1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sai lệch khớp cắn là một vấn đề sức khỏe răng miệng khá phổ biến ở
Việt Nam cũng như trên toàn thế giới. Theo nghiên cứu của Hoàng Thị Bạch
Dương (2000) tại Hà Nội thì tỷ lệ sai lệch khớp cắn tại cộng đồng là 91% [6].
Nghiên cứu của Ibrahim E.G cùng cộng sự (2007) về sự phân bố sai lệch khớp
cắn theo Angle trên người trưởng thành tại Thổ Nhĩ Kỳ thì tỷ lệ sai lệch khớp
cắn là 89,9% [25]. Sai lệch khớp cắn gây ra sự bất hòa trong tương quan giữa
các răng trong miệng, ảnh hưởng nhiều đến chức năng và thẩm mỹ của bệnh
nhân. Trong những năm gần đây, mức sống của người dân Việt Nam ngày
càng được nâng cao do đó nhu cầu về chăm sóc sức khỏe răng miệng và nhu
cầu về thẩm mỹ được nhiều người quan tâm hơn, theo đó ngành chỉnh hình
răng mặt của Việt Nam trong những năm qua đã phát triển nhiều nhằm đáp
ứng nhu cầu xã hội.
Sai khớp cắn loại II là khớp cắn có đỉnh múi ngoài gần của răng hàm
lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp về phía gần so với rãnh ngoài gần của
răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới. Loại sai lệch khớp cắn này gây ảnh
hưởng lớn đến thẩm mỹ của khuôn mặt khi nhìn nghiêng. Đồng thời, sai khớp
cắn loại II nếu không điều trị sớm, lâu dài sẽ gây sang chấn khớp cắn, làm
tiêu mô quanh răng của nhóm răng cửa hàm trên dẫn đến tình trạng các răng
cửa thưa và ngả ra trước, đặc biệt trong các trường hợp khớp cắn sâu, gây tổn
thương khớp thái dương hàm. Do đó, đã có không ít những nghiên cứu tìm
hiểu về loại lệch lạc này ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Moorrees và
cộng sự (1969), Buschang và cộng sự (1994) đã phân tích mẫu hàm để tìm sự
khác biệt về kích thước cung hàm của hai nhóm sai lệch khớp cắn loại II tiểu
loại 1 và tiểu loại 2 chưa được điều trị [26]. Trong một nghiên cứu gần đây,
Isik F. cùng cộng sự [26] đã tiến hành phân tích phim Cephalometrics và mẫu
1
2
hàm nhằm tìm kiếm sự khác biệt về xương – răng giữa tiểu loại 1 và tiểu loại
2 của sai lệch khớp cắn loại II …Tại Việt Nam trong những năm qua, nhiều
Khớp cắn là danh từ thường được dùng để chỉ sự chạm các răng trên
và dưới khi thực hiện các chức năng sinh lý như ngậm, cắn hay không sinh lý
như nghiến răng… [1], [8], [12]. Khớp cắn hiểu theo nghĩa rộng còn dùng để
chỉ toàn bộ các yếu tố thuộc về cấu trúc và chức năng của hệ thống nhai [6].
1.1.2. Khớp cắn lý tưởng [1], [6], [8], [12]
Khớp cắn lý tưởng là khớp cắn có tương quan răng – răng theo đúng
mô tả lý thuyết, có quan hệ giải phẫu và chức năng hài hòa với những cấu
trúc khác của hệ thống nhai trong tình trạng lý tưởng. Khớp cắn lý tưởng có
đặc điểm như sau
1.1.2.1. Khớp thái dương hàm ở vị trí chức năng tối ưu
Khi các răng ở lồng múi tối đa thì khớp thái dương hàm ở vị trí
chức năng tối ưu, bao gồm: lồi cầu có cấu trúc bình thường tựa vào đĩa khớp
có cấu trúc và vị trí bình thường, đĩa khớp tựa mặt lõm vào lồi khớp theo
hướng trước trên, hoạt động cơ tối ưu và ổn định tối đa về mặt khớp cắn.
1.1.2.2. Tương quan răng – răng của khớp cắn lý tưởng
Khi hai cung răng ở vị trí khớp cắn trung tâm, quan hệ giữa các
răng theo 3 chiều: trước sau, ngang, đứng, như sau :
Chiều trước -sau
- Đỉnh múi ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên nằm ở rãnh giữa
ngoài của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới.
