BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
BỆNH VIỆN BẠCH MAI
HOÀNG THỊ HƯƠNG
NGHIÊN CỨU
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG
CỦA UNG THƯ PHỔI Ở NGƯỜI CAO TUỔI ĐIỀU TRỊ
TẠI TRUNG TÂM HÔ HẤP BỆNH VIỆN BẠCH MAI
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP II
HÀ NỘI - 2012
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
BỆNH VIỆN BẠCH MAI
HOÀNG THỊ HƯƠNG
NGHIÊN CỨU
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG CỦA
UNG THƯ PHỔI Ở NGƯỜI CAO TUỔI ĐIỀU TRỊ
TẠI TRUNG TÂM HÔ HẤP BỆNH VIỆN BẠCH MAI
Chuyên ngành : NỘI KHOA
Mã số :
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP II
Người hướng dẫn khoa học:
TS. NGUYỄN HẢI ANH
HÀ NỘI - 2012
3
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tuổi thọ trung bình của loài người đã tăng lên gần ba mươi năm trong
vòng một thế kỷ qua, cùng với tăng tuổi thọ số lượng người cao tuổi (NCT)
đang tăng lên nhanh chóng trong phạm vi toàn cầu. Theo báo cáo của Tổ chức
Y tế thế giới tính đến năm 2000, toàn thế giới có tới 580 triệu người trên 60
của tuổi già trong khi đó triệu chứng lâm sàng thường không điển hình đôi khi
đa dạng và phong phú. Tuổi thọ của con người càng tăng lên chúng ta càng
cần phải quan tâm hơn nữa đến người cao tuổi, đến tâm sinh lý và bệnh tật
của họ trong đó có bệnh UTP, cần phát hiện sớm khi còn khả năng phẫu thuật
và điều trị nhằm kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân. Các nghiên cứu của
Ngô Quý Châu, Hoàng Hồng Thái, Nguyễn Hải Anh, Lê Hoàn cho thấy độ
tuổi thường gặp ung thư phổi trên 50 [1],[2],[4], [11],[16]. Tuy nhiên chưa
có nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu về đặc điểm UTP ở bệnh nhân cao
tuổi vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm
lâm sàng và cận lâm sàng của ung thư phổi ở người cao tuổi điều trị tại
Trung tâm Hô Hấp Bệnh viện Bạch Mai” ( năm 2013) nhằm 2 mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng ung thư phổi ở bệnh nhân cao tuổi
2. Nhận xét một số đặc điểm cận lâm sàng của ung thư phổi ở bệnh
nhân cao tuổi.
5
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. SƠ LƯỢC VỀ UNG THƯ PHỔI
1.1.1. Dịch tễ ung thư phổi
1.1.1.1. Tình hình ung thư phổi trên thế giới
Ung thư phổi (UTP) được mô tả lần đầu tiên năm 1850. Khoảng 150 năm
trước nó là một bệnh hiếm gặp. Năm 1878, UTP chỉ chiếm 1% trong tổng số ca
ung thư được phát hiện qua mổ tử thi tại Viện Giải phẫu bệnh Dresden ở Đức.
Năm 1910, Alton Ochner (Đại học Washington) ghi nhận 1 trường hợp UTP qua
mổ tử thi, 17 năm sau ghi nhận trường hợp thứ 2. Năm 1985, ước tính có khoảng
921.000 trường hợp tử vong do UTP [5].
Những nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận, UTP vẫn là loại ung thư thường
gặp nhất và có tỷ lệ tử vong cao nhất trong các loại ung thư. Năm 2007, ước tính
trên toàn thế giới có khoảng 1,55 triệu ca UTP mới mắc và khoảng 1,35 triệu ca
tử vong[11], [26]. Tại Hoa Kỳ, UTP là loại ung thư có tỷ lệ tử vong cao nhất
đến nay, người ta đã xác định được nhiều nguyên nhân gây UTP, trong đó hút
thuốc lá là một trong những căn nguyên phổ biến nhất [47], [49].
1.1.2.1. Thuốc lá
Thuốc lá chứa hơn 4.000 loại hoá chất, 200 loại có hại cho sức khoẻ,
khoảng hơn 60 chất chứa vòng Hydrocarbon thơm như: 3- 4 Benzopyren, các
dẫn xuất Hydrocarbon đa vòng có khí Nitơ, Aldehyt, Nitrosamin, Ceton có
tính chất gây ung thư [5], [11].
