nghiên cứu đặc điểm hội chứng chuyển hóa theo các tiêu chuẩn khác nhau ở người tiền đái tháo đường tại ninh bình - Pdf 23

1
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hội chứng chuyển hóa là một nhóm các yếu tố nguy cơ về chuyển hóa
bao gồm thừa cân hay béo phì, kháng insulin, ít hoạt động thể chất, các yếu tố
di truyền. Hội chứng chuyển hóa là một chứng bệnh nghiêm trọng, những
người bị chứng bệnh này có nguy cơ cao hơn bị mắc những bệnh liên quan
đến sự tích tụ các chất béo trong thành động mạch. Những bệnh có tiên quan
đến Hội chứng chuyển hóa thường gặp là: bệnh động mạch vành, đột quỵ,
bệnh động mạch ngoại biên, đái tháo đường týp 2.
Ngày nay, khi các bệnh lây nhiễm từng bước được khống chế và đẩy lùi
thì các bệnh không lây đang dần trở thành gánh nặng cho xã hội và sức khỏe
của con người.Trong đó chứng bệnh Hội chứng chuyển hóa ngày càng trở nên
phổ biến hơn, tại Mỹ có tới 20 đến 25 phần trăm những người Mỹ trưởng
thành được cho là bị hội chứng này. Hội chứng này liên quan tới béo phì ở
vùng bụng và tính kháng insulin, góp phần làm tăng huyết áp, tăng
cholesterol, giảm HDL cholesterol và tăng đường huyết.
Nhiều nhiên cứu trên thế giới đã chỉ ra mối liên quan giữa hội chứng
chuyển hóa và bệnh đái tháo đường. Những người tiền đái tháo đường có tỷ lệ
rất cao mắc hội chứng chuyển hóa. Những người mắc hội chứng chuyển hóa
có khả năng rất cao bị rối loạn dung nạp đường máu hoặc mắc bệnh đái tháo
đường. Theo Reaven GM, người bị tiền đái tháo đường sẽ tăng nguy cơ bệnh
lý tim mạch và thường biểu hiện nhiều yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch,
đây là nhóm các yếu tố nguy cơ đã được gọi tên là HCCH. Theo Pirjo Ilanne,
Johna G, Eriksson và cộng sự, tỷ lệ HCCH theo tiêu chuẩn của WHO ở đối
tượng suy giảm glucose máu lúc đói ở nam là 74% và ở nữ là 52,2%, tỷ lệ
HCCH ở đối tượng rối loạn dung nạp glucose (IGT) ở nam là 84,8% và ở nữ
là 65,4%. Theo Isomaa B, Almgren và cộng sự, ĐTĐ týp2 và rối loạn dung
nạp glucose liên quan chặt chẽ với hội chứng chuyển hóa.
2
Hiện nay có nhiều tổ chức, tùy theo mục tiêu nghiên cứu của mình, đã