- Đỉnh răng nanh trên nằm ở đường giữa răng nanh và răng hàm nhỏ thứ nhất
hàm dưới. (Sườn gần răng nanh trên tiếp xúc với sườn xa răng nanh dưới).
- Rìa cắn răng cửa trên tiếp xúc với rìa cắn răng cửa dưới hoặc ở phía trước 1-
2mm.
Chiều ngang
3
4
- Cung răng trên bao trùm ngoài cung răng dưới, sao cho núm ngoài răng trên
trùm ra ngoài núm ngoài răng dưới.
- Đỉnh núm ngoài răng dưới tiếp xúc với rãnh giữa hai núm của răng hàm nhỏ
hàm thứ nhất hàm trên tiếp xúc với gờ bên gần của múi ngoài gần của răng
hàm lớn thứ hai hàm dưới. Múi ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm
trên khớp với rãnh ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới. Múi trong
gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên khớp với hố trung tâm của răng hàm
lớn thứ nhất hàm dưới.
Độ nghiêng gần xa của thân răng: Khi các răng khớp nhau, bình
thường phần phía lợi của trục dọc mỗi thân răng nằm phía xa so với phần
phía cắn của trục (trục của các răng có xu hướng nghiêng xa phía cổ răng).
Độ nghiêng ngoài trong của thân răng: Độ nghiêng ngoài trong của
thân răng là góc tạo bởi đường thẳng vuông góc với mặt phẳng cắn và đường
tiếp tuyến với điểm giữa mặt ngoài thân răng. Góc có giá trị dương khi phần
phía lợi của đường tiếp tuyến nằm ở phía trong so với bờ cắn hay mặt nhai,
ngược lại là góc có giá trị âm. Độ nghiêng ngoài trong của thân răng cửa trên
và dưới tương quan nhau, độ nghiêng này ảnh hưởng đáng kể tới độ cắn phủ
và khớp cắn của các răng sau. Độ nghiêng trong ngoài của các răng hàm trên
sau (từ răng nanh đến răng hàm lớn thứ hai) có góc độ âm và góc độ âm này
không thay đổi từ răng nanh đến răng hàm lớn thứ hai. Đối với hàm dưới,
góc độ âm tăng từ răng cửa cửa đến răng hàm lớn thứ hai.
Không có răng xoay: Không có răng xoay hiện diện trên cung hàm. Vì
nếu có, chúng sẽ chiếm chỗ nhiều hơn hoặc ít hơn răng bình thường.
Không có khe hở giữa các răng: Các răng phải tiếp xúc chặt chẽ với
nhau ở phía gần hoặc phía xa của mỗi răng, trừ răng hàm lớn thứ ba chỉ tiếp xúc
phía gần. Khe hở trên cung răng thường do bất hài hòa kích thước răng – hàm.
Đường cong Spee phẳng hay ít cong: Khớp cắn bình thường có đường
cong không sâu quá 1,5 mm. Đường cong Spee sâu quá gây thiếu chỗ cho
răng hàm trên.
1.2. PHÂN LOẠI KHỚP CẮN THEO ANGLE
1.2.1. Sự phát triển của hệ thống phân loại Angle
5
6
I
): Quan hệ trung tính. Tương quan trung tính của các
răng hàm nhưng đường cắn không định rõ (răng xoay, răng khấp khểnh ).
- Khớp cắn sai loại II (Cl
II
): Quan hệ xa (vẩu). Răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới
có tương quan xa đối với răng hàm lớn thứ nhất hàm trên và đường cắn không
định rõ.
- Khớp cắn sai loại III (Cl
III
): Quan hệ gần. Răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới có
tương quan gần đối với răng hàm lớn thứ nhất hàm trên và đường cắn là
không định rõ.
Ưu nhược điểm của phân loại khớp cắn theo Angle
Phân loại khớp cắn của Angle là một bước tiến quan trọng. Ông không
chỉ phân loại một cách có trật tự các loại khớp cắn sai mà ông còn là người
đầu tiên định nghĩa đơn giản một khớp cắn bình thường và bằng cách này đã
phân biệt được một khớp cắn bình thường với một khớp cắn sai.
