ĐẶT VẤN ĐỀ
Được biết tới từ những năm 20 của thế kỷ trước, hội chứng chuyển hóa
đã nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới. Tuy
nhiên, hơn hai thập kỷ sau đó các nhà khoa học đã tranh cãi nhiều về hội
chứng này cũng như tiêu chuẩn để chẩn đoán. Hiện nay có nhiều tổ chức, tùy
theo mục tiêu nghiên cứu của mình, đã đưa ra các tiêu chuẩn để chẩn đoán
khác nhau. Tiêu chuẩn của nhóm chuyên gia Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
[82]; tiêu chuẩn của Nhóm nghiên cứu về kháng Insulin Châu Âu (EGIR)
[33]; tiêu chuẩn của ATP III năm 2001[31], cập nhật năm 2005 [53], [52],
[75] thuộc chương trình giáo dục Cholesterol quốc gia của Mỹ (NCEPT); tiêu
chuẩn của các nhà Nội tiết học Lâm sàng Mỹ (AACE) [37]; tiêu chuẩn của
Liên đoàn đái tháo đường quốc tế (IDF) [61].
Theo nhiều nghiên cứu, ĐTĐ typ 2 ngay khi phát hiện đã có biến chứng
tim mạch, nghĩa là các biến chứng này xảy ra ở giai đoạn tiền ĐTĐ [52].
Trên thế giới cũng đã có nhiều nghiên cứu ở đối tượng tiền ĐTĐ.
Nghiên cứu DECODE cho thấy, người bị rối loạn dung nạp glucose (IGT) có
nguy cơ phát triển thành bệnh ĐTĐ rất cao và khuyến cáo những người này
cần được quản lý tích cực để phòng ngừa hiện tượng đó[78]. Theo Reaven
GM, người bị tiền đái tháo đường sẽ tăng nguy cơ bệnh lý tim mạch và
thường biểu hiện nhiều yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch [72].
Trên thế giới cũng đã có các nghiên cứu về HCCH ở người tiền ĐTĐ.
Theo Mohammed Ali Al-Shafaee và cộng sự [67], tỷ lệ HCCH theo IDF ở đối
tượng tiền ĐTĐ (IFG) là 45,9% (30,8% ở nam, 58,9% ở nữ) . Theo Pirjo
Ilanne, Johna G, Eriksson và cộng sự, tỷ lệ HCCH theo tiêu chuẩn của WHO
ở đối tượng suy giảm glucose máu lúc đói ở nam là 74% và ở nữ là 52,2%,
tỷ lệ HCCH ở đối tượng rối loạn dung nạp glucose (IGT) thừa cân ở nam là
84,8% và ở nữ là 65,4% [70]. Theo Isomaa B, Almgren và cộng sự, ĐTĐ
typ2 và rối loạn dung nạp glucose liên quan chặt chẽ với hội chứng chuyển
hóa [63]. Và nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra nhóm các yếu tố nguy cơ của
được biết đến từ thời cổ. Sự thay đổi biểu hiện xơ vữa mạch kinh điển gây
nên bởi các bệnh lý chuyển hoá đã được phát hiện nhiều ở các thành viên tầng
lớp trên các quân đoàn thuộc thời kỳ văn minh tiền Cơ Đốc giáo.
Maranon (1922) và Himsworth (1936) đã đưa ra những đặc điểm lâm
sàng đầu tiên của những thành phần quan trọng trong hội chứng chuyển hoá
(HCCH). Morgagni cũng nhận xét rằng “Xơ vữa mạch và béo tạng thường
hay gặp ở những người con nhà dòng dõi”. Ông mô tả đó là những người có
đặc điểm công việc là “làm việc nghiên cứu sách vở, có cuộc sống tĩnh tại,
thời gian ngồi làm việc nhiều hơn là vận động, người thường có những bữa ăn
thừa năng lượng”- tức là không phải ở những người lao động chân tay, không
phải người có hoạt động thể lực nặng. Sau đó, vào năm 1923, Kylin mô tả
những dấu hiệu liên quan đến nhóm các triệu chứng này như là một tập hợp
gồm tăng huyết áp, tăng glucose máu và bệnh Goutte. Sau đó 2 thập kỷ, vào
năm 1943 Vague đã chia béo phì ra làm 2 loại, béo “Gynoid” và “Androi”.