gặp ở những người con nhà dòng dõi”. Ông mô tả đó là những người có đặc
điểm công việc là “làm việc nghiên cứu sách vở, có cuộc sống tĩnh tại, thời
gian ngồi làm việc nhiều hơn là vận động, người thường có những bữa ăn
thừa năng lượng”- tức là không phải ở những người lao động chân tay, không
phải người có hoạt động thể lực nặng.
Năm 1923, Kylin mô tả những dấu hiệu liên quan đến nhóm các triệu
chứng này như là một tập hợp gồm tăng huyết áp, tăng glucose máu và bệnh
Goutte.
Năm 1943, Vague đã chia béo phì ra làm 2 loại, béo “Gynoid” và
“Androi”: béo “Gynoid” được đặc trưng bởi sự tập trung của mô mỡ ở quanh
đùi và mông, trong khi béo androi đặc trưng bởi sự tập trung của mô mỡ ở
bụng, béo androi liên quan nhiều đến kháng insulin. Ông cũng nhấn mạnh sự
phối hợp giữa béo phì nhất là dạng béo kiểu nam (béo bụng) với rối loạn
chuyển hóa, bệnh tim mạch và đái tháo đường.
Việc tìm ra mối liên quan giữa các acid béo tự do (FFA) và nồng độ
insulin là những tiền đề quan trọng để người ta đưa ra khái niệm Hội chứng
chuyển hóa. Đồng thời người ta cũng đưa ra hàng loạt các khái niệm khác
được hoàn thiện như quá trình tiếp nhận glucose được insulin hoạt hóa,các
tiêu chuẩn về rối loạn chuyển hóa lipid, những tiêu chuẩn về tăng huyết áp…
Tất cả đã giúp cho ra đời khái niệm về “Hội chứng X – Hội chứng chuyển
hóa”.
Năm 1988, trong bài phát biểu của mình tại buổi nhận giải thưởng
Banting, Reaven sử dụng thuật ngữ “Hội chứng X” bao gồm một nhóm các
4
yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành như nồng độ insulin lúc đói cao, dung
nạp glucose kém, tăng huyết áp, giảm HDL, tăng VLDL và tăng Triglycerid,
và xác minh chắc chắn về tầm quan trọng về mặt lâm sàng của hội chứng này,
mặc dù không bao gồm yếu tố béo phì.
Năm 1989, Kaplan sử dụng thuật ngữ “Nhóm bộ tứ chết người” và các
tác giả sau đó sử dụng thuật ngữ “Hội chứng kháng Insulin”. Ngay từ khi mới

tăng tỷ lệ hội chứng chuyển hóa, ít nhất là khía cạnh dịch tễ. Béo phì còn là yếu
tố thuận lợi góp phần làm tăng huyết áp, tăng nồng độ cholesterol máu, hạ thấp
nồng độ HDL-cholesterol, làm tăng nồng độ glucose máu. Tất cả những yếu tố
này kết hợp lại làm tăng nguy cơ bệnh lý tim mạch. Trong các thể loại béo phì,
thể béo bụng có liên quan với hội chứng chuyển hóa chặt chẽ hơn cả. Các mô
mỡ dư thừa là nguồn phóng thích vào tuần hoàn các acide béo không este hóa
(NEFA: nonesterified fatty acid); các cytokin; PAI-1 (plasiminogen activator
inhibitor-1) và adiponectin. Các yếu tố này đã làm tăng sự đề kháng insulin,
tăng khả năng gây viêm của lớp tế bào nội mô mạch máu, tạo thuận lợi cho
mảng xơ vữa hình thành và phát triển.
Béo phì và hội chứng chuyển hóa được đặc trưng bởi sự tụ hợp của các
bất thường, các yếu tố này là những nguy cơ chính của bệnh Đái tháo đường
typ 2 và bệnh tim mạch. Khi có đề kháng insulin, glucosse máu tăng do giảm
sử dụng glucose qua vai trò trung gian của insulin, insulin máu sẽ tăng để
chống lại sự tăng glucose máu. Đây là yếu tố trung tâm trong chu trình sinh
bệnh học đối với cả hội chứng chuyển hóa và đái tháo đường týp 2. Rối loạn
lipid máu gây xơ vữa mạch máu, là một thành phần quan trọng của nhóm các
bất thường đặc trưng của hội chứng chuyển hóa, bao gồm béo bụng, đề kháng
insulin (có hoặc không giảm dung nạp glucose), tăng huyết áp và tình trạng
tiền huyết khối, tiền viêm. Người ta cũng đã xác định 3 thành tố chính của rối
loạn lipid máu xảy ra trong đề kháng insulin: tăng Lipoprotein giàu Triglycerid
6
lúc đói và sau ăn, giảm HDL-Cholesterol, tăng phân tử LDL nhỏ đậm đặc.
2.1.2. Kháng insulin trong hội chứng chuyển hóa
Kháng insulin máu xảy ra khi tế bào không đáp ứng hoặc bản thân tế
bào chống lại sự tăng insulin máu. Ở hội chứng chuyển hóa, tuy người ta còn
tranh cãi nhiều về tính thống nhất của hội chứng này, nhưng lại đều thừa nhận
vai trò của kháng insulin có liên quan chặt chẽ, thậm chí có vai trò trung tâm
trong mối liên quan với các rối loạn khác trong hội chứng.
Vị trí hoạt động chính của insulin là ở cơ, xương, mô mỡ, gan và có thể