Tuy nhiên, phân loại khớp cắn của Angle chưa hoàn thiện vì nó không
bao gồm các đặc điểm quan trọng các vấn đề của bệnh nhân. “Mặc dù hệ
thống Angle là sự phân loại đầy đủ quan hệ trước sau, nó không bao gồm
những thông tin về mặt phẳng ngang và đứng” (Bennet tại hội nghị các nhà
khoa học nắn chỉnh nha Anh năm 1912). Phân loại này không đúng trong một
số trường hợp vì lý do nào đó răng hàm lớn thứ nhất mọc sai trong khi các
răng khác mọc bình thường (răng hàm sữa thứ hai mất sớm, răng hàm lớn thứ
nhất sẽ di về gần). Ngoài ra, mất răng hàm lớn thứ nhất bẩm sinh rất khó xác
định phân loại theo Angle.
Calvin Case (1847 – 1923) ghi nhận rằng phân loại khớp cắn của Angle
không thấy sự nhô của răng cửa như là một vấn đề, mặc dù điều này có ảnh
hưởng không nhỏ tới thẩm mỹ của bệnh nhân. Phân loại Angle đã hàm ý quan
) là khớp cắn có đỉnh múi ngoài gần của
răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp với rãnh ngoài gần của răng
hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới. Và các răng trên cung hàm sắp xếp
theo một đường cắn khớp đều đặn (đường cắn đúng) [8], [10].
8
9
Hình 1.2. Khớp cắn bình thường [8]
1.2.2.2. Khớp cắn sai loại I
Khớp cắn sai loại I (Cl
I
) là khớp cắn có mối tương quan của răng
hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên và hàm dưới bình thường, nhưng đường
cắn sai do lệch lạc các răng ở phía trước (răng sai vị trí, răng xoay trục, khấp
khểnh…) [8], [10].
Hình 1.3. Khớp cắn sai loại I [8]
1.2.2.3. Khớp cắn sai loại II
Khớp cắn sai loại II (CLII) là khớp cắn có đỉnh múi ngoài gần của
răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp về phía gần so với rãnh ngoài
gần của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới [8], [10]. Sai khớp cắn loại
II có hai tiểu loại:
- Tiểu loại 1 (CLII/1): Cung răng hàm trên hẹp, hình chữ V, nhô ra trước với
các răng cửa trên nghiêng về phía môi (ngả môi), độ cắn chìa tăng, môi dưới
thường chạm mặt trong các răng cửa trên.
9
10
Hình 1.4. Khớp cắn sai loại II tiểu loại 1 [8]
Tiểu loại 1 dưới tiểu loại: Răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm
dưới lệch xa một bên, răng cửa ngả môi.
- Tiểu loại 2 (CLII/2): Các răng cửa giữa hàm trên ngả phía lưỡi, trong khi các
răng cửa bên hàm trên ngả môi tách khỏi răng cửa giữa, độ cắn phủ tăng,
tương quan của hai xương theo chiều trước sau do sự thích ứng của các răng
cửa đối với sự rối loạn chức năng của cơ quanh miệng. Chiều rộng cung răng
trên cũng bị ảnh hưởng bởi sự bù trừ của hệ thống thần kinh cơ.
1.3.2. Phân loại dựa trên phân tích phim sọ nghiêng [12]
Dựa trên các giá trị đo được trên phim sọ nghiêng, sai khớp cắn loại II
được chia thành năm nhóm:
11
12
1.3.2.1. Sai khớp cắn loại II không do nguyên nhân ở xương hàm
Sai khớp cắn loại II trong trường hợp này là nguyên nhân do răng.
Góc ANB có thể bình thường. Răng cửa trên thường nghiêng ra trước, răng
cửa dưới có thể nghiêng ra trước hoặc ra sau, tùy theo sự bù trừ của hệ thống
thần kinh cơ đối với độ cắn chìa quá mức.
1.3.2.2. Sai khớp cắn loại II do chức năng
Hàm dưới lùi về phía sau ở tư thế cắn khít trung tâm nhưng có vị trí
bình thường ở tư thế nghỉ. Góc SNB giảm ở tư thế cắn khít trung tâm nhưng
có thể bình thường ở tư thế nghỉ. Trong trường hợp này, xương hàm dưới có
kích thước bình thường do không bị kém phát triển. Đường đóng mở của hàm
dưới có thể bất thường hay bị bắt buộc lùi về sau do độ cắn phủ tăng và do
các răng sau lún.
