1
ĐẶẤN ĐỀ
Hen phế quản là bệnh viêm mạn tính đường hô hấp có sự tham gia của các
tế bào viêm, các chất trung gian hoá học và các cytokine dẫn đến tình trạng
tăng tính phản ứng phế quản và tắc nghẽn đường dẫn khí. Theo GINA 2009,
trên Thế giới hiện có khoảng 300 triệu người thuộc mọi lứa tuổi và mọi dân
tộc mắc hen phế quản (5% - 6%) dân số Thế giới [25]. Dự kiến đến năm
2025 số người bị HPQ có thể lên đến 400 triệu người, trong đó 6%-8% người
lớn, 10% -12% trẻ em < 15 tuổi [1], [2], 16% - 18% ở ngưòi cao tuổi [20].
Tại Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Thị Tuyết Lan thì tỉ lệ
bệnh nhân hen > 60 tuổi chiếm tỉ lệ 17,6% [4]. Như vậy, HPQ có thể gặp ở
mọi lứa tuổi. Bệnh hen diễn biến phức tạp ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ và có
thể dẫn tới tử vong. Tỉ lệ tử vong do HPQ ngày một tăng gây tổn thất lớn về
kinh tế và xã hội, chỉ đứng sau tử vong do ung thư, vượt lên trên tử vong do
các bệnh tim mạch, trung bình 40 – 60 người/1triệu dân [1], [4]. Ở Việt Nam,
theo nghiên cứu của các tác giả Trần Thúy Hạnh, Nguyễn Văn Đoàn tình
hình tử vong trung bình 3000 trường hợp mỗi năm.
Mặc dù việc chẩn đoán và điều trị HPQ thường gặp ở nhóm người trẻ tuổi
song ước tính ở Mỹ có hơn 1 triệu người trên 65 tuổi được chẩn đoán HPQ.
Trong một nghiên cứu về người cao tuổi ở 4 bang của Mỹ có 4% được chẩn
đoán là HPQ, 4% có vấn đề về hen (triệu chứng HPQ mà không được chẩn
đoán) [3]. Các ước tính khác cho thấy tỉ lệ bị bệnh HPQ ở người già từ 4%
đến 9% [3-5].
Hen phế quản ở người cao tuổi có liên quan tới một số lượng đáng kể phải
nhập viện và cấp cứu dẫn đến một lượng đáng kể các chi phí chăm sóc sức
khỏe. Tỷ lệ tử vong do bệnh HPQ ở người cao tuổi cao hơn nhóm người trẻ
tuổi (ở nhóm người trẻ tuổi tỷ lệ này đã giảm) [6]. Theo Trung tâm phòng
.
2
chống và kiểm soát dịch bệnh của Hoa Kỳ (CDC), tỷ lệ tử vong do HPQ ở
người cao tuổi chiếm hơn 50% tử vong do HPQ mỗi năm. Như các bệnh mãn
và ho đặc biệt về ban đêm và sáng sớm tái đi tái lại. Các giai đoạn này
thường kết hợp với giới hạn luồng khí lan toả, nhưng hay thay đổi theo thời
gian, và có khả năng phục hồi tự nhiên hay sau điều trị.
1.1.2.Chẩn đoán HPQ:
1.1.2.1. Chẩn đoán xác định:
Theo hướng dẫn của GINA 2009 có thể nghĩ đến hen khi có một trong
những dấu hiệu hoặc triệu chứng sau đây [7]:
- Tiếng thở khò khè, nghe phổi có ran rít khi thở ra.
- Tiền sử có một trong các triệu chứng sau:
Ho thường tăng về đêm
Khò khè tái phát
Nặng ngực
- Các triệu chứng nặng lên về đêm làm người bệnh thức giấc.
- Các triệu chứng thường nặng lên theo mùa.
- Trong tiền sử có mắc các bệnh chàm, sốt mùa, hoặc trong gia đình có
người bị hen và các bệnh dị ứng khác.
- Các triệu chứng xuất hiện nặng lên khi có các yếu tố sau phối hợp.
Tiếp xúc với lông vũ.
Các hoá chất bay hơi.
.
4
Thay đổi nhiệt độ.
Mạt bụi nhà.
Thuốc (aspirin và các thuốc chống viêm non-steroid, thuốc chẹn β).
Gắng sức.
Phấn hoa.
Nhiễm khuẩn, nhiễm virus đường hô hấp.
Khói thuốc lá, khói than, mùi bếp dầu, bếp gas.
Cảm xúc mạnh.