huyết áp.
Nhiều tác giả cho rằng kháng insulin là yếu tố chính, yếu tố cốt lõi của
hội chứng chuyển hóa. Kháng insulin vừa là một yếu tố độc lập, vừa là yếu tố
liên kết các yếu tố khác để tạo ra hội chứng này; vì người bệnh có kháng
insulin lâu ngày sẽ gây ra hậu quả làm rối loạn dung nạp glucose, lúc này tăng
glucose máu lại là yếu tố nguy cơ gây ra bệnh lý mạch vành.
2.1.3. Các yếu tố liên quan trong hội chứng chuyển hóa
Tuổi
Tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa tăng theo tuổi, tỷ lệ này tăng nhanh ở lứa
tuổi trung niên. Nghiên cứu National Health anh Nutrition Examaination Survey
III (NHANES III,1988 đến 1994) khi đánh giá 8814 người trưởng thành ở Mỹ
cho thấy: tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn ATP III - 2001 ở
lứa tuổi 20 đến 29 là 6,7% đã tăng vọt lên 43,5% ở lứa tuổi 60 đến 69, và
42% ở lứa tuổi trên 70), tỷ lệ chung là 22%.
Giới
Béo trung tâm thường gặp ở nam nhiều hơn nữ, hội chứng chuyển hóa
cũng gặp ở nam nhiều hơn. Nhiều tác giả cho rằng béo trung tâm là một yếu
tố quan trọng cấu thành hội chứng chuyển hóa. Wilson PW, D'Agostino RB,
Parise H, Sullivan L,Meigs JB, 2005 khi nghiên cứu hội chứng chuyển hóa
8
theo tiêu chuẩn ATP III ở 3323 người có tuổi từ 22 đến 81 không mắc bệnh
tim mạch và đái tháo đường tại thời điểm nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ mắc hội
chứng chuyển hóa là 26.8% đối với nam và 16,6% đối với nữ ở [62].
Dân tộc
Yếu tố chủng tộc cũng là một yếu tố nguy cơ độc lập của HCCH, vì thế
trong mọi khuyến cáo người ta đều khuyên người thầy thuốc thực hành phải
dựa vào các chỉ số nhân trắc và sinh học của dân tộc mình khi chẩn đoán và
đánh giá các bệnh về chuyển hóa.
Thừa cân, béo phì
Thừa cân, béo phì thường gặp ở người mắc hội chứng chuyển hóa. Tuy

2.2.2. Hội chứng chuyển hóa với bệnh tim mạch
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh mối liên quan chặt chẽ giữa tình trạng
kháng insulin – Hội chứng chuyển hóa – Bệnh lý tim mạch. Botnia nghiên
cứu 4.483 người, lứa tuổi 35-70 (sống ở Phần Lan và Thụy Sỹ), được xác
định là có hội chứng chuyển hóa – theo tiêu chuẩn của WHO, các tiêu chí để
chẩn đoán có bệnh tim mạch là có cơn đau thắt ngực, có nhồi máu cơ tim (cũ
hoặc mới), đột quỵ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ người mắc bệnh đái
tháo đường týp 2 thường gắn liền với tỷ lệ cao mắc những bệnh tim mạch.
Nghiên cứu Kuopio Ischmic Heart Disease Risk Factor Study tiến hành
ở 1209 nam giới Phần Lan không mắc bệnh đái tháo đường hoặc bệnh tim
mạch tại thời điểm nghiên cứu với thời gian theo dõi trung bình là 11,6 năm.
Kết quả cho thấy; tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành hoặc bệnh mạch máu khác
ở người có HCCH tăng cao gấp 3-4 lần so với quần thể.
Trong hội chứng chuyển hóa, đặc biệt là ở người đái tháo đường týp 2
10
kèm bệnh lý tim mạch, tình trạng tăng insulin máu và kháng insulin luôn có
vai trò trung tâm trong sinh bệnh học của bệnh lý tim mạch. Nghiên cứu tiến
cứu Pari ở 6903 nam giới lứa tuổi từ 43-53 cho thấy tình trạng tăng insulin
máu lúc đói có tiên lượng rất chặt chẽ tới nguyên nhân tử vong do bệnh mạch
vành. Cũng trong nghiên cứu này, người ta còn thấy tăng insulin máu lúc đói
còn là một yếu tố nguy cơ độc lập với các nguyên nhân tử vong khác.
2.2.3. Hội chứng chuyển hóa và bệnh lý động mạch vành
Đây là biến chứng đã được rất nhiều các nhà Tim mạch và Nội tiết học
quan tâm. Birhan Yilmaz M và cộng sự, khi nghiên cứu 306 bệnh nhân nhồi
máu cơ tim cấp không có ST chênh lên đã đưa ra nhận xét HCCH chiếm tỷ lệ
rất cao (49%), và mức độ lan tỏa tổn thương giữa nhóm có HCCH là lớn hơn
không có HCCH. Tần suất bị bệnh mạch vành ở bệnh nhân có HCCH cao gấp
2 lần bệnh nhân đái tháo đường đơn thuần. Đặc điểm tổn thương động mạch
vành ở bệnh nhân có HCCH là phức tạp, lan tỏa, và tổn thương nhiều nhánh
hơn so với bệnh nhân không có HCCH, tỷ lệ tử vong trong NMCTở bệnh