1.3.2.3. Sai khớp cắn loại II do nguyên nhân ở hàm trên
Góc lồi của mặt có thể do xương hàm trên (góc SNA tăng), răng –
xương ổ răng (góc S-N-Pr tăng), hay do răng (góc trục răng cửa trên/SN tăng
do răng nghiêng ra trước). Xương hàm trên có thể có kích thước bình thường
nhưng ở về phía trước, hoặc có thể có kích thước quá dài.
1.3.2.4. Sai khớp cắn loại II do nguyên nhân ở hàm dưới
Góc SNB giảm do hàm dưới nằm lùi ở phía sau. XHD có thể có kích
thước ngắn hoặc bình thường và ở vị trí sau trong quan hệ xương mặt.
1.3.2.5. Sai khớp cắn loại II do sự kết hợp của bốn nhóm
Sai khớp cắn loại II do sự kết hợp của bốn nhóm, đặc biệt là nhóm ba
cephalometric. Thiết bị này đã cải tiến việc kiểm soát vị trí của đầu và và thời
gian phơi sáng cũng như một vài kỹ thuật cải tiến vận hành [16], [30].
1.4.2. Các điểm mốc trên phim Cephalometric
1.4.2.1. Điểm mốc trên mô xương
- Điểm A: điểm trũng nhất trên đường cong dọc giữa xương hàm trên, nằm
giữa gai mũi trước và điểm thấp nhất xương ổ răng hàm trên.
- Điểm ANS (anterior nasal spine): điểm gai mũi trước, là điểm nhọn nhô ra
trước nhất của rìa xương hàm trên, nằm trên mặt phẳng dọc giữa.
- Điểm B: là điểm trũng nhất đường giữa xương hàm dưới, nằm giữa điểm nhô nhất
của xương hàm dưới và điểm cao nhất của xương ổ răng hàm dưới.
13
14
- Điểm Gn (Gnathion): điểm dưới nhất và trước nhất của cằm, là điểm nằm
giữa Pog và Me.
- Điểm Go (Gonion): là điểm dưới nhất và sau nhất của góc hàm dưới, được
xác định bằng giao điểm của mặt phẳng hàm dưới và mặt phẳng sau cành lên
xương hàm dưới.
- Điểm Id (Infradentale): điểm cao nhất và trước nhất của xương ổ răng hàm
dưới, giữa hai răng cửa giữa hàm dưới.
- Điểm Ii (Incision inferius): điểm rìa cắn răng cửa dưới.
- Điểm Is (Incision superius): điểm rìa cắn răng cửa trên.
- Điểm Me (Menton): điểm thấp nhất của ụ cằm.
- Điểm N (Nasion): điểm mũi là điểm trước nhất của khớp trán – mũi trên mặt
phẳng dọc giữa.
- Điểm Or (Orbitale): điểm thấp nhất trên đường viền ổ mắt.
- Điểm PNS (Posterior Nasal Spine): điểm gai mũi sau, là điểm sau nhất của
khẩu cái cứng trên mặt phẳng dọc giữa.
- Điểm Po (Porion): điểm cao nhất của ống tai ngoài.
- Điểm Pog (Pogonion): điểm nhô nhất của cằm trên mặt phẳng dọc giữa.
- Điểm Pr (Prosthion): điểm thấp nhất của xương ổ răng hàm trên, giữa hai răng
1.4.3.2. Mặt phẳng đứng
- Mặt phẳng mặt: đi từ N đến Pog.
- Trục mặt: đi từ Pt đến Gn.
- Mặt phẳng cành lên: tiếp tuyến bờ sau cành lên xương hàm dưới và lồi cầu.
- Mặt phẳng chân bướm hàm: đi qua điểm phía xa của khe chân bướm hàm và
vuông góc với mặt phẳng FH.
1.4.4. Các chỉ số trên phim Cephalometric
1.4.4.1. Một số chỉ số đánh giá tương quan xương hàm trên
a. Góc của xương hàm trên (SNA)
Đánh giá vị trí của XHT so với nền sọ dựa vào chỉ số góc SNA.Giá
trị trung bình của góc SNA là 82
0
± 2
0
. Nếu lớn hơn 84
0
là hàm trên nhô ra
trước, nếu nhỏ hơn 80
0
là hàm trên ở vị trí lùi sau.
