1
B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
Lấ TH MAI HNG
NGHIÊN CứU ĐặC ĐIểM LÂM SàNG, CậN LÂM
SàNG
BệNH HEN PHế QUảN ở NGƯờI CAO TUổI TạI
TRUNG TÂM Dị ứNG MDLS BệNH VIệN
BạCH MAI
LUN VN THC S Y HC
H NI 2012
.
2
B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
Lấ TH MAI HNG
NGHIÊN CứU ĐặC ĐIểM LÂM SàNG, CậN LÂM
SàNG
BệNH HEN PHế QUảN ở NGƯờI CAO TUổI TạI
TRUNG TÂM Dị ứNG MDLS BệNH VIệN
BạCH MAI
Chuyờn nghnh: D ng Min dch lõm sng
Mó s:
LUN VN THC S Y HC
Ngi hng dn khoa hc:
PGS.TS: Nguyn Vn on
H NI - 2012
LI CM N
.
3
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc đối tới:
.
5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HPQ : Hen phế quảnPEF : (Peak expiratory flow) Lưu lượng đỉnh
COPD : (Chronic obstructive pulmonary disease) Bệnh phổi tắc nghẽn
mạn tính
GINA : (Global Intiative for Asthma) Tổ chức phòng chống hen toàn cầu
WHO : (World health oganzation) Tổ chức y tế Thế giới
VPQM : Viêm phế quản mạn tính
VMDU : Viêm mũi dị ứng
VMVM : Viêm mũi vận mạch
GERD :(Gastro-oesophageal reflux disease) Bệnh trào ngược dạ dày-
thực quản
ACE : Angitensin - Converting - Enzyme
CHS : (Chronic hyperplastic eosinophilic sinusitis)Viêm xoang mạn tính
tăng sản bạch cầu ái toan
SABA : (Short Acting Agonist) Thuốc kích thích beta2 tác dụng nhanh
LABA : (Long Acting Agonist) Thuốc kích thích beta2 tác dụng chậm
ICS : (Inhaled corticosteroid) Corticosteroid dạng hít
PaO
2
: Phân áp oxy máu động mạch
PaCO
2
: Phân áp CO
2
máu động mạch
SaO
2
: Độ bão hoà oxy mao mạch
tuổi (ở nhóm người trẻ tuổi tỷ lệ này đã giảm) [6]. Theo Trung tâm phòng
.
7
chống và kiểm soát dịch bệnh của Hoa Kỳ (CDC), tỷ lệ tử vong do HPQ ở
người cao tuổi chiếm hơn 50% tử vong do HPQ mỗi năm. Như các bệnh mãn
tính khác trong nhóm tuổi này, bệnh HPQ có ảnh hưởng lớn đến ngưòi cao
tuổi và là nguyên nhân quan trọng làm suy giảm tình trạng sức khoẻ và hạn
chế khả năng hoạt động trong ngày [3,8-10].
Mặc dù hầu hết người cao tuổi bị HPQ đã bị bệnh từ lâu, tức là có thể
khởi phát sớm trong cuộc đời. Song một số phát triển bệnh HPQ ở giai đoạn
muộn ( khởi phát bệnh muộn) và có thể xảy ra bất kỳ thời điểm nào, thậm trí
khi đã 80-90 tuổi. Khi điều đó xảy ra, triệu chứng xuất hiện từ trung bình đến
nặng [11]. HPQ là một trong số bệnh hay gặp ở người cao tuổi, tuy nhiên
thường bị bỏ qua chẩn đoán. Thậm trí khi đã được phát hiện, nó thường
không được điều trị [3,12-16] Việc chẩn đoán nhầm HPQ với các bệnh phổi
mạn tính ở người già là khá phổ biến.
Để hiểu rõ hơn về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh HPQ ở
người cao tuổi ( > 60 tuổi) thông qua việc so sánh nhóm bệnh nhân HPQ <
60 tuổi để đưa ra các khuyến cáo ban đầu cho các bác sỹ lâm sàng đứng trước
những trường hợp có các biểu hiện lâm sàng nghi ngờ HPQ ở người già khi
vào cấp cứu hay tại các phòng khám đa khoa. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh HFQ ở
người cao tuổi điều trị tại Trung tâm Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng Bệnh
viện Bạch Mai từ tháng 12/2011 –7/2012 nhằm 2 mục tiêu sau:
1. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng bệnh HPQ ở người cao tuổi.