7
Hút thuốc lá được coi là yếu tố nguy cơ chính gây nên UTP, khoảng 90%
trong số 660.000 ca được chẩn đoán UTP trên thế giới có hút thuốc lá. Mức
độ tăng nguy cơ phụ thuộc vào: tuổi bắt đầu hút (hút càng sớm nguy cơ càng
cao), số bao- năm (càng lớn nguy cơ càng cao), thời gian hút càng dài (nguy
cơ mắc bệnh càng lớn), hút thuốc nguy cơ UTP cao gấp 10 lần so với người
không hút thuốc [5]. Theo Kthryn E. (2000), những người hút thuốc lá 01
bao/ngày trong 40 năm có nguy cơ bị UTP cao hơn người hút 02 bao/ngày
trong 20 năm [45]. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, ngay cả những người
không trực tiếp hút thuốc lá nhưng thường xuyên tiếp xúc với người hút thuốc
(hút thuốc lá thụ động) cũng có nguy cơ UTP rất cao [5], [39].
1.1.2.2. Ô nhiễm không khí
Một số chất như amiantte (asbestos), niken, crom, thạch tín, nhựa, khí
đốt dầu mỏ được ghi nhận làm tăng nguy cơ UTP.
Coyle YM & CS (2006), nghiên cứu trên 81.132 trường hợp UTP ở
Texas- Mỹ từ năm 1995- 2000, nhận thấy hít phải không khí có chứa kẽm,
đồng, chrom làm tăng tỷ lệ UTP [35].
1.1.2.3. Bức xạ ion hóa
Bức xạ ion có thể gây ung thư ở tất cả các hệ cơ quan trong đó có UTP.
Nguồn bức xạ chính là từ thiên nhiên, các tia vũ trụ, do con người tạo ra trong
chẩn đoán y học, nghiên cứu hạt nhân [5].
1.1.2.4. Vấn đề di truyền trong sinh bệnh học khối u
Các gen chính liên quan đến phát sinh UTP (myc, ras, p53, Rb, HER-
cảm giác nặng tức ngực, đau giống đau thần kinh liên sườn…
9
- Khó thở: thường tăng dần. Các nguyên nhân gây khó thở ở BN UTP bao gồm:
u gây tắc nghẽn khí quản, phế quản gốc, do tràn dịch màng phổi, tràn dịch
màng ngoài tim hoặc có bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính kèm theo.
- Hội chứng nhiễm trùng phế quản- phổi
Viêm phổi, áp xe phổi có thể xuất hiện sau chỗ hẹp phế quản do u: u
chèn ép khí phế quản gây ứ đọng đờm, làm tăng khả năng nhiễm trùng.
Những BN bị nhiễm trùng phế quản phổi cấp, sau điều trị mà tổn thương
mờ trên phim còn tồn tại kéo dài trên 1 tháng hoặc tổn thương có xu hướng
phát triển, hoặc tái phát ở cùng một vị trí cần quan tâm tới chẩn đoán UTP để
làm các thăm dò chẩn đoán như soi phế quản.
1.1.3.1.2. Triệu chứng toàn thân
Bệnh cảnh rất đa dạng có thể không có triệu chứng gì cho đến khi tình
cờ phát hiện kiểm tra sức khỏe khi khám bệnh do một lý do khác, có thể gặp:
gầy sút cân, sốt dao động, mệt mỏi toàn thân, khó thở làm cho BN có cảm
giác xuống sức.
1.1.3.1.3. Triệu chứng thực thể
Hội chứng đông đặc, hội chứng ba giảm hay hội chứng hang, HC do
xẹp phổi trên lâm sàng có khi chỉ thấy HC tràn dịch màng phổi.
1.1.3.1.4. Triệu chứng ung thư lan rộng tại chô
Hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên:biểu hiện bằng đau đầu, chóng
mặt, ù tai, sau đến tím mặt, có thể tím cả nửa người trên, phù mặt, cổ,
ngực (phù áo khoác), tĩnh mạch cổ nổi…
Triệu chứng chèn ép thực quản
Khó nuốt hoặc nuốt đau do khối u hoặc hạch chèn ép thực quản. Lúc đầu
với các thức ăn rắn, sau với các thức ăn lỏng, rồi cả nước uống.