15
16
b. Góc mặt phẳng cắn (Steiner)
Góc của mặt phẳng cắn với nền sọ (S - N) góp phần nhận định vị trí
của các răng trong tổng thể khớp cắn với khuôn mặt và xương sọ.
Giá trị trung bình là 14
0
. Góc này thường lớn trong trường hợp dạng
mặt loại II (hàm trên quá phát).
1.4.4.2. Một số chỉ số đánh giá tương quan xương hàm dưới
. Góc trục Y có
giá trị lớn ở dạng mặt hạng II và nhỏ ở dạng mặt có khuynh hướng hạng III
1.4.4.3. Góc tương quan xương hàm trên và xương hàm dưới
Giá trị góc ANB = SNA – SNB cho ta thông tin về sự khác biệt theo
chiều trước sau của nền XHT và nền XHD.
Giá trị trung bình của góc ANB là 2
0
± 2
0
. Nếu góc ANB > 4
0
có khuynh
hướng hạng II xương, nếu góc ANB < 0
0
có khuynh hướng hạng III xương.
1.4.4.4. Một số chỉ số đánh giá tương quan xương – răng
a. Góc răng cửa trên và S – N (U1-SN)
Góc răng cửa trên và S – N là góc được tạo bởi mặt phẳng S – N và
đường thẳng đi qua bờ cắn và chóp gốc răng cửa giữa hàm trên.
Giá trị trung bình là 103,97
0
± 5.75
0
.
b. Góc răng cửa trên và mặt phẳng khẩu cái (U1 - ANS - PNS )
Góc răng cửa trên và mặt phẳng khẩu cái được tạo bởi mặt phẳng
khẩu cái và đường thẳng đi qua bờ cắn và chóp gốc răng cửa giữa hàm trên.
Giá trị trung bình là 110
0
± 6
nhô răng cửa trên hoặc răng cửa dưới hoặc cả hai răng ra trước, hoặc chỉnh lại trục
răng. Sử dụng thông số riêng của mỗi răng để phát hiện ra răng nguyên nhân.
e. Góc răng cửa dưới và mặt phẳng hàm dưới (L1- MeGo)
Là góc được tạo bởi mặt phẳng hàm dưới (theo Down) và đường
thẳng đi qua bờ cắn và chóp gốc răng cửa giữa hàm dưới. Giá trị trung bình
của góc L1- MeGo là 91,5 ± 7,5
0
.
Góc có giá trị lớn khi răng cửa dưới nghiêng ra trước nhiều so với
nền xương hàm dưới và ngược lại góc có giá trị nhỏ khi răng cửa dưới
nghiêng vào trong.
f. Răng cửa dưới so với đường N – B (L1-NB)
Vị trí và độ nghiêng của trục răng cửa dưới được xác định bằng
tương quan của răng cửa dưới với đường N - B.
Góc giữa trục răng cửa dưới với đường N - B có giá trị trung bình
25
0
. Góc này cho biết tương quan theo chiều trước sau của răng cửa dưới so
với nền xương hàm dưới.
Khoảng cách từ điểm lồi nhất của thân răng cửa giữa hàm dưới đến
đường N - B có giá trị là 4 mm. Khoảng cách này cho biết vị trí nhô ra trước
hay lùi về sau của răng cửa dưới so với hàm dưới.
1.4.4.5. Một số chỉ số đánh giá mô mềm
17
18
a. Tỷ lệ tầng mặt giữa và tầng mặt dưới (G – Sn/Sn – Me’)
Tỷ lệ tầng mặt giữa và tầng mặt dưới cho phép đánh giá sự cân đối
của khuôn mặt phía trước theo chiều đứng. Tỷ lệ này được xác định bằng tỷ lệ
khoảng cách giữa G – Sn và Sn – Me’. Giá trị tỷ lệ này là 1:1.
b. Góc lồi mặt (GSnPog’)
Hình 1.8. Độ cắn trùm (overbite) và độ cắn chìa (overjet).
