Nghiên cứu đặc điểm hội chứng chuyển hóa theo các tiêu chuẩn khác nhau ở người tiền đái tháo đường và kết quả can thiệp cộng đồng (Luận án tiến sĩ) - Pdf 49

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng chuyển hoá (HCCH) là một tập hợp một số yếu tố nguy
cơ (YTNC) tim mạch và chuyển hóa. Các yếu .nj8t6dxtố thƣờng xuyên
xuất hiện trong HCCH bao gồm: Rối loạn dung nạp glucose (RLDNG),
béo phì đặc biệt là béo bụng, rối loạn lipid (RLLP) gây xơ vữa động
mạch, tăng huyết áp (THA) [34], [41]. Các yếu tố nguy cơ này nếu kết
hợp với nhau sẽ làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch, đái tháo đƣờng (ĐTĐ)
týp 2 và một số bệnh liên quan đến chuyển hóa khác.
Hiện nay có nhiều hiệp hội và các tổ chức đƣa ra tiêu chuẩn khác nhau
để chẩn đoán hội chứng chuyển hóa nhƣ: Tổ chức y tế Thế giới (WHO), Hiệp
hội đái tháo đƣờng quốc tế (IDF), Nhóm nghiên cứu về kháng insulin Châu
Âu (EGIR), Hội các nhà nội tiết lâm sàng Mỹ (AACE) và Chƣơng trình
giáo dục về cholesterol quốc gia của Hoa Kỳ (NCEP ATPIII) phù hợp với
điều kiện thực tế của từng vùng lãnh thổ, châu lục, chủng tộc,… Tỷ lệ hội
chứng chuyển hóa thay đổi khi sử dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán khác nhau.
Mỗi tiêu chuẩn tuy có các tiêu chí khác nhau nhƣng đều phục vụ mục đích nhƣ
sàng lọc hoặc điều trị,dự phòng. Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng chuyển hóa
theo IDF, AACE và NCEP ATPIII nhằm mục đích sàng lọc hội chứng chuyển
hóa tại cộng đồng. Tiêu chuẩn của WHO và EGIR đƣợc gắn vào điều trị vì liên
quan đến cơ chế bệnh sinh là kháng insulin. Theo ƣớc tính của Hiệp hội đái tháo
đƣờng quốc tế, trên thế giới có khoảng 20% - 25% dân số mắc hội chứng chuyển
hóa [82]. Nghiên cứu của Ford E.S. tại Hoa kỳ, phân tích số liệu của 8814 đối
tƣợng trên 20 tuổi ghi nhận tỷ lệ hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn NCEP
ATPPIII ƣớc tính ở ngƣời trƣởng thành là trên 20% [67]. Theo Parika P.L.,
Eriksson J.G. và cộng sự, tỷ lệ hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn chẩn đoán
của WHO ở đối tƣợng tăng glucose máu lúc đói ở nam là 74%, ở nữ là 52,2%,
rối loạn dung nạp glucose tƣơng ứng ở nam là 84,8%, ở nữ là 65,4% [102].
Tiền đái tháo đƣờng (TĐTĐ) là tình trạng trung gian giữa bệnh lý và
bình thƣờng. Ngƣời tiền đái tháo đƣờng có nguy cơ cao chuyển thành đái

1. Nghiên cứu tỷ lệ, đặc điểm hội chứng chuyển hoá theo tiêu chuẩn của IDF, NCEPATP III, EGIR, AACE ở người tiền đái tháo đường tại tỉnh Ninh Bình (2011-2012).
2. Đánh giá hiệu quả can thiệp tại cộng đồng sau 2 năm ở người tiền đái
tháo đường tại Ninh Bình (2012-2014).