Triệu chứng chèn ép thần kinh
10
- Chèn ép thần kinh giao cảm cổ: đồng tử co lại, khe mắt nhỏ, mắt lõm sâu làm
1.1.3.1.6. Triệu chứng di căn của ung thư
Di căn là biểu hiện bệnh lý hay gặp và là triệu chứng thường xảy ra vào
giai đoạn muộn của ung thư nói chung và UTP nói riêng. Đây là những dấu
hiệu cho tiên lượng xấu. Di căn có thể xảy ra sớm hay muộn tùy thuộc vào
loại tế bào ung thư. Một số tác giả cho thấy di căn ung thư phong phú và biểu
hiện trên lâm sàng dưới nhiều hình thức:
- Di căn não: BN thường có biểu hiện đau đầu, nôn, liệt khu trú, tri giác
chậm chạp.
- Di căn xương: thường gặp xương dẹt, xương sườn, xương chậu, phát
hiện bằng chụp X quang, chụp nhấp nháy phóng xạ.
- Di căn gan: đau hạ sườn phải, gan to bề mặt lổn nhổn, phát hiện bằng
siêu âm hoặc chụp CLVT ổ bụng.
- Di căn hạch: hạch ngã ba khí quản, hạch cựa khí quản, hạch thượng
đòn, hạch ức đòn chũm. Đối với hạch ngoại vi thường chọc hút hoặc sinh
thiết hạch làm xét nghiệm giải phẫu bệnh [5],[18].
1.1.3.2. Triệu chứng cận lâm sàng
1.1.3.2.1. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh
Các thăm dò chẩn đoán hình ảnh có vai trò đặc biệt quan trọng trong
chẩn đoán và đánh giá giai đoạn UTP. Một số phương pháp chẩn đoán hình
ảnh hiện được sử dụng trong chẩn đoán và xếp giai đoạn UTP bao gồm: siêu
12
âm, chụp XQ, chụp CLVT, chụp cộng hưởng từ (MRI), chụp PET Scan và
chụp PET- CT. Dưới đây, chúng tôi xin trình bày khái quát một vài phương
pháp được ứng dụng trên lâm sàng:
X.Q phổi chuẩn
Phim XQ phổi chuẩn thẳng và nghiêng trái là xét nghiệm quan trọng cho
mọi bệnh nhân UTP.
+ Hình ảnh trực tiếp: đám mờ thường có đường kính trên 3 cm, bờ
không rõ, có múi, hoặc tua gai. Khi hoại tử có thể có hình hang thành dày, bờ
trên gồ ghề, nham nhở.
Tràn dịch màng phổi ở BN UTP có thể là do ung thư di căn màng phổi
hoặc cũng có thể là tràn dịch màng phổi lành tính do viêm phổi sau tắc nghẽn
phế quản. Dấu hiệu điển hình là hình ảnh các nốt mờ dạng tổ chức trên bề mặt
màng phổi hoặc hình ảnh dày màng phổi.
Hình xâm lấn thành ngực
Chụp CLVT cho phép chẩn đoán xâm lấn thành ngực với độ nhạy: 38-
87% và độ đặc hiệu: 40- 90%. Các dấu hiệu gợi ý xâm lấn thành ngực bao gồm:
phá hủy xương sườn,u lớn lan vào thành ngực, dày màng phổi…
Trong các dấu hiệu trên, dấu hiệu có giá trị nhất xác định có xâm lấn
thành ngực là dấu hiệu phá hủy xương sườn. Tuy nhiên, xâm lấn thành ngực
không phải là dấu hiệu chống chỉ định cho phẫu thuật điều trị ung thư
Xâm lấn trung thất
Để xác định tình trạng xâm lấn trung thất của những UTP, cần dựa trên
phim chụp CLVT ngực có tiêm thuốc cản quang. Việc xác định xâm lấn trung
thất có vai trò đặc biệt quan trọng, những u đã có xâm lấn trung thất thường
14
không có chỉ định phẫu thuật. Trong những trường hợp khó xác định nên chụp
cắt lớp ngực với máy chụp đa đầu dò kết hợp kỹ thuật tái tạo ảnh không gian
ba chiều, giúp xác định chính xác hơn tình trạng xâm lấn trung thất, khí quản,
động mạch phổi.