[ />1.5.3. Các kích thước cung răng vĩnh viễn trên mẫu hàm
Năm 1979, Engel đã tiến hành đo hàng loạt mẫu để xác định các yếu tố
của hình dạng và kích thước cung răng [2]. Ông cùng với Lestrel đã rút ra 4
kích thước chủ yếu của cung răng là:
- Chiều dài trước (chiều dài vùng răng nanh): là khoảng cách từ điểm giữa hai
răng cửa giữa đến đường nối hai đỉnh răng nanh.
- Chiều dài sau (chiều dài vùng răng hàm): là khoảng cách từ điểm giữa hai răng
cửa giữa đến đường nối hai đỉnh núm ngoài gần răng hàm thứ nhất.
- Chiều rộng trước (chiều rộng vùng răng nanh): là khoảng cách giữa hai đỉnh
răng nanh.
- Chiều rộng cung răng sau (chiều rộng vùng răng hàm): là khoảng cách giữa
hai đỉnh núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất.
Năm 2006, Isik cùng cộng sự tiến hành nghiên cứu phân tích so sánh
độ rộng cung hàm giữa hai nhóm sai lệch khớp cắn loại II tiểu loại 1 và tiểu
loại 2 đã đưa ra bốn kích thước về độ rộng cung hàm [26], bao gồm:
- Chiều rộng vùng răng nanh (R33): là khoảng cách giữa hai đỉnh răng nanh.
- Chiều rộng giữa các răng hàm nhỏ thứ nhất (R44): là khoảng cách giữa hai
đỉnh núm ngoài răng hàm nhỏ thứ nhất.
- Chiều rộng giữa các răng hàm nhỏ thứ hai (R55): là khoảng cách giữa hai
đỉnh núm ngoài răng hàm nhỏ thứ hai.
- Chiều rộng giữa các răng hàm lớn (R66): là khoảng cách giữa hai đỉnh núm
ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất.
Hình 1.9. Các kích thước đo chiều rộng cung răng [26]
19
20
Năm 1999, Hoàng Tử Hùng và Phạm Thị Phương Loan đã tiến hành
nghiên cứu kích thước cung răng người Việt với các mốc đo chiều dài cung
hàm [2], bao gồm:
- Chiều dài trước (chiều dài vùng răng nanh – D31): là khoảng cách từ điểm
Tại Việt Nam trong những năm qua, đã có không ít những nghiên cứu
khảo sát về khớp cắn và sự phân bố tỷ lệ các loại khớp cắn trong cộng đồng như:
Năm 1993, Nguyễn Phúc Diên Thảo và Hoàng Tử Hùng đã tiến hành
nghiên cứu về đặc điểm hình thái vận động biên của khớp cắn trên người Việt.
và đã đưa ra kết quả về độ cắn chìa trung bình là 2,98 ± 1,15 mm, độ cắn sâu
trung bình là 2,45 ± 1,2 mm [1].
Năm 1999, Phạm Thị Hương Loan và Hoàng Tử Hùng đã nghiên cứu đặc
điểm cung răng người Việt và đã đưa ra một số kích thước trung bình cung răng
người Việt như sau [2], [15]:
Bảng 1.1. Một số kích thước trung bình cung răng người Việt
Đơn vị (mm) R33 R66 R77 D31 D61 D71
Hàm trên 38,16 54,9 58,91 9,6 28,93 44,39
Hàm dưới 27,3 46,81 57,97 6,36 24,06 39,5
Năm 2000, Đồng Khắc Thẩm và Hoàng Tử Hùng đã tiến hành nghiên
cứu về "Tỷ lệ sai khớp cắn ở người Việt Nam trong độ tuổi 17-27” tại thành
phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy : tỷ lệ sai khớp cắn là 83,2%.
Trong đó, Cl
I
: 71,3%, Cl
II
:7%, Cl
III
: 21,7%. Tỷ lệ các loại độ cắn sâu: từ 1- 4
mm là 91,8%, dưới 1 mm là 2%, trên 4 mm là 6,2%. Tỷ lệ các loại độ cắn
chìa: từ 2- 4 mm là 92,3%, dưới 2 mm là 6,9%, trên 4 mm là 0,8% [1], [10].
Cũng trong năm 2000, Hoàng Thị Bạch Dương đã điều tra về lệch lạc
răng – hàm trên 100 trẻ ở lứa tuổi 12 tại trường cấp II Amsterdam – Hà Nội. Kết
quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ khớp cắn bình thường chiếm 9%, sai khớp cắn
loại I là 39%, sai khớp cắn loại II là 43% và sai khớp cắn loại III là 9% [6].