- Đáp ứng tốt với thuốc giãn phế quản.
hơn ở nông thôn), các nhóm tuổi cao (nhóm rất già tăng nhiều hơn cả)
[28]. Mười nước đứng đầu về tăng trưởng số người cao tuổi là các nước
đang phát triển trong đó có một số nước chưa có chuyên khoa y học về lão
khoa: Goatêmala có tỷ lệ tăng trưởng là (357%), Singapo (348%), Mexicô
(324%), Philipin (310%), Brazin (292%), Ấn độ (264%), Trung Quốc
(263%), Băngladet (210%).
- Trong nước: Tuổi thọ trung bình đã tăng nhiều trong năm qua. Ở miền
Bắc Việt Nam tuổi thọ trung bình năm 1939 là 18,6 tuổi, đã tăng lên 34
tuổi năm 1960, 49 tuổi năm 1969, tăng lên 57 tuổi ở nam và 59 tuổi ở nữ
những năm 70-75; 62 tuổi ở nam và 65 tuổi ở nữ năm 1991 [17]. Hiện
nay, tuổi thọ trung bình là 71,3 tuổi. Tuổi thọ trung bình tăng làm cho số
lượng người già tăng nhanh trong những năm qua, trong đó nữ tăng nhiều
hơn nam. Nếu tính những người > 60 tuổi thì năm 1960 ở miền Bắc có
814.591 người (chiếm 5% so với dân số) và năm 1974 có 1.645.659 người
(chiếm 6,9%). Hiện nay, theo ước tính số người cao tuổi trên cả nước là 8-
9% dân số [13].
.
6
Trước sự tăng nhanh số lượng người cao tuổi như vậy việc cần quan tâm
chăn sóc đến người già nhiều hơn là đòi hỏi bức thiết.
1.2.2. Sinh lý học tuổi già:
Cho đến nay Thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về sinh học tuổi
già, chủ yếu để giải thích hiện tượng già là gì?
Già là một hiện tượng sinh lý, trong đó có quá trình biến hoá, trưởng
thành và thoái hoá của tế bào, là hiện tượng không thể tránh khỏi được với
con người. Nhưng cũng rất khác nhau giữa người này và người kia về thời
gian cũng như biểu hiện [18].
Tuỳ từng môi trường sống, tuổi già có thể đến sớm hay đến muộn, không
nhất thiết lúc nào cũng phụ thuộc vào tuổi, có người tuy cao tuổi nhưng vẫn
còn khoẻ. Nói chung từ tuổi 60 trở lên quá trình lão hoá khá rõ ràng. Qua
một khi đã sinh ra như tế bào của hệ thần kinh trung ương [17], [18].
1.2.3. Bệnh học tuổi già:
Người già cũng mắc các bệnh như lứa tuổi khác nhưng do biến đổi của cơ
thể đã già, các bệnh cũng có những đặc điểm riêng. Hơn nữa, có một số bệnh
lại gặp chủ yếu ở người già, các lứa tuổi khác ít gặp hoặc không gặp.
Qua điều tra trên 13.392 cụ già từ 60 tuổi trở lên trong đó có 43,09% là
nam và 56,91% là nữ, thấy các bệnh thuộc hệ hô hấp chiếm 19,63%, hệ tiêu
hoá chiếm 18,25%, hệ tim mạch chiếm 13,25%, hệ thận - tiết niệu chiếm
1,64%, hệ máu và cơ quan tạo máu chiếm 2,29%, hệ cơ- xương- khớp chiếm
40,79%, bướu giáp địa phương chiếm 4,15% [17].
Nhận xét chung là ở ngưòi già hay mắc đồng thời nhiều bệnh. Không kể
các bệnh của chuyên khoa khác rất nhiều, chỉ tính riêng các bệnh nội khoa thì
.
8
13.392 cụ già từ 60 tuổi trở lên đã mắc 15.170 bệnh (113,27%), nghĩa là
trung bình một cụ già mắc hơn một bệnh nội khoa quan trọng [17].
Xem xét tỷ lệ mắc bệnh theo lứa tuổi thấy nhiều bệnh tăng tỷ lệ thuận theo
lứa tuổi như bệnh hô hấp nói chung, bệnh viêm phế quản mạn, chứng táo
bón, tâm phế mạn, cao huyết áp, chứng đau khớp, nhức xương, đau lưng,
giảm thị lực, thiên đầu thống, đục thuỷ tinh thể, rối loạn thần kinh tuổi già,
lao phổi…
Do đặc điểm của cơ thể già là chức năng các cơ quan đã suy yếu, lại hay
mắc cùng một lúc nhiều thứ bệnh nên các triệu chứng của bệnh ở người cao
tuổi nhiều khi không rõ ràng, không điển hình gây khó khăn cho chẩn đoán.