2. Nghiên cứu đặc điểm cận lâm sàng bệnh HPQ ở người cao tuổi.
.
8
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
Phấn hoa.
Nhiễm khuẩn, nhiễm virus đường hô hấp.
Khói thuốc lá, khói than, mùi bếp dầu, bếp gas.
Cảm xúc mạnh.
- Đáp ứng tốt với thuốc giãn phế quản.
- Test da với dị nguyên dương tính hoặc định lượng kháng thể IgE đặc hiệu
tăng.
- Test kích thích Methachollin (+).
1.1.2.2. Chẩn đoán phân biệt:
- Hội chứng trào ngược dạ dày thực quản.
- Bất thường hoặc tắc nghẽn đường hô hấp: nhũn sụn thanh âm, khí phế
quản, hẹp khí phế quản do chèn ép, xơ, ung thư, dị dạng quai động mạch
chủ, dị vật, dò thực quản, khí quản.
- Thoái hoá nhầy nhớt.
- Hen tim: suy tim trái do tăng huyết áp, hẹp hai lá.
- Viêm phế quản tắc nghẽn mạn tính: tiền sử ho khạc đờm kéo dài, rối loạn
tắc nghẽn cố định.
- Hội chứng tăng thông khí: chóng mặt, miệng khô, thở dài, histeria…
- Đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD)
1.2. Đặc điểm cơ thể và bệnh học ở người cao tuổi:
1.2.1. Người cao tuổi trên thế giới và ở Việt Nam
Theo quy ước chung của Liên hợp quốc, người cao tuổi là người tử 60
tuổi trở lên [13].
.
10
- Trên thế giới: Theo thông báo của WHO, năm 1950 trên toàn thế giới số
người cao tuổi mới chỉ là 214 triệu, đến năm 1975 đã là 346 triệu, vào
năm 2000 có 590 triệu, dự tính tới năm 2025 là 1tỷ 121 triệu. Như vậy,
trong 50 năm (1950 – 2000) tỉ lệ người cao tuổi đã tăng 223%, một hiện
tượng chưa từng có trong lịch sử loài người [13].
con người. Nhưng cũng rất khác nhau giữa người này và người kia về thời
gian cũng như biểu hiện [18].
Tuỳ từng môi trường sống, tuổi già có thể đến sớm hay đến muộn, không
nhất thiết lúc nào cũng phụ thuộc vào tuổi, có người tuy cao tuổi nhưng vẫn
còn khoẻ. Nói chung từ tuổi 60 trở lên quá trình lão hoá khá rõ ràng. Qua
nghiên cứu tuổi già có một số thay đổi khá rõ rệt trong cơ thể như sau:
- Giảm sút trọng của các cơ quan như: cơ, xương, gan, thận…
- Giảm chuyển hoá cơ bản, nếu ăn nhiều chất mỡ sẽ gây béo phì.
- Thoái triển chức năng các bộ phận cùng với các hiện tượng thoái hoá về
thể chất.
- Thể tích xương giảm đi rõ rệt vận động kém.
- Các chỉ số về thông khí hô hấp giảm làm cơ thể thiếu oxy, nhất là khi phải
gắng sức.
- Huyết áp động mạch tăng dần theo tuổi, lưu lượng tim giảm. Có nhiều rối
loạn huyết động do sức cản ngoại biên các mạch máu tăng, tính đàn hồi
các mạch máu giảm, dễ dẫn đến các bệnh về tim.
- Hệ tiết niệu cũng có nhiều thay đổi, khả năng lọc của thận kém, khả
năng bài tiết, khả năng hấp thu của ống thận giảm, gây nhiều rối loạn về
chuyển hoá.
.
12
- Dịch vị trong hệ tiêu hoá giảm, độ toan giảm, gây cản trở cho việc hấp thụ
thức ăn.
- Hệ thần kinh già sớm, một số các nơron ở vỏ não giảm nhanh, chất lượng
và cấu trúc tế bào cũng giảm.
- Số lượng nước trong cơ thể giảm nhanh, đến 70 tuổi số lượng nước trong
cơ thể có thể giảm 30% so với người trẻ.