Béo “Gynoid” được đặc trưng bởi sự tập trung của mô mỡ ở quanh đùi và
mông, trong khi béo androi đặc trưng bởi sự tập trung của mô mỡ ở bụng.
Béo androi liên quan nhiều đến kháng insulin. Ông cũng nhấn mạnh sự phối
hợp giữa béo phì nhất là dạng béo kiểu nam (béo bụng) với rối loạn chuyển
hóa, bệnh tim mạch và đái tháo đường. Những tiền đề quan trọng khác để
người ta đưa ra khái niệm Hội chứng chuyển hóa tiếp theo là việc tìm ra mối
liên quan giữa các acid béo tự do(FFA) và nồng độ insulin, là kỹ thuật kẹp
insulin glucose máu bình thường. Cuối cùng là hàng loạt các khái niệm khác
được hoàn thiện như quá trình tiếp nhận glucose được insulin hoạt hóa,các
tiêu chuẩn về rối loạn chuyển hóa lipid, những tiêu chuẩn về tăng huyết áp…
Tất cả đã giúp cho ra đời một “Hội chứng X chuyển hóa”.
Năm 1988, trong bài phát biểu của mình tại buổi nhận giải thưởng
Banting Reaven sử dụng thuật ngữ “Hội chứng X” bao gồm một nhóm các
yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành như nồng độ insulin lúc đói cao, dung
đích nghiên cứu của mình để đưa ra những tiêu chuẩn riêng biệt, phục vụ cho
mục tiêu phòng chống bệnh tật mà nhóm đó theo đuổi. Song thực tế, ngoài
phần đặc điểm riêng của mình, họ đều có những tiêu chí chẩn đoán chung.
Cũng năm 1998, một nhóm các chuyên gia của WHO xác định vị trí của hội
chứng này và gọi là “Hội chứng chuyển hóa” và khuyến cáo không nên gọi là
“Hội chúng kháng insulin”. Các chuyên gia đã nêu nguyên nhân chính của
việc gọi tên này là do hiện tượng kháng insulin không phải là nguyên nhân cơ
bản của tất cả các yếu tố nguy cơ tạo nên hội chứng. Ngày nay, “ Hội chứng
chuyển hóa” là thuật ngữ đã đứng vững qua thời gian dài và nó được chấp
nhận rộng rãi nhất trên toàn thế giới. Nó mô tả một nhóm rối loạn chuyển hóa
liên quan với các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch cũng như tiên đoán khả
năng phát triển thành đái tháo đường (nếu tại thời điểm đó chưa biểu hiện đái
tháo đường).
1.1.2. Sinh bệnh học của Hội chứng chuyển hóa
Hiện nay việc xác định cơ chế sinh lý bệnh của HCCH vẫn còn nhiều
vấn đề phức tạp và tranh cãi do HCCH có nhiều các yếu tố đan xen, liên quan
lẫn nhau như: béo phì, rối loạn hoạt động mô mỡ, kháng insulin lại vừa có
những yếu tố độc lập như bệnh lý phân tử ở gen, bệnh lý mạch máu, bệnh có
nguồn gốc miễn dịch. Sự phối hợp của các yếu tố như tuổi, tình trạng dễ viêm
nhiễm, sự thay đổi nồng độ hormon đều ảnh hưởng đến sự phát triển của
HCCH.
1.1.2.1. Béo phì và sự phân bố mỡ bất thường của cơ thể
Mặc dù việc mô tả HCCH đầu tiên có từ đầu thế kỷ 20 nhưng đại dịch
béo phì trên toàn thế giới là nhân tố quan trọng đẩy mạnh việc nghiên cứu về
HCCH trong thời gian gần đây. Kháng insulin tăng song hành với tăng tỷ lệ
mô mỡ của cơ thể [28]. Đa số những người có BMI ≥ 30kg/m2 đều có tăng
insulin máu sau ăn, đều có giảm nhậy cảm với insulin ở mô đích [38]. Với
một số quốc gia Châu Á, kháng insulin đã xảy ra ngay ở những người có chỉ
1.1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng độc lập trong hội chứng chuyển hóa
Tuổi
Tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa tăng theo tuổi. Tỷ lệ này tăng nhanh ở
lứa tuổi trung niên. Nghiên cứu National Health anh Nutrition Examaination
Survey III (NHANES III, 1988 đến 1994) khi đánh giá 8814 người trưởng
thành ở Mỹ cho thấy: tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn ATP
III - 2001 ở lứa tuổi 20 đến 29 là 6,7% đã tăng vọt lên 43,5% ở lứa tuổi 60
đến 69, và 42% ở lứa tuổi trên 70), tỷ lệ chung là 22% [47].