Xẹp phổi xung quanh và viêm phổi sau tắc nghẽn phế quản
Chụp CLVT rất có giá trị trong phân biệt giữa u phổi với vùng phổi xẹp
xung quanh do u gây ra. Sau tiêm thuốc cản quang, vùng phổi xẹp có tỷ trọng
cao hơn do ngấm thuốc cản quang hơn u nguyên phát. Tuy nhiên, rất khó xác
định ranh giới và phân biệt được u với vùng phổi xẹp hoặc viêm trong những
trường hợp u nhỏ, nằm trong lòng phế quản [30], [31].
Di căn hạch do ung thư
Xác định hạch trung thất có vai trò đặc biệt quan trọng trong xác định
giai đoạn bệnh và tiên lượng. Những bệnh nhân có hạch trung thất N
1
(khác thùy), ở giai đoạn này, BN có thể còn
chỉ định phẫu thuật, khi phẫu thuật có thể chỉ định cắt cả thùy phổi hoặc một
bên phổi. Khi có tổn thương ở phổi đối bên với u nguyên phát, bệnh được xếp
giai đoạn M
1
, BN không còn chỉ định phẫu thuật.
Cộng hưởng từ hạt nhân (MRI)
MRI được chỉ định chính trong chẩn đoán hình ảnh các bệnh lý như: u
đỉnh phổi, u và hạch rốn phổi, u trung thất, bệnh lý mạch máu trung thất, di
căn xâm lấn ung thư vào cột sống, tuỷ sống, hệ thần kinh trung ương [32],
[43], [46].
Chụp phế quản cản quang
Thời có kỳ trước khi có chụp CLVT để chẩn đoán ung thư phế quản chụp
phế quản cản quang có lipiodol để phát hiện các tổn thương có chèn ép phế
quản hay không. Một số hình ảnh đặc trưng: phế quản cắt cụt, phế quản bị
chít hẹp một phần, phế quản bị đẩy lệch vị trí bình thường của nó, phế quản bị
chít hẹp phối hợp với phế quản giãn, tổn thương trung thất do sự di căn hoặc
xâm lấn trực tiếp của khối u vào trung thất.
Siêu âm
Siêu âm được chỉ định trong những tổn thương đặc của nhu mô phổi
hoặc màng phổi sát thành ngực vì không khí cản không cho sóng siêu âm đi
qua. Các chỉ định chính của siêu âm trong UTP bao gồm:
- U phổi ngoại vi, sát thành ngực: thực hiện để hướng dẫn cho chọc hút tế bào
hoặc sinh thiết phổi xuyên thành ngực.
16
- Tràn dịch màng phổi: chẩn đoán xác định tràn dịch màng phổi, đánh giá tình
trạng vách hóa khoang màng phổi, hướng dẫn cho chọc tháo hoặc chọc dò
dịch màng phổi.
CPET Scan và PET- CT
PET Scan là kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh dựa trên hoạt tính sinh học của
quả phụ thuộc vào vị trí khối u và các thủ thuật xâm nhập được áp dụng để lấy
bệnh phẩm [17]. Theo Đồng Khắc Hưng (1995), qua sinh thiết phế quản đối
với UTP trung tâm: tỷ lệ dương tính là 77,9%; UTP ngoại vi: tỷ lệ dương tính
58,1%. Cũng theo tác giả này, sinh thiết phế quản có Se 74,2%, Sp 71,4%,
sinh thiết xuyên thành phế quản Se 70,3%, Sp 66,7% [12]. Theo Nguyễn Chi
Lăng (1992), thủ thuật chải rửa phế quản tỷ lệ phát hiện được ung thư là
50,88%, sinh thiết xuyên thành phế quản phát hiện được 58,69% [13].
Tuy nhiên, đây là một phương pháp xâm nhập, tuỳ thuộc vào tình trạng
sức khoẻ và sự hợp tác của bệnh nhân, đôi khi có thể có tai biến nặng như tràn
khí màng phổi, chảy máu trong và sau soi phế quản, suy hô hấp [7].