- Như vậy, với các thay đổi như trên, cơ thể già có đặc điểm cơ bản là:
Trong quá trình hoá già, khả năng thích nghi với mọi biến đổi của môi
trường xung quanh ngày càng bị rối loạn, không phù hợp và không kịp
1.3.1. Khái niệm HPQ ở người cao tuổi
Chưa có một định nghĩa đồng thuận bệnh HPQ ở người cao tuổi. Có ý
kiến cho rằng bệnh hen ở người cao tuổi đại diện cho một kiểu hình khác
biệt, các phân nhóm tồn tại. Những phân nhóm này bao gồm: bệnh hen tồn
tại dai dẳng từ thời thơ ấu, có tiền sử hen ở trẻ nhưng triệu chứng yên lặng
trong suốt tuổi trưởng thành và bệnh hen khởi phát muộn. Hơn nữa, không có
định nghĩa chặt chẽ đối với bệnh hen khởi phát muộn, với một số định nghĩa
nó là sự khởi phát sau tuổi 30 và những người khác là sự khởi phát sau tuổi
65 tuổi.
Một vấn đề thường xuyên trong đánh giá tắc nghẽn đường thở ở người
cao tuổi là sự khác biệt giữa bệnh hen và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính
(COPD). Có hướng dẫn để nhận diện các tính năng phân biệt của bệnh hen
trong đó bao gồm sự hiện diện của các triệu chứng dị ứng khác, test phục hồi
phế quản và sự hiện diện của tăng bạch cầu ái toan. Ngược lại, COPD thường
kết hợp với tiền sử hút thuốc lá. Tuy nhiên, cũng có khả năng một hội chứng
.
14
chồng chéo lên nhau tồn tại trong các tính năng của bệnh hen và COPD và
thường được loại trừ từ các nghiên cứu điều tra.
1.3.2. Dịch tễ học HPQ ở người cao tuổi
Khó khăn để xác định con số chính xác tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc bệnh
hen trong dân số chung bởi vì các nghiên cứu không phân biệt rõ ràng bệnh
hen và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trong số dân này. Những người đàn ông
và phụ nữ phát triển bệnh hen điển hình sau 40 tuổi thường có triệu chứng ho
và khạc đờm trước đó và thường có chức năng phổi không bình thường trước
khi được chẩn đoán là hen [7,18]. Nhiều bệnh nhân cao tuổi đã không thể
phân biệt HPQ từ VPQMT, đặc biệt là ở những người có hút thuốc lá hiện tại
hay trước đây. Trong các cuộc điều tra dân số tìm hiểu về bệnh HPQ và bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), báo cáo chỉ ra rằng người cao tuổi thường
có hơn một bệnh. Ví dụ trong nghiên cứu NHANES III 25% người cao tuổi
biểu mô cũng đã được mô tả. Phát hiện bệnh lý đã được so sánh với đối
tượng trẻ tuổi hơn, những người đã tử vong do cơn hen ác tính. Bệnh nhân
cao tuổi với thời gian bị hen kéo dài thể hiện tăng độ dày của đường dẫn khí.
Điều này hỗ trợ cho cơ sở rằng việc lão hoá và thời gian bị bệnh hen, hậu quả
trong việc tu sửa đường hô hấp gây ra sự tắc nghẽn cố định hoặc không hồi
phục trong nhóm tuổi này.
1.3.3.2. Ảnh hưởng của thần kinh:
Ngoài những thay đổi cấu trúc xảy ra trong lớp niêm mạc và thành của
đường dẫn khí ở những bệnh nhân bị HPQ, có bằng chứng cho thấy sự kiểm
soát thần kinh của đường dẫn khí là bất thường. Cơ chế thần kinh có thể làm
tăng hoặc điều chỉnh các phản ứng viêm ở những bệnh nhân này [1]. Hệ
thống thần kinh tự động điều hoà nhiều khía cạnh của chức năng đường dẫn
khí chẳng hạn như: đặc điểm chung của đường hô hấp, sự bài tiết của đường
hô hấp, lưu lượng máu, tính thấm của các mao mạch và sự phóng thích của
các tế bào viêm. Có sự hoạt động bất thường của một cơ quan trong cơ thể
.
16
gây ra bởi viêm là do các chất trung gian gây viêm có thể điều chỉnh sự
phóng thích của các chất dẫn truyền thần kinh từ các dây thần kinh của
đường dẫn khí.
1.3.3.3.Tăng phản ứng phế quản.