Giới
Nhiều tác giả cho rằng béo trung tâm là một yếu tố quan trọng cấu
thành hội chứng chuyển hóa. Béo trung tâm lại thường gặp ở nam nhiều hơn
nữ, vì thế hội chứng chuyển hóa cũng gặp ở nam nhiều hơn. Nhận xét này đã
được chứng minh bởi nhiều nghiên cứu. Wilson PW, D'Agostino RB, Parise
H, Sullivan L, Meigs JB, 2005 khi nghiên cứu hội chứng chuyển hóa theo tiêu
chuẩn ATP III cập nhật năm 2005 báo trước sự xuất hiện của bệnh tim mạch
và đái tháo đường cho thấy, tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa là 26.8% đối với
nam và 16,6% đối với nữ ở 3323 người có tuổi từ 22 đến 81 không mắc bệnh
tim mạch và đái tháo đường tại thời điểm nghiên cứu [81].
Dân tộc
Đây là điểm thường gặp, vì thế trong mọi khuyến cáo người ta đều
khuyên người thầy thuốc thực hành phải dựa vào các chỉ số nhân trắc và sinh
học của dân tộc mình khi chẩn đoán và đánh giá các bệnh về chuyển hóa [6].
Thừa cân, béo phì và rối loạn phân bố mỡ của cơ thể
Như đã đề cập ở trên, thừa cân, béo phì, rối loạn phân bố mỡ là rất
thường gặp ở người mắc hội chứng chuyển hóa. Tuy nhiên, cần nhắc lại rằng
chỉ số BMI, vòng eo, WHR, không chỉ phụ thuộc vào đặc tính từng dân tộc
mà còn phụ thuộc vào điều kiện, vào giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội của
mỗi quốc gia, mỗi dân tộc [7].
• Các tiêu chí khác (tiêu chí B)
Tăng huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc tâm trương ≥90mmHg
Rối loạn chuyển hóa lipid:
Triglycerid (≥1,7mmol/l;150mg/dl) và/hoặc
HDL-Cholesterol ( 0,85) và hoặc BMI > 30(với người Châu Âu và
Châu Mỹ, BMI > 27 ( với người Châu Á)
Microalbumin niệu dương tính: (bài xuất albumin niệu ≥ 20µg/phút
hoặc tỷ lệ albumin/creatinin niệu ≥ 30 mg/g.
Theo tiêu chuẩn này sự kháng insulin là cần thiết. Tuy nhiên cũng
tương tự như tiêu chuẩn của ATP III, đái tháo đường type 2 không bị loại trừ
khỏi chẩn đoán. Trong thực hành lâm sàng sự xác định kháng insulin cũng
như microalbumin niệu là khó khăn, khó áp dụng.
1.1.3.2. Tiêu chuẩn của nhóm nghiên cứu về kháng Insulin Châu Âu (EGIREuropean Group for the study of insulin resistance)
Tiêu chuẩn của EGIR [34] là:
• Tiêu chí bắt buộc là có kháng Insulin và/hoặc tăng insulin máu lúc
đói (tiêu chí A)
• Các tiêu chí khác (tiêu chí B)
Tăng glucose máu: Glucose máu lúc đói ≥ 6,1 mmol/l (nhưng
không bao gồm đái tháo đường).
Tăng huyết áp khi:
để đánh giá béo bụng. Hơn nữa, nếu một người đã được điều trị tăng huyết áp
hoặc rối loạn mỡ máu họ được coi như có các bất thường tương ứng.
1.1.3.3. Tiêu chuẩn của ATP III thuộc chương trình giáo dục về Cholesterol quốc
gia của Mỹ (NEPT – National Cholesterol Education Program) – 2005
Hội chứng chuyển hóa được xác định khi có bất kỳ 3 trong 5 tiêu chí
sau [52], [53].
