái tháo đường [36].
* Bệnh thần kinh do đái tháo đường
Bệnh lí thần kinh ngoại vi là một biến chứng mãn tính quan trọng của bệnh
đái tháo đường. Tỉ lệ bệnh này càng tăng theo thời gian mắc bệnh. Ở người bệnh đái
tháo đường tuyp 1 biến chứng thần kinh thường có sau 5 năm kể từ khi được chẩn
đoán. Nhiều khi có các triệu chứng của tổn thương thần kinh bắt đầu từ khi có liệu
pháp insulin. Người bệnh nhân đái tháo đường tuyp 2 thường có biểu hiện thần kinh
ngay tại thời điểm chẩn đoán. Thực tế bệnh có khi còn có trước đó nhiều năm.
Bệnh thần kinh do đái tháo đường gặp khá phổ biến, ước tính khoảng 30%
bệnh nhân đái tháo đường có biểu hiện biến chứng này.
Bệnh thần kinh do đái tháo đường thường được phân chia thành các hội
chứng lớn sau: Viêm đa dây thần kinh, bệnh đơn dây thần kinh, bệnh thần kinh thực
vật, bệnh thần kinh vận động gốc chi [9].
* Bệnh lí bàn chân do đái tháo đường
Bệnh lí bàn chân đái tháo đường ngày càng được quan tâm do tính phổ biến
của bệnh. Bệnh lí bàn chân đái tháo đường do sự phối hợp của tổn thương mạch
máu, thần kinh ngoại vi và cơ địa dễ nhiễm khuẩn do glucose máu tăng cao.

tuyp 2 thường có mức HDL - c thấp ở nam từ 20 - 50%, nữ 10 - 25%. Chuyển hoá
LDL - c cũng bị rối loạn ở người đái tháo đường tuyp 2, chỉ cần LDL - c tăng nhẹ
cũng đã là yếu tố nguy cơ làm bệnh mạch vành tăng rõ rệt [2].
1.1.6. Một số yếu tố liên quan đến bệnh đái tháo đường
1.1.6.1. Tuổi
Yếu tố tuổi (đặc biệt là độ tuổi 55 trở lên) được A. Timothy xếp lên vị trí đầu
tiên trong số các yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường, nhất là đái tháo đường
tuyp 2 [9]. Khi cơ thể già, chức năng tụy nội tiết cũng bị già theo và khả năng tiết
insulin của tụy cũng bị giảm. Khả năng tiết insulin của tụy giảm, nồng độ glucose
máu có xu hướng tăng, nồng độ glucose máu tăng đồng thời giảm sự nhạy cảm của
tế bào với các kích thích của insulin, giảm khả năng tiết insulin, khi tế bào tụy
không còn khả năng tiết insulin đủ với nhu cầu cần thiết của cơ thể, glucose máu
khi đói tăng và đái tháo đường thực sự xuất hiện.
Qua nhiều nghiên cứu thấy tuổi có sự liên quan đến sự xuất hiện bệnh đái
tháo đường tuyp 2. Tuổi càng tăng, tỉ lệ mắc bệnh đái tháo đường càng cao.
Ở châu Á, đái tháo đường tuyp 2 có tỉ lệ cao ở những người trên 30 tuổi. Ở
châu Âu, thường xảy ra sau tuổi 50 chiếm 85 - 90% các trường hợp đái tháo đường
[11]. Từ 65 tuổi trở lên, tỉ lệ bệnh đái tháo đường lên tới 16% [46].
Sự gia tăng đái tháo đường tuyp 2 theo tuổi có nhiều yếu tố tham gia, các
thay đổi chuyển hóa hydrate liên quan đến tuổi, điều này giải thích tại sao nhiều
14
người mang gen di truyền đái tháo đường mà lại không bị đái tháo đường từ lúc còn
trẻ đến khi về già mới bị bệnh.
Tuy nhiên với tốc độ phát triển cuộc sống hiện nay, ngày càng có nhiều
người trẻ tuổi mắc đái tháo đường tuyp 2. Quan sát sự xuất hiện bệnh đái tháo
đường týp 2 trong gia đình có yếu tố di truyền rõ ràng, người ta thấy rằng ở thế hệ
thứ nhất mắc bệnh ở độ tuổi 60 - 70, ở thế hệ thứ 2 tuổi xuất hiện bệnh giảm xuống
còn 40 - 50 tuổi và ngày nay người được chẩn đoán đái tháo đường tuyp 2 dưới 20
tuổi không còn là hiếm [55].
1.1.6.2. Giới tính