o Béo bụng ( nam: tỉ lệ vòng eo/vòng hông > 0,9; nữ: tỉ lệ vòng
eo/vòng hông > 0,85) và hoặc BMI > 27 với người Châu Á.
o Microalbumin niệu dương tính: (tỷ lệ bài xuất albumin niệu ≥
20µg/phút hoặc tỉ lệ albumin/creatinin niệu ≥ 30 mg/g).
Theo tiêu chuẩn này sự kháng insulin là cần thiết. Tuy nhiên cũng
tương tự như ATP III, đái tháo đường týp 2 không bị loại trừ khỏi chẩn đoán.
Trong thực hành lâm sàng sự xác định kháng insulin cũng như microalbumin
niệu là khó khăn, khó áp dụng.
12
2.3.2. Tiêu chuẩn của Đái tháo đường quốc tế (IDF)
Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng chuyển hóa theo IDF-2005 khi thỏa
mãn các điều kiện sau:
 Tiêu chí bắt buộc là phải có béo trung tâm (được xác định bằng tăng số
đo vòng eo) số đo này khác nhau theo các chủng tộc.
 Kết hợp với bất kỳ 2 trong 4 tiêu chí sau:
o Tăng triglycerid máu:
 TG ≥ 1,7mmol/l (150mg/dl) hoặc
 Đã điều trị các rối loạn lipid máu bằng thuốc.
o Giảm HDL-cholesterol máu:
 Nam: <1,03mmol/l(150mg/dl) hoặc
 Nữ: <1,29mmol/l(50mg/dl) đối với nữ
 Hoặc đã điều trị các rối loạn lipid máu bằng thuốc.
o Tăng huyết áp:
 Huyết áp tâm thu ≥ 130 hoặc
 Huyết áp tâm trương ≥ 85mmHg
 Hoặc đang điều trị tăng huyết áp.
o Tăng glucose máu lúc đói:
 Glucose máu lúc đói ≥ 5,6mmol/l (100mg/dl) hoặc
 Đã được chẩn đoán ĐTĐ typ2 trước đó.
Nếu BMI >30kg/m2, béo trung tâm có thể được xác định, có thể không