3

CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. DỊCH TỄ HỌC, CHẨN ĐOÁN, YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ TIẾN TRIỂN
CỦA TIỀN ĐÁI THÁO ĐƢỜNG
1.1.1. Dịch tễ học tiền đái tháo đƣờng
Tiền ĐTĐ là tình trạng suy giảm chuyển hóa glucose, bao gồm tăng giới
hạn glucose máu lúc đói và giảm dung nạp glucose, cả 2 tình huống này đều tăng
glucose máu nhƣng chƣa đạt mức chẩn đoán ĐTĐ thực sự. Tuy nhiên, ở giai
đoạn TĐTĐ đã xuất hiện tình trạng kháng insulin, là bƣớc khởi đầu trong tiến
trình xuất hiện bệnh ĐTĐ typ 2 [14]. Những trƣờng hợp này đƣợc phát hiện khi
tiến hành xét nghiệm glucose máu lúc đói hoặc làm nghiệm pháp dung nạp
glucose máu bằng đƣờng uống hoặc đƣờng tĩnh mạch. Trƣớc đây ngƣời ta gọi
tình trạng này là “Đái tháo đƣờng tiềm tàng”, “Đái tháo đƣờng sinh hóa”, “Đái
tháo đƣờng tiền lâm sàng” [7]. Năm 2009 WHO cùng các tổ chức y tế khác trên
Thế giới thống nhất và đƣa ra khái niệm “Tiền đái tháo đƣờng” để chỉ tình trạng
có rối loạn chuyển hóa glucose của cơ thể.
Có 3 hình thái tiền đái tháo đƣờng đó là:
- Tăng glucose máu lúc đói.
- Rối loạn dung nạp glucose.
- Hoặc kết hợp cả 2 trạng thái trên.
Năm 2010, Hiệp hội đái tháo đƣờng thế giới (IDF) báo cáo có khoảng
344 triệu ngƣời trên thế giới bị RLDNG, chiếm khoảng 7,9% ở nhóm tuổi từ
20 đến 79 tuổi, chủ yếu ở các quốc gia có thu nhập vừa và thấp. Dự báo đến

quả nghiên cứu thực trạng ĐTĐ, TĐTĐ ở ngƣời trung niên và cao tuổi tại
Thái Nguyên. Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang đƣợc điều tra 2678 đối
tƣợng từ 45 đến 69 tuổi có các YTNC cao mắc bệnh ĐTĐ ghi nhận tỷ lệ


5

RLDNG là 6,6%, RLGLĐ là 4,3%, tỷ lệ RLDNG tăng dần theo tuổi và cao
nhất ở nhóm 65 - 69 tuổi là 9,4% [31].
1.1.2. Chẩn đoán tiền đái tháo đƣờng
Tiền đái tháo đƣờng trƣớc đây ngƣời ta gọi tình trạng này là “Đái tháo
đƣờng tiềm tàng”, “Đái tháo đƣờng sinh hóa”, “Đái tháo đƣờng tiền lâm
sàng” [7]. Năm 2009, WHO cùng các tổ chức y tế khác trên Thế giới thống
nhất và đƣa ra khái niệm “tiền đái tháo đƣờng” để chỉ tình trạng có rối loạn
chuyển hóa glucose của cơ thể. Có nhiều tổ chức khác nhau đƣa ra các tiêu
chuẩn để xác định TĐTĐ, trong nghiên cứu của chúng tôi xin đƣợc giới thiệu
một số tiêu chẩn chẩn đoán TĐTĐ.
Bảng 1.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán tiền đái tháo đường của WHO năm 2010
Biểu hiện

Glucose máu

Rối loạn glucose máu lúc đói

6,1 - 6,9 mmol/l

(sau ăn 8 giờ)

(110 -25 mg/dl)


(sau ăn 8 giờ)

(110 - 125 mg/dl)

Rối loạn dung nạp glucose- IGT
(glucose huyết tƣơng sau 2 giờ làm nghiệm
pháp dung nạp glucose đƣờng uống)

7,8 - 11,0 mmol/l
(125 - 198 mg/dl)