Theo nghiên cứu của Tạ Văn Bình (2004), người có tiền sử gia đình có người
bị bệnh đái tháo đường có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 19,5 lần so với người không
có tiền sử gia đình mắc bệnh đái tháo đường [6].
1.1.6.4. Béo phì
“Béo phì là trạng thái thừa mỡ của cơ thể” [56]. Theo các chuyên gia của
WHO, béo phì là yếu tố nguy cơ mạnh mẽ nhất tác động lên khả năng mắc đái tháo
đường tupp 2. Có nhiều phương pháp chẩn đoán và phân loại béo phì, trong đó chẩn
đoán béo phì bằng chỉ số khối cơ thể và chỉ số bụng mông được áp dụng khá rộng
rãi. Cho tới nay, tiêu chuẩn chẩn đoán béo phì đã được WHO thống nhất. Tuy nhiên
tiêu chuẩn này là khác nhau cho các vùng địa lí, châu lục khác nhau.
Trong bệnh béo phì, tích lũy mỡ xảy ra trong một thời gian dài, do đó sự suy
giảm khả năng tự bảo vệ chống lại quá trình nhiễm mỡ có thể xảy ra ở một số thời
điểm và triglycerid dần được tích lũy lại. Ở người béo phì, đái tháo đường lâm sàng
thường xuất hiện sau khi 50 - 70% tiểu đảo Langerhans bị tổn thương [9].
Béo bụng còn được gọi là béo dạng nam, là một thuật ngữ chỉ những người
mà phân bố mỡ ở bụng, nội tạng và phần trên cơ thể chiếm tỉ trọng đáng kể. Béo
bụng, ngay cả với những người cân nặng không thực sự xếp vào loại béo phì hoặc
chỉ béo vừa phải là một yếu tố nguy cơ độc lập gây ra rối loạn mỡ máu, tăng huyết
áp và rối loạn chuyển hóa đường.
Nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng béo phì là nguyên nhân quan trọng nhất
dẫn đến sự kháng insulin do thiếu hụt sau thụ thể trong tác dụng của insulin. Béo sẽ
đưa đến sự thiếu hụt insulin tương đối do giảm số lượng thụ thể ở tổ chức cần
insulin. Do tính đối kháng insulin cộng với sự giảm tiết insulin dẫn tới sự giảm tính
thấm của màng tế bào với glucose ở tổ chức cơ và mỡ, ức chế quá trình photphorin
hóa và oxi hóa glucose, làm chậm quá trình chuyển hydratcacbon thành mỡ, giảm
tổng hợp glycogen ở gan, tăng tạo đường mới và đái tháo đường xuất hiện [20],
[62]. Nghiên cứu của Colditz G.A và cộng sự (1995) kết luận béo phì và tăng cân
đột ngột làm tăng nguy cơ của đái tháo đường [53].
Ở Pháp, 40 - 60% người bị béo phì thì bị đái tháo đường tuyp 2 và 70 - 80%
người đái tháo đường tuyp 2 bị béo phì [9].