1.1.3.2.3. Sinh thiết xuyên thành ngực
Sinh thiết phổi xuyên thành ngực (STXTN) dưới sự hướng dẫn của siêu
âm, XQ hoặc CLVT là những phương pháp rất có giá trị để chẩn đoán tế bào
và mô bệnh học cho những BN có nghi ngờ tổn thương ác tính ở phổi.
STXTN có vai trò đặc biệt quan trọng trong chẩn đoán các u ở ngoại vi, khi
mà nội soi phế quản không tiếp cận được. Hiện nay, kỹ thuật STXTN dưới
hướng dẫn của chụp CLVT được coi kỹ thuật có giá trị chẩn đoán cao và an
toàn cho những tổn thương ở phổi và trung thất [9].
18
1.1.3.2.4. Các phương pháp khác
Xét nghiệm tế bào học đờm, dịch màng phổi và sinh thiết màng phổi
(sinh thiết mù hoặc qua nội soi màng phổi) là xét nghiệm để xác định sự di
căn của UTP. Ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về giá trị của sinh
thiết màng phổi, tế bào dịch màng phổi trong chẩn đoán bệnh lý màng phổi
[17]. Theo Bùi Xuân Tám, Tô Kiều Dung (1996), giá trị của sinh thiết màng
phổi trong chẩn đoán bệnh lý màng phổi do ung thư có Se 90%, Sp 100% [15].
Nội soi trung thất là một phương pháp xâm nhập có giá trị để xác định
giai đoạn hạch của UTP. Nội soi trung thất có độ nhậy từ 85%- 93%; độ đặc
hiệu từ 85- 100%. Tuy nhiên, hiện nay người ta không soi trung thất nhất loạt
nữa mà thường thực hiện ngay trước khi phẫu thuật nhằm giảm tỷ lệ mở lồng
5. Ung thư biểu mô tuyến- vảy
6. Ung thư biểu mô với các thành phần đa hình thể, sarcome và dạng
sarcome
- UTBM với các tế bào hình thoi và / hoặc tế bào khổng lồ: UTBM đa
hình thể; UTBM tế bào hình thoi; UTBM tế bào khổng lồ
- UTBM - sarcome
- Ung thư nguyên bào phổi
- Các loại khác
7. U carcinoid
- U carcinoid điển hình
- U carcinoid không điển hình
8. Ung thư biểu mô dạng tuyến nước bọt
- UTBM dạng biểu bì-nhày
- UTBM túi dạng tuyến bạch huyết
- Các nhóm khác
9. Ung thư biểu mô không xếp loại
20
Trên thực hành lâm sàng thường gặp 4 loại trên : UTBMV, UTBMT,
UTBMTBN, UTBMTBKN
1.1.3.4. Chẩn đoán giai đoạn : theo xếp loại giai đoạn UTP 2009 của UICC
và AJCC .
Hệ thống xếp giai đoạn chỉ dựa trên một yếu tố duy nhất đó là phạm vi
giải phẫu của bệnh, những yếu tố khác như triệu chứng lâm sàng, đặc điểm
sinh học phân tử của u không được tính đến, sự gia tăng mức độ T phản ánh u
lớn hoặc sự xâm lấn nhiều hơn ở ngoại vi (màng phổi tạng, thành ngực) hoặc
nhiều hơn ở trung tâm (phế quản gốc hoặc phế quản thùy, trung thất). Trong
UTP, giai đoạn hạch tùy thuộc vào vị trí hạch có di căn (tương phản với số
lượng của hạch). Giai đoạn lâm sàng được biểu thị bởi tiền tố “c”, giai
đoạn tổ chức học được biểu thị bởi tiền tố “p”, ngoài ra, UICC còn định
nghĩa hệ thống phân loại cho sự xuất hiện hoặc vắng mặt phần tồn dư của u
5 năm. Nhưng theo thống kê, chỉ có khoảng 20% số trường hợp sống được >
5 năm qua nhiều nghiên cứu [5].
Chỉ định phẫu thuật khi
- Thể trạng chung của người bệnh còn tốt.
- Chức năng hô hấp FEV1 > 1 lít.