1.3. Đặc điểệếảở ngườổ
1.3.1. Khái niệm HPQ ở người cao tuổi
Chưa có một định nghĩa đồng thuận bệnh HPQ ở người cao tuổi. Có ý
kiến cho rằng bệnh hen ở người cao tuổi đại diện cho một kiểu hình khác
biệt, các phân nhóm tồn tại. Những phân nhóm này bao gồm: bệnh hen tồn
tại dai dẳng từ thời thơ ấu, có tiền sử hen ở trẻ nhưng triệu chứng yên lặng
đường dẫn khí ở những bệnh nhân bị HPQ, có bằng chứng cho thấy sự kiểm
soát thần kinh của đường dẫn khí là bất thường. Cơ chế thần kinh có thể làm
tăng hoặc điều chỉnh các phản ứng viêm ở những bệnh nhân này [1]. Hệ
thống thần kinh tự động điều hoà nhiều khía cạnh của chức năng đường dẫn
khí chẳng hạn như: đặc điểm chung của đường hô hấp, sự bài tiết của đường
hô hấp, lưu lượng máu, tính thấm của các mao mạch và sự phóng thích của
các tế bào viêm. Có sự hoạt động bất thường của một cơ quan trong cơ thể
gây ra bởi viêm là do các chất trung gian gây viêm có thể điều chỉnh sự
phóng thích của các chất dẫn truyền thần kinh từ các dây thần kinh của
đường dẫn khí.
1.3.2.3.Tăng phản ứng phế quản.
.
10
Viêm đường hô hấp được cho là yếu tố quan trọng trong việc gia tăng tính
phản ứng phế quản; một đặc trưng chủ yếu của HPQ [1], nó được mô tả như
là sự đáp ứng quá mức của phế quản với các kích thích như là dị nguyên,
histamine, methacholine, khí lạnh, và chất kích thích môi trường. Không rõ
ràng liệu tính tăng phản ứng phế quản có bị ảnh hưởng hoặc quyết định bởi di
truyền học cùng với sự xuất hiện các tác nhân kích thích thích hợp. Nhìn
chung người ta cho rằng viêm đường hô hấp là do một số yếu tố kích thích
bao gồm; nhiễm virus đường hô hấp, phản ứng dị ứng, tiếp xúc với các tác
nhân độc hại (hoá học) như ozone và sulfur dioxide. Mức độ tăng phản ứng
phế quản có thể được xác định trong phòng đo chức năng thông khí phổi
bởi test kích thích phế quản. Test kích thích bằng methacholin thường
được sử dụng nhất trên lâm sàng để quyết định sự có và mức độ tăng phản
ứng phế quản.
Test kích thích phế quản là an toàn và là phương pháp hữu hiệu để chẩn
đoán HPQ ở người cao tuổi [24,25].
Một số chức năng của hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm đã giảm đi
cùng với tuổi [26,27]. Việc giảm chức năng thần kinh tự động phù hợp với
> 80%
dự báo) trong khi một số lượng tương tự cho thấy có sự tắc nghẽn phế quản
từ trung bình cho đến nghiêm trọng ( FEV
1
<50% dự báo) thậm trí sau khi đã
hít thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn [42]. Nguyên nhân gây ra tắc nghẽn
mạn tính dai dẳng đường dẫn khí trong bệnh HPQ là sự thay đổi cấu trúc của
giãn phế nang là tối thiểu và sự tu sửa đường dẫn khí được cho là nguyên
nhân chính.
Sự hiện diện của tắc nghẽn đường dẫn khí thường được xác nhận bởi sự
chứng minh có giảm FEV
1
và tỷ lệ FEV
1
/FVC. Thông thường, tỷ lệ Geansler
giảm < 70% là tăng khả năng bị HPQ ở người cao tuổi với các triệu chứng
của bệnh hen mặc dù việc sử dụng các giới hạn thấp hơn thống kê bắt nguồn
từ giá trị bình thường có thể xác định chính xác hơn tắc nghẽn ở người cao
tuổi [43]. Một phản ứng nhanh với SABA có thể chứng minh đặc trưng thứ
.
12
hai của HPQ: Tắc nghẽn có hồi phục. Khi tắc nghẽn phế quản được phát hiện
ở bệnh nhân cao tuổi, cố gắng chứng minh sự hồi phục sau khi hít thuốc giãn
phế quản tác dụng nhanh như albuterol. Tuổi không phải là một yếu tố dự
báo quan trọng của tăng phản ứng phế quản trong HPQ. Mặc dù phản ứng với
thuốc hít giãn phế quản nhìn chung gặp nhiều hơn trong bệnh HPQ, bệnh
nhân COPD có thể không đáp ứng với thuốc giãn phế quản, tuy nhiên hơn
50% bệnh nhân thay đổi tình trạng đáp ứng giữa các lần thăm khám làm
cho các lần kiểm tra ít đáng tin cậy để khẳng định HPQ đặc biệt là ở người
cao tuổi.