Tăng vòng bụng : Nam: ≥ 102 cm , Nữ: ≥ 88cm
Tăng triglycerid khi: TG ≥ 1,7mmol/l (150mg/dl) hoặc điều trị
tăng triglycerid
Giảm HDL-cholesterol khi : Nam :
• Tiêu chí bắt buộc là phải có béo trung tâm (được xác định bằng tăng số
đo vòng eo*), số đo này khác nhau theo các chủng tộc (Bảng 1.1).
• Kết hợp với bất kỳ 2 trong 4 tiêu chí sau :
Tăng triglycerid máu :
TG ≥ 1,7mmol/l (150mg/dl) hoặc
Đã điều trị các rối loạn lipid máu bằng thuốc.
Giảm HDL-cholesterol máu:
Nam:
Nhật Bản
Người ở Nam và Trung Mỹ
Người Phi khu vực Sahara
Vùng Trung Đông và Địa Trung Hải
Nam
Số đo vòng eo (cm)
≥ 94
Nữ
Nam
≥ 80
≥ 90
Nữ
Nam
≥ 80
≥ 90
Nữ
Nam
≥ 80
≥ 85
Nữ
≥ 3 trong các
tiêu chí sau
Glucose
≥ 5,6 mmol/l
hoặc
Điều trị tăng
glucose máu
HDL Cholestero
l
< 1, 03 mmol/l
(40mg/dl)(nam);
Và ≥ 2 của các
tiêu chí sau
Và ≥ 2 của các
tiêu chí sau
≥ 5,6 mmol/l
hoặc
Chẩn được
chẩn đoán đái
tháo đường
< 1, 03 mmol/l
(40mg/dl)
(nam);
1,7mmol/l(nam
) hoặc điều trị
tăng
Triglyceride
≥ 130/85
mmHg hoặc
điều trị THA
Hoặc ≥ 2
mmol/l hoặc
điều trị rối
loạn lipid
Hoặc ≥ 1,7
mmol/l
Vòng eo ≥
94 cm (nam)
hoặc ≥ 80
cm (nữ)
Tỉ số vòng
eo/vòng hông >
0,9 (nam) hoặc
0,85 (nữ) hoặc
BMI ≥ 30 kg/m2
≥ 140/90
mmHg hoặc
EGIR. Kết quả cho thấy, tỷ lệ mắc HCCH dao động từ 6,1 đến 13,4% tùy theo
tiêu chuẩn chẩn đoán. Tỷ lệ mắc tăng dần theo tuổi và có sự khác biệt giữa
nam và nữ. Ở các nhóm tuổi dưới 50, HCCH gặp ở nam nhiều hơn nữ nhưng
từ lứa tuổi 50 trở đi thì nữ lại gặp nhiều hơn nam [51].
Một nghiên cứu khác ở Hồng Kông cho biết tỷ lệ mắc tăng từ 3,1% ở lứa
tuổi 25-29 đến 41% ở tuổi trên 70. Còn tỷ lệ mắc chung trong nghiên cứu này
sau khi đã điều chỉnh định nghĩa béo phì đối với người Châu Á là 21,2% [77].
Nghiên cứu trên dân cư thành thị ở Ấn Độ sử dụng tiêu chuẩn của
NCEP thì tỷ lệ HCCH là 41,1%, trong đó yếu tố HDL-C thấp chiếm tỷ lệ cao
nhất (65,5%), sau đó là yếu tố huyết áp (55,4%), thấp nhất là yếu tố rối loạn
glucose máu khi đói (26,7%) [69].
Một nghiên cứu cắt ngang ở Venezuela đã đánh giá trên 3108 đối tượng
tuổi từ 20 trở lên cho biết tỷ lệ mắc HCCH theo NCEP ATP III là 31,2%
trong đó tỷ lệ nam cao hơn nữ. Tỷ lệ mắc tăng lên theo tuổi cùng với mức độ
béo phì. Tỷ lệ này thấp hơn ở đàn ông da đỏ (17%) so với đàn ông da đen
(27,2%), da trắng (33,3%) nhưng không có sự khác biệt nào ở nữ. Nhìn
chung, các yếu tố HDL-C(65,3%), béo bụng (42,9%) và yếu tố huyết áp
(38,1%) là thường gặp nhất trong HCCH. Cách sống không lành mạnh cũng
làm tăng nguy cơ của hội chứng này [39]. [39]
Nhiều nghiên cứu ở Anh, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Hy Lạp… cũng đều
cho biết tỷ lệ mắc ở nam nhiều hơn nữ. Tuy nhiên, nghiên cứu ở Iran cho kết
quả ngược lại về tỷ lệ mắc theo giới. ở đây, tỷ lệ mắc của nữ lại cao hơn hẳn ở
nam giới [32], [66], [79].