- Tổn thương khu trú: Tất cả những trường hợp ở giai đoạn I, II, giai đoạn IIIa
theo phân loại TNM. Người ta cũng thấy một số ít ở giai đoạn IV có thể mổ
được nếu có di căn chỉ một nơi và có thể cắt khối di căn hay điều trị bằng
phương pháp khác hiệu quả đối với di căn này.
22
Chống chỉ định:
- Giai đoạn IIIB trở lên
- Di căn xa: khi có biểu hiện di căn gan, xương, não, hoặc phổi bên đối diện.
- Tràn dịch màng phổi ác tính: chỉ còn chỉ định nội soi gây dính màng phổi
ngừa tràn dịch màng phổi tái phát.
- Hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên
- Hội chứng Claude – Bernard – Horners
- Liệt dây thanh âm gây nói khàn, liệt dây thần kinh hoành
- Chèn ép, thâm nhiễm thực quản gây khó nuốt, nuốt nghẹn.
- Ung thư phổi tế bào nhỏ.
- Chống chỉ định khác: COPD nặng, rối loạn đông máu, suy tim, thể trạng suy
kiệt.
Phương pháp phẫu thuật: Phẫu thuật là mổ để cắt bỏ khối u. Loại phẫu
thuật mà bác sỹ tiến hành phụ thuộc vào vị trí của khối u trong phổi.
- Mổ để cắt bỏ phân thùy hay cắt hình nêm.
- Có thể phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ một thùy.
- Cắt bỏ phổi là lấy đi toàn bộ một lá phổi: được chỉ định ở trường hợp một số
khối u do kích thước hoặc vị trí của khối u lớn không thể cắt bỏ u .
Phẫu thuật UTP là một đại phẫu thuật. Sau khi phẫu thuật phổi, không
khí và dịch có xu hướng tụ lại trong lồng ngực. Bệnh nhân thường cần phải có
Tính chung thời gian sống thêm 1 năm vào khoảng 35- 40% [5]. Cá biệt có
những trường hợp, mặc dù ở giai đoạn muộn, điều trị hóa trị liệu nhiều đợt
nhưng thời gian sống thêm dài hơn.
Cụ thể về hóa trị liệu trong điều trị UTP thường được chỉ định tốt cho
nhóm ung thư tế bào nhỏ, ít hoặc không đáp ứng với nhóm UTPTB KN.
• Tác dụng phụ của hóa chất: buồn nôn, nôn, giảm hồng cầu, bạch cầu,
tiểu cầu, rụng tóc, tăng men gan, đau mỏi toàn thân.
Xạ trị
Chỉ định: Tương tự đối với hóa chất .
+ Xạ trị khối u (55Gray) , trung thất, hố thượng đòn. Có thể xen kẽ với
hóa trị liệu.
+ Xạ trị dự phòng ở các trường hợp đáp ứng hoàn toàn.
Phương pháp và liều lượng: tùy thuộc vào từng BN và từng loại UT
Tác dụng phụ: phụ thuộc vào bộ phận chiếu và liều chiếu: khô và đau họng;
buồn nôn, nôn, rụng tóc, giảm trí nhớ, vùng da mất nhạy cảm với ánh sang,
phồng rộp, tấy đỏ da [48].
1.1.4.2. Điều trị ung thư tế bào nhỏ
Chỉ định hóa trị liệu:
- Ung thư phổi loại tế bào nhỏ.
- Ung thư thần kinh nội tiết tế bào lớn.
- Ung thư tế bào không nhỏ giai đoạn III- IV
Loại khu trú lồng ngực: xạ trị kết hợp đa hóa trị liệu
Ung thư tế bào nhỏ có thể lan rất nhanh. Trong nhiều trường hợp, tế bào
ung thư có thể đã lan sang các bộ phận khác của cơ thể khi bệnh được chẩn
đoán. Để tiếp cận tế bào ung thư trên toàn bộ cơ thể hầu như các bác sỹ luôn
25
luôn sử dụng hóa trị liệu. Quá trình điều trị còn có thể bao gồm việc áp dụng
tia phóng xạ chiếu vào khối u trong phổi hoặc những khối u ở những bộ phận
khác trong cơ thế (chẳng hạn như ở trong não). Một số bệnh nhân được điều
trị bằng tia phóng xạ ở não ngay cả khi không tìm thấy ung thư ở vùng này.