* Nguồn: Theo American Diabetes Association 2010 [46]
Chúng ta thấy các tiêu chuẩn chẩn đoán TĐTĐ của WHO và ADA
cũng có những điểm khác biệt, vì vậy khi làm nghiên cứu hay khi sàng lọc
trên cùng một quần thể sẽ cho các kết quả khác nhau.
1.1.3. Yếu tố nguy cơ của tiền đái tháo đƣờng
Tiền đái tháo đƣờng thƣờng xuất hiện ở những ngƣời có yếu tố nguy cơ
mắc dù không đƣợc coi là nguyên nhân nhƣng TĐTĐ hay xuất hiện ở các đối
tƣợng dƣ cân, có cuộc sống tĩnh tại ít hoạt động thể lực và có chế độ ăn và tập
luyện không hợp lý.
Dựa vào các yếu tố nguy cơ của TĐTĐ đã đƣợc khẳng định, ADA năm
2012 đã nêu ra chỉ định chung để sàng lọc TĐTĐ và ĐTĐ týp 2.
+ Sàng lọc cho tất cả các đối tƣợng ≥ 45 tuổi có hay không có kèm theo
YTNC ít nhất 3 năm / lần.
+ Sàng lọc cho tất cả các đối tƣợng < 45 tuổi nếu có một hoặc nhiều
trong số các YTNC sau:
- BMI ≥ 25 kg/m2.
- Ít vận động thể lực
- Tiền sử tăng glucose máu lúc đói hoặc rối loạn dung nạp gluocse.




8

ngƣời bệnh ĐTĐ týp 2 bị béo phì. Béo phì là một trong những nguy cơ
có thể phòng tránh. Nghiên cứu của Hu F.B. và cộng sự năm 1980 - 1986
thực hiện trên 84.941 phụ nữ không bị bệnh ĐTĐ tại thời điểm bắt đầu
nghiên cứu, kết quả cho thấy thừa cân và béo phì là nguy cơ số 1 gây
tình trạng TĐTĐ và là tiền đề cho sự phát triển thành bệnh ĐTĐ týp 2 sau
6 năm theo dõi [81].
* Hoạt động thể lực: Nhiều nghiên cứu khác nhau trên thế giới đã cho
thấy việc tập luyện thể lực thƣờng xuyên có tác dụng giảm nhanh chóng nồng
độ glucose huyết tƣơng ở ngƣời TĐTĐ và bệnh nhân ĐTĐ týp 2, đồng thời
giúp duy trì sự bình ổn của lipid máu, huyết áp, cải thiện tình trạng kháng
insulin và giúp cải thiện tâm lý. Sự phối hợp hoạt động thƣờng xuyên và điều
chỉnh chế độ ăn có thể giúp làm giảm 58% tỷ lệ mới mắc ĐTĐ týp 2.
Đã có nhiều bằng chứng cho rằng hoạt động thể lực có rất nhiều lợi ích
trên chuyển hóa, trao đổi chất của một số mô và cơ quan bao gồm cả mô cơ
xƣơng, mỡ, gan, tuyến tụy và cả não. Đã có nhiều nghiên cứu đƣa ra việc đi bộ
nhanh khoảng 150 phút mỗi tuần giúp giảm nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ týp 2
khoảng 60% gấp 2 lần so với hiệu quả của can thiệp bằng metformin [109]. Có
nhiều loại hình hoạt động thể lực can thiệp ở đối tƣợng TĐTĐ nhƣng hoạt
động đi bộ nhanh là một loại hình phù hợp nhất ở đối tƣợng thừ cân trung niên
và cao tuổi.
* Chế độ ăn: Kết quả nghiên cứu nhận thấy tỷ lệ bệnh ĐTĐ tăng cao
ở những ngƣời có chế độ ăn giàu chất béo bão hoà, nhiều carbohydrate tinh
chế. Ngoài ra thiếu hụt các yếu tố vi lƣợng hoặc vitamin góp phần làm thúc
đẩy sự tiến triển bệnh ở ngƣời trẻ và cao tuổi. Ngƣời già mắc bệnh ĐTĐ có
sự tăng sản xuất gốc tự do, nếu bổ sung các chất chống oxy hoá nhƣ
vitamin C, vitamin E thì phần nào cải thiện đƣợc hoạt động của insulin và

tim mạch. Thƣơng tổn tim mạch có thể xẩy ra nhiều năm trƣớc khi biểu hiện
lâm sàng của bệnh ĐTĐ. Khi kiểm soát glucose máu sớm chức năng tế bào β
sẽ đƣợc bảo vệ và góp phần làm giảm biến chứng tim mạch [14].