Ở Việt Nam, nghiên cứu đầu tiên của Nguyễn Quang Bảy mô tả một
trường hợp chẩn đoán hội chứng X chuyển hóa tại khoa Nội tiết - Đái tháo
đường Bệnh viện Bạch Mai năm 1999 [3]. Nghiên cứu của Lê Nguyễn Trung
Đức Sơn và cộng sự năm 2000 đã cho thấy tỷ lệ HCCH ở nội thành thành phố
Hồ Chí Minh là 12%, có liên quan đến tuổi, phần trăm mỡ và nghề nghiệp
insulin (một tiêu chuẩn bắt buộc trong định nghĩa HCCH của WHO) trong
sinh bệnh học của ĐTĐ typ2. Nhiều nghiên cứu khác đã cho thấy, nguy cơ
tiến triển thành ĐTĐ tăng khi số tiêu chí của HCCH cùng xuất hiện ở một đối
tượng tăng. Barbara E.K. Klein, Ronald Klein và cộng sự [35] cho thấy khi
nghiên cứu 4423 đối tượng không ĐTĐ thấy 6,9% đối tượng tăng ĐH,
18,4% đối tượng THA, 82,7% đối tượng có nồng độ lipid ở mức nguy cơ cao,
33,2% đối tượng tăng BMI, 3,3% đối tượng có microalbumin niệu. Ở những
đối tượng không có tiêu chí nào rối loạn chỉ có 0,6% tiến triển thành ĐTĐ
typ2 sau 5 năm, khi có 1 tiêu chí rối loạn thấy tỷ lệ này là 1,1% , 2 tiêu chí
rối loạn tỷ lệ này là 3,9%, 3 tiêu chí rối loạn tỷ lệ này là 5,9 và từ 4 tiêu chí
trở lên rối loạn tỷ lệ này là 17,9%.
1.1.6. Dự phòng HCCH
Để dự phòng hội chứng chuyển hóa cần có chế độ ăn và luyện tập phù
hợp. Định kỳ đo huyết áp, đo vòng eo, chỉ số vòng eo/vòng hông, cân nặng
của mình cũng như xét nghiệm các thành phần glucose máu và mỡ máu để có
thái độ xử lý sớm nếu cần.
1.2. Khái niệm đái tháo đường
1.2.1. Định nghĩa
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) thì ĐTĐ “là một hội chứng có đặc
tính biểu hiện bằng tăng glucose máu do hậu quả của việc thiếu/hoặc mất
hoàn toàn insulin hoặc do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt
động của insulin” [10].
1.2.2. Đặc điểm dịch tễ
Trong những năm gần đây, ĐTĐ luôn là vấn đề sức khỏe lớn trên thế
giới. Bệnh phát triển với tốc độ nhanh, đặc biệt ở các nước đang phát triển.
Năm 1994 thế giới có 110 triệu người mắc bệnh ĐTĐ, năm 1995 là 135 triệu
người (chiếm 4% dân số). Ước tính năm 2010 con số này sẽ là 285 triệu
người (chiếm 6,4% dân số thế giới) và sẽ tăng lên 439 triệu người (chiếm
1.3. Tiền đái tháo đường
1.3.1. Khái niệm
Ngày nay, tiền đái tháo đường được hiểu là tình trạng suy giảm chuyển
hóa glucose, bao gồm 2 tình huống: rối loạn dung nạp glucose (IGT-Impaired
Glucose Tolerance) và Suy giảm dung nạp glucose máu lúc đói (IFGImpaired Fasting Glucose). Cả hai tình huống này đều tăng glucose máu,
nhưng chưa đạt mức chẩn đoán đái tháo đường thực sự. Tuy nhiên, ở giai
đoạn tiền đái tháo đường đã xuất hiện biến chứng của bệnh đái tháo đường.
tăng cao ở nhiều nước trên thế giới đòi hỏi ngành y tế cần có chiến lược
phòng và chống tiền đái tháo đường một cách tích cực [8], [14].