Viêm đường hô hấp được cho là yếu tố quan trọng trong việc gia tăng tính
phản ứng phế quản; một đặc trưng chủ yếu của HPQ [1], nó được mô tả như
là sự đáp ứng quá mức của phế quản với các kích thích như là dị nguyên,
histamine, methacholine, khí lạnh, và chất kích thích môi trường. Không rõ
ràng liệu tính tăng phản ứng phế quản có bị ảnh hưởng hoặc quyết định bởi di
truyền học cùng với sự xuất hiện các tác nhân kích thích thích hợp. Nhìn
chung người ta cho rằng viêm đường hô hấp là do một số yếu tố kích thích
bao gồm; nhiễm virus đường hô hấp, phản ứng dị ứng, tiếp xúc với các tác
nhân độc hại (hoá học) như ozone và sulfur dioxide. Mức độ tăng phản ứng
đoán [37,38]. Tăng phản ứng phế quản rõ rệt và dị ứng được cho là hai tác
nhân nguy cơ quan trọng cho sự tắc nghẽn đường dẫn khí. Thời gian và mức
độ nghiêm trọng của bệnh trước đó cũng là tác nhân quan trọng [40,41] mặc
dù nhiều bệnh nhân HPQ lớn tuổi có tắc nghẽn phế quản nặng có tiền sử các
triệu chứng trong một thời gian ngắn từ vài tháng đến vài năm. Trong một
nghiên cứu ngẫu nhiên từ Mayo Clinic với 1200 bệnh nhân trên 60 tuổi bị
HPQ, chỉ 1 trong 5 bệnh nhân có chức năng phổi bình thường (FEV
1
> 80%
dự báo) trong khi một số lượng tương tự cho thấy có sự tắc nghẽn phế quản
từ trung bình cho đến nghiêm trọng ( FEV
1
<50% dự báo) thậm trí sau khi đã
hít thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn [42]. Nguyên nhân gây ra tắc nghẽn
mạn tính dai dẳng đường dẫn khí trong bệnh HPQ là sự thay đổi cấu trúc của
giãn phế nang là tối thiểu và sự tu sửa đường dẫn khí được cho là nguyên
nhân chính.
Sự hiện diện của tắc nghẽn đường dẫn khí thường được xác nhận bởi sự
chứng minh có giảm FEV
1
và tỷ lệ FEV
1
/FVC. Thông thường, tỷ lệ Geansler
.
18
giảm < 70% là tăng khả năng bị HPQ ở người cao tuổi với các triệu chứng
của bệnh hen mặc dù việc sử dụng các giới hạn thấp hơn thống kê bắt nguồn
từ giá trị bình thường có thể xác định chính xác hơn tắc nghẽn ở người cao
tuổi [43]. Một phản ứng nhanh với SABA có thể chứng minh đặc trưng thứ
hai của HPQ: Tắc nghẽn có hồi phục. Khi tắc nghẽn phế quản được phát hiện
trơn [7,8].
Bệnh HPQ khởi phát muộn thường không liên quan tới dị ứng trong tự
nhiên, và được gọi là bệnh HPQ "nội sinh" [9]. Nó được công nhận là một
kiểu hình nặng hơn của bệnh HPQ, với mức độ tắc nghẽn lớn hơn, đợt kịch
phát xảy ra thường xuyên hơn và tỷ lệ lớn hơn của sự suy giảm chức năng
phổi. Mặc dù thiếu các dị nguyên gây viêm, các tế bào và các chất trung gian
liên quan đến bệnh HPQ nội sinh là tương tự, với sự tham gia của tế bào T và
nổi bật là bạch cầu ái toan [10,11].
Một kích hoạt quan trọng của đợt kịch phát bệnh HPQ là nhiễm virus
đường hô hấp trên. Ước tính cho thấy có đến 80% các đợt kịch phát hen ở
người lớn gây ra bởi nhiễm trùng hô hấp trên do virus [12]. Từ việc chức
năng miễn dịch là quan trọng cho việc giải quyết các bệnh nhiễm trùng
đường hô hấp, câu hỏi đặt ra là có mối liên quan đến tác động của quá trình
lão hóa miễn dịch với các tính năng lâm sàng của bệnh HPQ ở người cao
tuổi. Ví dụ đợt cấp thường xuyên xảy ra hoặc nghiêm trọng ở người cao tuổi
bởi vì tăng tính nhạy cảm hoặc tồn tại dai dẳng của bệnh nhiễm virus đường
hô hấp?