10

25% bình thƣờng
Rối loạn
dung
nạpglucose

Sau 10 năm

25% rối loạn dung nạp glucose

50% đái tháo đƣờng

Sơ đồ 1.1. Diễn biến tiền đái tháo đường [14]
* Nguồn: Theo tạp chí Nội tiết – Đái tháo đường 2011[14]
Ngƣời TĐTĐ là đối tƣợng có nguy cơ cao mắc bệnh ĐTĐ, hàng năm
có khoảng 5% đến 10% ngƣời TĐTĐ chuyển thành bệnh ĐTĐ và cũng một tỷ
lệ tƣơng đƣơng có glucose máu trở về bình thƣờng [116]. Tuy vậy, trong thời
gian tồn tại của TĐTĐ thì vẫn có nguy cơ đối với sự xuất hiện các biến cố tim
mạch, biến chứng mắt, thận và hệ thần kinh thậm chí vẫn có thể xuất hiện
biến chứng thận dẫn đến tàn phế hoặc tử vong nhất là khi TĐTĐ tồn tại trong
khoảng thời gian dài kèm theo các YTNC. Nếu TĐTĐ tiến triển tự nhiên thì
tình trạng kháng insulin sẽ ngày càng gia tăng, chức năng tiết insulin của tế
bào β sẽ giảm và khi chức năng tiết insulin chỉ còn < 50 % sẽ xuất hiện ĐTĐ
týp 2. Ngƣợc lại, nếu đƣợc áp dụng các biện pháp nhƣ tiết chế ăn uống, luyện

thông tin về vòng eo, vòng hông và cân nặng đƣa ra kết luận rằng chỉ số BMI,
vòng bụng, vòng hông là công cụ hữu ích để nhân viên y tế tƣ vấn cho bệnh
nhân nhằm giảm thiểu nguy cơ tiến triển thành bệnh ĐTĐ không phụ thuộc
insulin [52]. Một nghiên cứu trên khoảng 100.000 nữ y tá ở độ tuổi 30 đến 55
tuổi cho thấy mối liên quan giữa cân nặng và yếu tố nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ đã
ghi nhận trong 10 năm những phụ nữ giảm 5kg sẽ giảm 50% nguy cơ mắc bệnh
ĐTĐ, giảm 5 kg – 7,9 kg sẽ giảm khoảng 1,9 lần nguy cơ mắc bệnh, những
ngƣời giảm 8 kg – 10,9 kg sẽ giảm khoảng 2,7 lần nguy cơ mắc bệnh [72].
* Sử dụng thuốc: Năm 2002, Knowler W.C. và cộng sự đã đƣa ra
những bằng chứng cho thấy lợi ích của sử dụng thuốc để ngăn ngừa bệnh
ĐTĐ từ những ngƣời TĐTĐ. Nhóm biguanide trong đó metformin đƣợc xác