Theo sau sự công bố định nghĩa của WHO về HCCH vào năm 1999,
EGIR đưa ra một phiên bản sửa đổi chỉ áp dụng cho những người không bị
đái tháo đường, tiêu chuẩn của EGIR dễ áp dụng hơn trong nghiên cứu dịch tễ
vì không đòi hỏi kỹ thuật kẹp glucose để đánh giá mức độ nhậy cảm của
insulin. EGIR đã đề nghị sử dụng nồng độ insulin lúc đói để đánh giá kháng
14
insulin và áp dụng suy giảm dung nạp glucose máu lúc đói (IFG) như là một
tiêu chuẩn thay thế cho rối loạn dung nạp glucose máu (IGT). Tiêu chuẩn của
EGIR cũng có sự thay đổi nhỏ về các chỉ số của tăng huyết áp, rối loạn
chuyển hóa lipid cũng như giá trị của vòng eo và đã sử dụng chu vi vòng eo
để đánh giá béo bụng. Hơn nữa, nếu một người đã được điều trị tăng huyết áp
hoặc rối loạn mỡ máu họ được coi như có các bất thường tương ứng.
2.3.4. Tiêu chuẩn của ATP III thuộc chương trình giáo dục về Cholesterol
quốc gia của Hoa Kỳ (NEPT– 2005)
Hội chứng chuyển hóa được xác định khi có bất kỳ 3 trong 5 tiêu chí sau.
 Tăng vòng bụng* :
 Nam: ≥ 102 cm
 Nữ: ≥ 88cm
 Tăng triglycerid khi:
TG ≥ 1,7mmol/l (150mg/dl) hoặc
Điều trị tăng triglycerid
 Giảm HDL-cholesterol khi :
Nam : <1,03mmol/l (40mg/dl)
Nữ : <1,29mmol/l (50mg/dl)
Hoặc điều trị giảm HDL-cholesterol
 Huyết áp cao khi:
Huyết áp tâm thu ≥ 130 mmHg hoặc
Huyết áp tâm trương ≥ 85mmHg
Hoặc điều trị tăng huyết áp.
 Tăng glucose máu lúc đói khi:

 Yếu tố phụ:
o Triglycerides: ≥ 150 mg/dl (1,7mmol/l)
o HDL cholesterol thấp:
16
 Nam: < 1,03mmol/l (40mg/dl)
 Nữ : < 1,29mmol/l (50mg/dl)
o Tăng huyết áp: > 130/85mmHg
o Glucose máu:
Glucose máu lúc đói: 6,1-6,9mmol/l ( 10mg/dl đến 126mg/dl)
Glucose 2 giờ sau nghiệm pháp tăng đường huyết: 7,8-11
mmol/l (140-200mg/dl)
Vào năm 2003, các nhà nội tiết học lâm sàng Mỹ (AACE) [43], đã đưa ra
vấn đề “Hội chứng kháng insulin”. Theo họ, một số yếu tố được xem như là
những dấu hiệu bất thường của hội chứng bao gồm tăng TG, giảm HDL-
cholesterol, tăng huyết áp và tăng đường lúc đói và sau ăn. Ngoài ra, những yếu
tố tăng huyết áp và béo phì cũng được họ chỉ ra. Luận điểm của AACE nhấn
mạnh vai trò của đánh giá lâm sàng trong chẩn đoán hội chứng chuyển hóa.
2.4. Tiền đái tháo đường
Trước đây người ta hay dùng các thuật ngữ như “ Đái tháo đường tiềm
tàng”, “Đái tháo đường sinh hoá”, “Đái tháo đường tiền lâm sàng” để chỉ các
trường hợp rối loạn dung nạp glucose mà chưa có biểu hiện lâm sàng. Những
trường hợp này chỉ được phát hiện khi tiến hành nghiệm pháp tăng gánh
glucose bằng đường uống hoặc đường tĩnh mạch.
Ngày nay người ta đưa ra khái niệm “tiền đái tháo đường” để chỉ các
hình thái rối loạn chuyển hoá carbonhydrat của cơ thể. Trong đó dựa vào cách
tiến hành xét nghiệm thì tiền đái tháo đường có hai hình thái, đó là:
Rối loạn dung nạp glucose (IGT), nếu mức glucose huyết tương ở
thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp tăng glucose máu đường uống từ 7,8mmol/l
(140mg/dl) đến 11,0mmol/l (198mg/dl).
Suy giảm dung nạp glucose máu lúc đói (IFG), nếu lượng glucose