1.3.4.2. Tính nhạy cảm dị ứng và mức độ IgE ở người cao tuổi.
Người ta cho rằng mỗi cá nhân phát triển tính dị ứng của họ như là triệu
chứng điển hình của bệnh viêm mũi dị ứng và viêm mắt khi tiếp xúc với chất
gây dị ứng giảm theo tuổi. Hơn nữa, chất dị ứng gây kích hoạt các triệu
chứng của bệnh HPQ cũng thường giảm cùng với quá trình lão hóa. Dịch tễ
.
20
học và lịch sử tự nhiên của HPQ: Kết quả nghiên cứu TENOR đã kiểm tra
tiền sử tự nhiên của bệnh trong một nhóm bệnh nhân lớn tuổi (> 65 tuổi) và
thấy rằng, khi so sánh với đối tượng trẻ hơn, bệnh nhân HPQ cao tuổi có
nồng độ IgE toàn phần thấp hơn, tỷ lệ dương tính với test lẩy da thấp hơn và
đồng thời ít mắc các bệnh viêm da dị ứng, viêm mũi dị ứng [13]. Một số
nghiên cứu đã chứng minh sự liên quan đến tuổi trong việc giảm nồng độ IgE
giảm bớt và giảm tế bào Th hoạt động [29]. Những quan sát khác của quần
thể tế bào T với quá trình lão hóa làm giảm phản ứng tăng sinh [30], giảm
nồng độ tế bào CD8
+
[31], kích thích sự thay đổi của cytokine Th1 sang
cytokine Th2 với acid phorbol myristic [32]. Sự suy giảm của tế bào T trung
gian do quá trình chết theo chương trình [33] và gia tăng thụ thể chết trên tế
bào T [34]. Ngoài ra, một tỷ lệ gia tăng của tế bào T điều hòa FOXP3
+
CD4
+
với khả năng ức chế còn nguyên vẹn đã được tìm thấy trong các đối tượng
người cao tuổi, điều đó có thể giúp giải thích sự suy giảm chức năng của tế
bào T hoạt động đã được mô tả ở trên [35].
Giảm sản xuất tế bào B trong quá trình lão hóa đã được quan sát thấy ở
chuột và có thể đúng đối với con người [36,37]. Điều này hỗ trợ quan điểm
cho rằng sự phân bố của tập hợp tế bào B hiện nay ở người cao tuổi khác
nhau so với những cá nhân trẻ hơn. Cụ thể hơn, có một sự chuyển tiếp từ sự
hiện diện của các tế bào B non sang các tế bào B đã tiếp xúc với kháng
nguyên [38]. Ở chuột, sự xuất hiện chức năng sản xuất kháng thể vẫn còn
nguyên vẹn với quá trình lão hóa [39]; Tuy nhiên, chất lượng của các kháng
thể sản xuất thấp hơn. Có thể nói, các kháng thể biểu lộ ái lực thấp hơn với
kháng nguyên [40]. Quan sát này có lẽ là một kết quả của thiếu đột biến
soma, đó là trách nhiệm tăng cường kháng thể đặc hiệu cho kháng nguyên
[41]. Một số chức năng bạch cầu trung tính không thay đổi trong quá trình
lão hóa; bao gồm sự di cư, bám dính vào các mô viêm và thực bào. Tuy
nhiên, khả năng của bạch cầu trung tính giết, thực bào các sinh vật giảm bớt
.
22
ở người cao tuổi so với người trẻ [42], có thể là do giảm sản xuất phản ứng
các bệnh nhiễm trùng liên quan tới miễn dịch lão hóa góp phần vào sinh
bệnh và / hoặc mức độ nghiêm trọng của bệnh HPQ ở người cao tuổi đã
được xác định.
Có những gợi ý rằng các bệnh nhân cao tuổi với các tính năng ít bị miễn
dịch lão hóa và đáp ứng miễn dịch khá tốt sẽ kéo dài sự sống [54]. Ngược
lại, giảm tỷ lệ sống được liên kết với các tính năng của miễn dịch lão hóa,
bao gồm suy giảm sự kích thích nhân lên của tế bào T, tăng số lượng tế bào
CD8
+
, các tế bào gây độc, tế bào ức chế, số lượng thấp tế bào lympho T CD4
+
và tế bào lympho B CD19
+
[55].