Bệnh tim mạch, tăng huyết áp, béo phì được coi là những nguy cơ phát triển
thành đái tháo đường, nhất là ở thành thị. Theo một số tác giả nước ngoài cho thấy
50% số người đái tháo đường tuyp 1 bị cao huyết áp và hầu hết bệnh nhân đái tháo
đường tuyp 2 bị cao huyết áp. Tỉ lệ cao huyết áp ở người bị bệnh đái tháo đường
tuyp 2 cao hơn rất nhiều so với người bình thường.
Tăng huyết áp có thể xuất hiện trước hoặc sau khi có đái tháo đường lâm
sàng, tỉ lệ tăng huyết áp ở bệnh nhân đái tháo đường tuyp 2 đều tăng theo tuổi đời,
tuổi bệnh, BMI, nồng độ glucose máu và một số biến chứng tim mạch hoặc biến
chứng thận.
Qua nghiên cứu của Trần Hữu Dàng (2007), tỉ lệ đái tháo đường trên bệnh
nhân tăng huyết áp là 31,5%, tỉ lệ rối loạn dung nạp glucose là 37%. Tất cả các
trường hợp này đều không biết mình bị đái tháo đường [21]. Vì vậy những người
17
cao huyết áp nên kiểm tra glucose máu thường xuyên để phát hiện sớm đái tháo
đường.
1.1.6.6. Tiền sử rối loạn dung nạp glucose
Ở những người có tiền sử rối loạn dung nạp glucose thì khả năng tiến triển
thành đái tháo đường thực sự là rất cao. Tỉ lệ giữa đái tháo đường và rối loạn dung
nạp glucose là một chỉ số của giai đoạn bệnh tiềm tàng trong dân số. Độ lưu hành
tiền sử rối loạn dung nạp glucose là một yếu tố dự đoán gia tăng hay giảm của đái
tháo đường tuyp 2. Ở những người giảm dung nạp glucose máu nếu biết sớm chỉ
cần can thiệp bằng chế độ ăn và luyện tập thì sẽ ít có nguy cơ chuyển thành đái tháo
đường thực sự. Theo Harin và cộng sự nghiên cứu năm 1989 ở Mỹ cho thấy, tỉ lệ
rối loạn dung nạp glucose gặp khá nhiều và tăng dần theo tuổi, từ 6,4% ở lứa tuổi
20 - 44 tăng lên 41% ở lứa tuổi 65 - 74 [5].
Theo Saad và cộng sự (1998), rối loạn dung nạp glucose có nguy cơ phát
triển thành bệnh đái tháo đường tuyp 2 cao gấp 6,3 lần so với người bình thường
[9].
Theo quan điểm của các chuyên gia đái tháo đường thì 1/3 sẽ tiếp tục tình
trạng này và 1/3 sẽ trở về tình trạng bình thường [9].

Tô Văn Hải và cộng sự (2006), bệnh nhân nam đái tháo đường có tỉ lệ uống bia
rượu 22,3% và hút thuốc lá 16,8% [34].
1.2. Tình hình nghiên cứu đái tháo đường trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1. Trên thế giới
Trong các bệnh chuyển hóa, đái tháo đường là bệnh lí thường gặp nhất và có
lịch sử nghiên cứu rất lâu năm nhưng những thành tựu nghiên cứu về bệnh chỉ có
được trong vài thập kỉ gần đây.
Trước công nguyên, bệnh đã được các danh y của nền Y học Ai Cập, Hy Lạp
và Ấn Độ đề cập đến với triệu chứng điển hình đái nhiều, uống nhiều và côn trùng
đến đậu trên nước tiểu người bệnh, mặc dù lúc đó người ta chưa biết đó là bệnh gì
[9].
Thế kỉ thứ nhất sau công nguyên, Diabetes (tiếng Hy Lạp là siphon), được
Aretaeus (năm 81- 138 sau công nguyên) dùng để mô tả những người mắc bệnh đái
nhiều. Aretaeus cho rằng bệnh có thể là hậu quả của sự nén các cơ quan trong cơ thể
đã gây ra bệnh đái nhiều [11].
Thời kỳ 100 sau công nguyên, các triệu chứng như đái nhiều uống nhiều tiếp
tục được ghi nhận. Về điều trị, ngoài việc dùng rượu vang đỏ, thuốc lợi tiểu, tắm
bồn nước nóng, rạch tĩnh mạch, các phương pháp trị liệu khác còn được sử dụng
thêm: Đó là phương pháp tẩy xổ, dùng emetine, các loại thảo mộc và cả rượu
whisky nấu từ ngô [9].
Năm 1674 sau công nguyên, Thomas Willis là người đầu tiên so sánh vị ngọt
của đường trong nước tiểu giống như mật, từ đó thuật ngữ Diabetets mellitus được
dùng phổ biến cho đến nay. Tuy nhiên cũng cần hiểu rằng, theo quan niệm hiện nay
nếu đái tháo đường đến mức đã có đường trong nước tiểu thì bệnh đã ở giai đoạn
muộn [4].
Năm 1775, Dobson lần đầu tiên hiểu được vị ngọt trong nước tiểu ở những
bệnh nhân đái tháo đường là do sự có mặt của glucose [4].

Trích đoạn Tình hình nghiên cứu đái tháo đường trên thế giới và ở Việt Nam Đặc điểm cận lâm sàng Tiền sử gia đình, tiền sử sản khoa, thói quen hút thuốc, uống rượu Thói quen tập thể dục thể thao, ăn kiêng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status