(38,1%) là thường gặp nhất trong HCCH. Cách sống không lành mạnh cũng
làm tăng nguy cơ của hội chứng này.
Nhiều nghiên cứu ở Anh, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Hy Lạp… cũng đều
cho biết tỷ lệ mắc ở nam nhiều hơn nữ. Tuy nhiên, nghiên cứu ở Iran cho kết
quả ngược lại về tỷ lệ mắc theo giới. ở đây, tỷ lệ mắc của nữ lại cao hơn hẳn ở
nam giới.
Ở Việt Nam, nghiên cứu đầu tiên của Nguyễn Quang Bảy mô tả một
trường hợp chẩn đoán hội chứng X chuyển hóa tại khoa Nội tiết - Đái tháo
đường Bệnh viện Bạch Mai năm 1999. Nghiên cứu của Lê Nguyễn Trung
Đức Sơn và cộng sự năm 2000 đã cho thấy tỷ lệ HCCH ở nội thành thành phố
Hồ Chí Minh là 12%, có liên quan đến tuổi, tỷ lệ phần trăm mỡ và nghề
nghiệp. Kết quả nghiên cứu của Trần Văn Huy cho biết tỷ lệ mắc hội chứng
này ở người trưởng thành Khánh Hòa là 15,7% theo tiêu chuẩn NCEP ATP
III, trong đó độ tuổi trên 54 tuổi có tỷ lệ cao nhất là 21,5%, nam gặp nhiều
hơn nữ và yếu tố HDL - C thấp gặp nhiều nhất (37%). Nghiên cứu Hội chứng
chuyển hóa (theo tiêu chuẩn của NCEP-ATP III) ở cán bộ, công chức cơ quan
tỉnh Hà Nam của Trần Thị Phượng và Hoàng Trung Vinh đã cho thấy tỷ lệ
chung HCCH là 28,3%, trong đó 66,33% trường hợp với 3 chỉ tiêu, 26,63%
với 4 chỉ tiêu và 7,04% với 5 chỉ tiêu. Theo nghiên cứu của Viện dinh dưỡng
Việt Nam ở 620 đối tượng tuổi từ 25-64 cho thấy tỷ lệ mắc HCCH là 13,1%,
riêng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là 18% [15]. Một số nghiên cứu
khác cũng xác định tỷ lệ mắc HCCH ở bệnh nhân tăng huyết áp điều trị tại
bệnh viện.
Như vậy, sự gia tăng tỷ lệ bệnh tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa
lipid, bệnh mạch vành, béo phì, đái tháo đường týp 2 đang là những thách
thức lớn đối với kinh tế và xã hội. Nghiên cứu về HCCH ở Việt Nam vẫn còn
ít nhất là nghiên cứu về HCCH ở nhóm người tiền đái tháo đường. Đây là cơ
sở để đề ra các biện pháp can thiệp dự phòng làm giảm không những người
19
mắc hội chứng chuyển hóa mà cả người mắc bệnh đái tháo đường.

[z
1-
α
/2
.√2p
2
.q
2
+ z
1-
α
/2
√(p
1
q
1
+ p
2
.q
2
) ]
2
n =
(p
1
- p
2
)
2
- Cỡ mẫu tính được thấp nhất là 638, tỷ lệ cho phép bỏ cuộc là 15%.