1.3.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán
1.3.2.1. Theo Hội Đái tháo đường Mỹ (ADA)
Theo ADA [14] [52] chẩn đoán xác định tiền Đái tháo đường khi có ít
nhất một trong hai tiêu chuẩn sau:
- Rối loạn dung nạp glucose (IGT): nếu mức glucose huyết tương ở thời
điểm 2 giờ sau nghiệm pháp tăng glucose máu đường uống từ 7,8 mmol/l (140
mg/dl) đến 11,0 mmol/l (198mg/dl) và glucose huyết tương lúc đói < 126mg/dl
(7mmol/l).
- Suy giảm dung nạp glucose máu lúc đói (IFG): nếu lượng glucose
huyết tương lúc đói (sau ăn 8 giờ) từ 5,6 mmol/l (100 mg/dl) đến 6,9 mmol/l
(125 mg/dl) và lượng glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ của nghiệm pháp
tăng glucose máu dưới 11,1 mmol/l (< 200 mg/dl).
1.3.2.2. Theo WHO năm 1999
Theo WHO [82], [30], [8] chẩn đoán tiền đái tháo đường khi có ít nhất
một trong hai tiêu chuẩn sau:
- IGT: nếu mức glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp tăng
glucose máu đường uống từ 7,8 mmol/l (140 mg/dl) đến 11,0 mmol/l
(198mg/dl) và glucose huyết tương lúc đói < 7 mmol/l (126 mg/dl).
- IFG: nếu lượng glucose huyết tương lúc đói (sau ăn 8 giờ) từ 6,1 mmol/l
2.2.3. Các bước tiến hành thu thập thông tin
2.2.3.1. Phỏng vấn đặc điểm thông tin đối tượng:
- Tuổi, giới, nghề nghiệp
- Tiền sử bản thân: tiền sử tăng huyết áp, đái tháo đường.
2.2.3.2. Đánh giá các chỉ số nhân trắc
* Đo chiều cao đứng
Dụng cụ: Thước đứng Microstoise với độ chính xác 0,1cm.
Cách đo: Đối tượng được đo bỏ guốc, dép, đứng thẳng với tư thế thoải
mái, hai chân chụm hình chữ V, gót chân sát mặt sau của cân, mắt nhìn thẳng
về phía trước, đảm bảo ba điểm cơ sở chạm vào thước đo là vùng chẩm, mông
và gót chân. Kéo Eker gắn sẵn trên thước đo cho lên quá đầu, hạ dần xuống
đến khi chạm đỉnh đầu. Đọc kết quả và ghi số centimét với một số lẻ.
* Đo cân nặng
Dụng cụ: Cân bằng cân điện tử SECA với độ chính xác 0,1 kg. Cân được
kiểm tra và hiệu chỉnh trước khi sử dụng.
Cách cân: Đối tượng điều tra cởi bỏ giày, dép, áo khoác đứng giữa bàn
cân, không cử động, mắt nhìn thẳng, trọng lượng dồn đều cả hai chân. Kết
quả cân được ghi theo đơn vị kg với 1 số lẻ.
* Đo vòng eo
Dụng cụ: Đo bằng thước dây có chia vạch đến hàng mm.
Cách đo: Đối tượng được đo đứng thẳng, hai chân chụm. Người đo đứng
nghiêng sang bên theo chiều vuông góc với người được đo, dùng thước dây đo
ngang qua điểm giữa của bờ dưới xương sườn 12 và bờ trên mào chậu lúc thở ra
nhẹ nhàng, đảm bảo rằng thước đo ở vị trí nằm ngang, đọc số đo đến cm.
* Đo vòng hông
Dụng cụ: Đo bằng thước dây có chia vạch đến hàng cm.
Cách đo: Đối tượng được đo đứng thẳng, hai chân chụm. Người đo đứng
nghiêng sang bên theo chiều vuông góc với người được đo, dùng thước dây
Tăng triglycerid khi: TG ≥ 1,7mmol/l (150mg/dl)
Giảm HDL-cholesterol khi : Nam :