12

định cho thấy lợi ích làm giảm tỷ lệ bệnh ĐTĐ mặc dù thấp hơn so với can
thiệp thiệp lối sống [91]. Metformin là thuốc an toàn, có đặc dụng làm giảm
BMI, lipid máu và kháng insulin [112]. Một số nghiên cứu cho thấy metformin
có lợi hơn ở nhóm ngƣời có BMI cao. Thiazolidinenediones (troglitazone,
rosiglitazone và pioglitazone) cũng đã đƣợc chứng minh làm giảm nguy cơ
mắc bệnh ĐTĐ ở những ngƣời có nguy cơ cao, tuy nhiên các yếu tố bất lợi nhƣ
nhiễm độc gan, tăng cân, phù và suy tim lại hay gặp [68], [130].
* Ngoại khoa: Dƣ cân, béo phì là yếu tố nguy cơ hàng đầu cho những rối
loạn chuyển hóa diễn ra ở bệnh nhân TĐTĐ. Ngoài các nguyên nhân liên quan
đến ăn uống, luyện tập chƣa hợp lý thì còn yếu tố gen có thể dẫn đến dƣ cân, béo
phì mà các biện pháp đƣợc áp dụng phổ biến không thể điều chỉnh đƣợc. Trong
những trƣờng hợp đó có thể phải áp dụng biện pháp can thiệp ngoại khoa. Can
thiệp ngoại khoa nhƣ là một biện pháp điều trị chỉ áp dụng cho đối tƣợng béo phì
có BMI > 35 kg/m2 mà không điều chỉnh đƣợc nếu chỉ áp dụng các biện pháp
nhƣ dinh dƣỡng tiết chế, luyện tập thể lực và sử dụng thuốc. Mục tiêu điều trị

HCCH đƣợc biết đến rất sớm từ những năm 1920, Morgagni là ngƣời
đầu tiên mô tả các dấu hiệu của hội chứng này, thuật ngữ “Hội chứng chuyển
hóa” quay trở lại vào cuối thế kỷ 20 và phổ biến vào những năm 70 của thế kỷ
20. Các thuật ngữ "Hội chứng chuyển hóa", "Hội chứng kháng insulin", và
"Hội chứng X" bây giờ đƣợc sử dụng đặc biệt để xác định một nhóm các
yếu tố bất thƣờng liên quan với tăng nguy cơ cho sự phát triển của bệnh
ĐTĐ và bệnh xơ vữa động mạch (bệnh tim mạch và đột qụy).
Ngày nay HCCH đang đƣợc sử dụng rộng rãi và đƣợc đề cập nhiều
trong các hội nghị y học Thế giới về ngăn chặn và phòng ngừa các bệnh
mạn tính không lây nhằm giảm tỷ lệ tử vong do các biến cố tim mạch gây
ra. Theo ƣớc tính của IDF, hiện nay trên Thế giới có khoảng 20% – 25 % dân
số mắc HCCH, tỷ lệ tử vong do nhồi máu cơ tim, đột quỵ não ở nhóm đối
tƣợng này cao gấp 2 đến 3 lần so với ngƣời không có HCCH [82]. Hiện nay,
có nhiều tổ chức đƣa ra các tiêu chí khác nhau, tùy thuộc nhóm đối tƣợng để


14

xác định HCCH. Nghiên cứu của Ervin R.B. và cộng sự phân tích dữ liệu từ
3423 ngƣời lớn có độ tuổi trên 20 từ năm 2003 – 2006, sử dụng tiêu chuẩn
của NCEP ATPIII cho thấy khoảng 34% ngƣời mắc HCCH, nam và nữ ở
nhóm 40 đến 59 tuổi mắc HCCH cao gấp 3 lần so với nhóm 20 đến 39 tuổi, ở
nhóm trên 60 tuổi tỷ lệ nam cao hơn nữ khoảng 4 lần và cao hơn khoảng 6 lần
so với nhóm tuổi trẻ [62]. Một nghiên cứu tại Ấn Độ của Prasad D.S., và
cộng sự cỡ mẫu 1178 ngƣời từ 20 đến 80 tuổi đƣợc lựa chọn ngẫu nhiên từ 37
phƣờng, xã tại Orissa - Ấn Độ, tỷ lệ mắc HCCH là 43,2%, ở nam 52,2% cao
hơn nữ 34,2% [107]. Năm 2005 Gu D., Reynolds K. và cộng sự công bố kết
quả nghiên cứu cắt ngang cỡ mẫu 15540 ngƣời có độ tuổi từ 35 đến 74 tuổi
trong 2 năm, sử dụng tiêu chuẩn theo NCEP ATPIII, thừa cân đƣợc xác định
khi BMI ≥ 25 kg/m2, cho thấy tỷ lệ HCCH là 9,8% ở nam và 17,8% ở nữ, tỷ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status