21
là 58,33%, Cl
II
chiếm 23,33%
và Cl
III
là 18,34%. Phân bố về tương quan giữa các răng nanh ở hai hàm theo
chiều trước sau là: loại I: 56,67%, loại II: 30,00%, loại III: 13,33% [1].
Nghiên cứu của Võ Thị Thúy Hồng năm 2011 về hình thái lâm sàng
bệnh nhân lệch lạc khớp cắn loại II xương neo chặn với microimplant điều
trị tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt trung ương Hà Nội [18] cho thấy: Độ cắn
trùm trung bình 6 mm; hầu hết các trường hợp trong nghiên cứu có góc
ANB lớn, các răng cửa hàm trên ngả ra trước nhiều, góc liên răng cửa nhọn,
điểm B lùi so với chuẩn.
1.6.2. Tình hình các nghiên cứu về sai lệch khớp cắn trên thế giới
Sai lệch khớp cắn là một trong số vấn đề về sức khỏe phổ biến trên toàn thế
giới. Bởi vậy, đã có không ít các nghiên cứu dịch tễ về phân bố các loại lệch lạc
khớp cắn theo Angle ở các nước khác như:
22
23
Năm 2007, Ibrahim E.G cùng cộng sự tiến hành nghiên cứu về sự phân bố
các loại sai lệch khớp cắn theo Angle trên người trưởng thành tại khu vực trung
tâm Anatolia, Thổ Nhĩ Kỳ. Nghiên cứu được tiến hành trên 2329 người. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, chỉ có 10,1% có khớp cắn bình thường và 89,9% có sai khớp
cắn. Trong đó, 34,9% sai khớp cắn Angle I, 44,7% là sai khớp cắn Angle II và
10,3% sai khớp cắn Angle III. Trong số sai khớp cắn loại II, có 931 người
(89,4%) là sai khớp cắn loại II tiểu loại 1 và 110 người (10,6%) [25].
Năm 2010, Artênio J.I.G cùng cộng sự đã tiến hành nghiên cứu trên 734
trẻ ở lứa tuổi 12 trong các trường công lập tại Lins Sao Paulo, Brazil để đánh giá
sự phân bố tỷ lệ các loại sai lệch khớp cắn và so sánh giữa phân loại theo Angle và
chỉ số DAI (Dental Aesthetic Index). Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ khớp
biệt xảy ra ở những trẻ không có sự tiếp xúc chạm giữa các răng cửa ở hai
hàm [26].
Năm 1997, Pancherz cùng cộng sự trong nghiên cứu của mình đã nhận
thấy lùi xương hàm dưới là đặc điểm phổ biến không chỉ ở nhóm sai lệch
khớp cắn loại II tiểu loại 1 mà cả ở nhóm loại II tiểu loại 2. Giá trị góc SNB
của nhóm Cl
II/1
lớn hơn so với nhóm Cl
II/2
[26].
Năm 2006, Isik cùng cộng sự đã tiến hành nghiên cứu trên mẫu hàm và
phim Cephalometric của 90 bệnh nhân có sai lệch khớp cắn loại II chưa được
điều trị nhằm tìm kiếm sự khác biệt về tương quan xương và răng giữa nhóm
sai lệch khớp cắn loại II tiểu loại 1 và tiểu loại 2. Kết quả so sánh mẫu hàm
giữa hai nhóm cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chiều rộng
giữa các răng nanh hàm dưới trên mẫu hàm. Kết quả trên phim cephalometric
cho thấy: Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của góc SNB giữa hai nhóm Cl
II/1
và Cl
II/2
; Tỷ lệ ANS-Me/N-Me, góc SN – MeGo, góc trục Y của nhóm Cl
II/1
có
số đo lớn hơn; nhóm Cl
II/2
có tương quan xương loại I và không có bằng
chứng về sự lùi xương hàm dưới của nhóm này; nhóm Cl
II/1
thìcó dấu hiệu của
sự lùi xương hàm dưới [26].
Chụp phim Cephalometric cho các đối tượng nghiên cứu tại khoa Răng
Hàm Mặt - Bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên.
25