Thành phần khác của miễn dịch lão hóa là sự hiện diện của viêm hệ thống
mãn tính, thường được gọi là "viêm lão hóa", được đặc trưng bởi tăng IL-6
và TNF- trong huyết thanh [56]. Viêm lão hóa thường liên quan đến cá
thể "yếu đuối" và là nguyên nhân chính xác của sự tăng IL-6 và TNF-α chưa
được biết. Tuy nhiên, nồng độ của các cytokine chắc chắn có thể đóng góp
vào các cơ quan cụ thể hoặc quá trình viêm hệ thống, bao gồm cả bệnh HPQ.
Sự hiện diện của miễn dịch lão hóa đặt ra câu hỏi về tác động của nó với
các bệnh viêm nhiễm như bệnh HPQ. Xem xét vai trò của các tế bào miễn
dịch trong bệnh HPQ, có một số cơ chế miễn dịch lão hóa có thể ảnh hưởng
đến bệnh HPQ: Đầu tiên, viêm đường dẫn khí cơ bản có thể bị thay đổi; Thứ
hai, viêm đường dẫn khí phản ứng với các chất gây dị ứng có thể được thay
đổi; Thứ ba, phản ứng viêm đường hô hấp với một tác nhân gây bệnh đường
hô hấp có thể được thay đổi. Trên thực tế, có thể nói miễn dịch lão hóa ảnh
hưởng đến tất cả các khía cạnh của chức năng miễn dịch trong bệnh HPQ. Do
đó, hậu quả lâm sàng của những hiệu ứng này là một cân nhắc quan trọng cho
việc quản lý bệnh HPQ ở người cao tuổi.
trong nhóm này đều âm tính và nồng độ IgE cao xấp xỉ khoảng 20% trong
số bệnh nhân.
Những nghiên cứu khác đã chỉ ra mối quan hệ giữa dị ứng và HPQ ở
người già. Một nghiên cứu đã quản lý bệnh nhân > 60 tuổi với mức độ hen
vừa và nặng. Họ được tuyển chọn từ các phòng khám y tế, lão khoa và khoa
dị ứng của một Trung tâm chăm sóc sức khỏe. Kết quả test da dị ứng dương
tính với ít nhất một dị nguyên là 75% bệnh nhân. Tỷ lệ phản ứng phổ biến
nhất là các chất gây dị ứng trong nhà như là lông mèo và chó, gián, bụi nhà.
Cỏ Bermuda là nguyên nhân thứ hai gây kết quả test da dương tính. Kiểm tra
tại nhà được tiến hành với các mẫu dị nguyên trong nhà. Mặc dù hầu hết các
nhà có nồng độ cao các chất gây dị ứng trong nhà nhưng không có mối tương
quan giữa chất gây dị ứng trên với mức độ quan trọng và mức độ nghiêm
trọng của HPQ được đo bằng cách kiểm tra chức năng phổi. Không có bằng
chứng về việc tiếp xúc với các chất dị nguyên gây ra triệu chứng xấu đi của
bệnh HPQ. Một nghiên cứu khác đã được báo cáo với các dữ liệu thu thập
được từ nghiên cứu sức khỏe Tim Mạch, một nghiên cứu lâm sàng được tiến
hành bằng cách lấy ngẫu nhiên người cao tuổi từ 4 bang của Mỹ. Nghiên cứu
này chỉ ra rằng họ đã có vấn đề hô hấp bắt đầu từ nhỏ. Mặc dù test da và
nồng độ IgE không có giá trị trong những bệnh nhân nghiên cứu, báo cáo
chỉ ra có xấp xỉ một nửa mà sự khò khè gây ra bởi tiếp xúc với thực vật,
động vật, hoặc phấn hoa và theo mùa. Trong một nghiên cứu HPQ người
cao tuổi ở nông thôn, kháng thể IgE đặc hiệu với gián đã được chứng minh
là có liên quan với mức độ nặng hơn của bệnh hen và làm tăng tắc nghẽn
phế quản [56].
Tiền sử dị ứng là một dự báo mạnh nhất ở HPQ người già. Có mổi ảnh
hưởng qua lại phức tạp giữa các chất gây dị ứng và HPQ; một vài dị nguyên
gây ra nhạy cảm, một vài làm tăng phản ứng dị ứng, và một vài gây ra hen
.