KẾT LUẬN
- Tỷ lệ HCCH theo IDF, NCEP-ATP III, EGIR, AACE.
- Đặc điểm HCCH theo IDF, NCEP-ATP III, EGIR, AACE sau 2 năm.
SƠ ĐỒ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
21
- Tiền sử bệnh tật của bản thân và gia đình, thói quen.
- Tình trạng thể lực: Chiều cao, cân nặng, vòng eo, BMI.
- Nhịp tim, huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương.
- Chế độ dinh dưỡng: tần xuất tiêu thụ thực phẩm, thực phẩm tiêu thụ
trong 24 giờ.
- Hoạt động thể lực: tình trạng hoạt động thể lực.
- Sinh hoá máu: Glucose máu lúc đói, Glucose máu 2 giờ sau khi uống
75 gram đường anhydrite, Insulin huyết tương lúc đói, các chỉ số lipid máu.
3.6. Các tiêu chuấn sử dụng trong nghiên cứu
3.6.1. Các tiêu chuẩn đánh giá Hội chứng chuyển hóa
Tiêu chuẩn của Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (IDF)
Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng chuyển hóa theo IDF-2005 khi thỏa
mãn các điều kiện sau:
 Tiêu chí bắt buộc là phải có béo trung tâm (được xác định bằng tăng số
đo vòng eo*) số đo này khác nhau theo các chủng tộc.
 Kết hợp với bất kỳ 2 trong 4 tiêu chí sau :
o Tăng triglycerid máu :
 TG ≥ 1,7mmol/l (150mg/dl) hoặc
 Đã điều trị các rối loạn lipid máu bằng thuốc.
o Giảm HDL-cholesterol máu:
 Nam: <1,03mmol/l(150mg/dl) hoặc
 Nữ: <1,29mmol/l(50mg/dl) đối với nữ
 hoặc đã điều trị các rối loạn lipid máu bằng thuốc.
o Tăng huyết áp:
 Huyết áp tâm thu ≥ 130 hoặc

23
Hội chứng chuyển hóa được xác định khi có bất kỳ 3 trong 5 tiêu chí sau.
 Tăng vòng bụng* :
 Nam: ≥ 102 cm
 Nữ: ≥ 88cm
 Tăng triglycerid khi:
TG ≥ 1,7mmol/l (150mg/dl) hoặc
Điều trị tăng triglycerid
 Giảm HDL-cholesterol khi:
Nam : <1,03mmol/l (40mg/dl)
Nữ : <1,29mmol/l (50mg/dl)
Hoặc điều trị giảm HDL-cholesterol
 Huyết áp cao khi:
Huyết áp tâm thu ≥ 130 mmHg hoặc
Huyết áp tâm trương ≥ 85mmHg
Hoặc điều trị tăng huyết áp.
 Tăng glucose máu lúc đói khi:
FBG ≥ 5,6 mmol/l (100mg/dl)
Hoặc điều trị tăng glucose máu.
* Đối với người Châu Á, tiêu chuẩn tăng vòng bụng là: ≥ 90cm đối với
nam và ≥ 80 cm đối với nữ.
Tiêu chuẩn của các nhà Nội tiết học Lâm sàng Mỹ (AACE)
Hội chứng chuyển hoá được xác định khi có ít nhất một yếu tố chính và
hai yếu tố phụ.
 Yếu tố chính:
o Thừa cân / béo phì: BMI ≥ 25kg/m2, hoặc vòng eo > 94 cm đối
với nam, > 80 cm đối với nữ hoặc
o Nguy cơ cao của tình trạng kháng insulin: Khi có ít nhất một
trong các biểu hiện sau; được chẩn đoán bệnh mạch vành, tăng huyết
24

Dựa theo tiêu chuẩn của WHO 2000 áp dụng cho người trưởng thành
Châu Á [3], [4].
• Chỉ số BMI được tính theo công thức:
BMI = Cân nặng (kg)/(Chiều cao)
2
(m)
Bảng đánh giá BMI áp dụng cho người Châu Á
Phân loại BMI (kg/m
2
)
Thiếu cân < 18,5
Bình thường 18,5 - 22,9
Thừa cân 23 - 24,9
Béo phì
≥ 25
3.6.4. Đánh giá chỉ số huyết áp theo JNC VII
Bảng phân loại huyết áp theo JNC VII – 2003
Phân loại
HA tâm thu
(mmHg)
HA tâm trương
(mmHg)
Bình thường < 120 Và < 80
Tiền tăng HA 120 - 139 Và/ hoặc 80 - 90
Tăng HA giai đoạn I 140 - 159 Và/ hoặc 90 - 99
Tăng HA giai đoạn II
≥ 160 Và/ hoặc ≥ 100
3.7. Phân tích kết quả
- Tính tỷ lệ HCCH theo các tiêu chuẩn khác nhau, phân tích các yếu tố
liên quan, các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến HCCH.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status