chết do hen ở xứ Wales là những ngưòi trên 70 tuổi. Trong một nghiên cứu
của Mỹ về tỷ lệ tử vong do hen xảy ra tại bệnh viện và nhà dưỡng lão cho
thấy 80% bệnh nhân chết ở độ tuổi 55 và già hơn. 75% số bệnh nhân này có
hút thuốc lá chủ động hoặc thụ động. Những bệnh nhân >55 tuổi thường có
tiềm ẩn VPQMT hoặc COPD, họ nhập viện vì vấn đề hô hấp và chết vì suy
hô hấp mạn tính. Thường có sự chậm trễ trong việc tìm kiếm chăm sóc y tế
được cho là nhân tố chính gây nên cái chết của họ. Tỷ lệ tử vong do HPQ ở
người cao tuổi tiếp tục tăng đặc biệt là ở phụ nữ.
1.3.4. Thay đổi chức năng miễn dịch trong HPQ ở người cao tuổi
1.3.4.1. Hiện tượng viêm trong bệnh HPQ
Thông thường, viêm trong bệnh HPQ bắt nguồn từ thời thơ ấu là tình
trạng dị ứng, bao gồm chủ yếu là sự có mặt của tế bào lympho T hỗ trợ (Th)
2
và các chất trung gian (IL -4, -5 và -13). Các nghiên cứu mẫu đờm, dịch phế
quản và sinh thiết phế quản cho thấy thành phần viêm cơ bản là các tế bào T
và bạch cầu ái toan cộng thêm sự xâm nhập của các tế bào viêm; bao gồm sự
xâm nhập của bạch cầu ái toan, bạch cầu trung tính và tế bào lympho vào
đường thở làm trầm trọng thêm bệnh HPQ [6]. Ngoài các tế bào này, sự biểu
.
14
hiện của một số chất trung gian gây viêm, bao gồm các cytokine, chemokine
và lipid (prostaglandin và leukotrien) tăng đáng kể trong đường dẫn khí.
Nhiều chất trung gian, chẳng hạn như IL-13 và leukotriene LTC4 có thể trực
tiếp gây ra các dấu hiệu sinh lý bệnh đặc trưng của bệnh HPQ bao gồm tăng
đáp ứng phế quản, tăng sản tế bào, bài tiết chất nhờn và phì đại các tế bào cơ
trơn [7,8].
Bệnh HPQ khởi phát muộn thường không liên quan tới dị ứng trong tự
nhiên, và được gọi là bệnh HPQ "nội sinh" [9]. Nó được công nhận là một
kiểu hình nặng hơn của bệnh HPQ, với mức độ tắc nghẽn lớn hơn, đợt kịch
phát xảy ra thường xuyên hơn và tỷ lệ lớn hơn của sự suy giảm chức năng
hơn bệnh tật của họ [21,22]. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa IgE toàn phần và
bệnh dị ứng vẫn còn ở người cao tuổi, do vậy các đối tượng này với việc tăng
nồng độ IgE vẫn còn nhiều khả năng bị viêm mũi dị ứng hoặc HPQ [23,24].
Xem xét những thay đổi viêm dị ứng với quá trình lão hóa, người ta có thể
kết luận rằng bệnh HPQ ở người cao tuổi sẽ nhẹ hơn hoặc trở nên không tồn
tại. Tuy nhiên, có rất nhiều các tác nhân phổ biến khác gây nên các đợt kịch
phát của bệnh HPQ bao gồm: các chất kích thích (ví dụ, không khí lạnh) và
nhiễm trùng hô hấp.
1.3.4.3. Quá trình miễn dịch lão hóa
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng chức năng miễn dịch giảm cùng với sự
lão hóa, một hiện tượng thường xuyên gọi là "Quá trình miễn dịch lão hóa".
Điều này được nghĩ đến khi thấy biểu hiện ở người cao tuổi có nhiễm trùng
xảy ra thường xuyên hơn [25], tăng tỷ lệ mắc bệnh ác tính bởi vì chức năng
giám sát miễn dịch suy giảm [27].
Các thành phần được nghiên cứu rộng rãi nhất của hệ thống miễn dịch có
liên quan đến miễn dịch lão hóa là số lượng tế bào T. Phép đối hợp của tuyến
.
16
ức bắt đầu ngay sau khi sinh và trải qua quá trình thay thế bởi mô mỡ là gần
như hoàn toàn khi 60 tuổi. Kết quả là sự suy giảm số lượng tế bào T ban đầu
dần dần xảy ra, các tế bào T nhớ (CD45RO
+
) cuối cùng đã chiếm ưu thế vượt
trội hơn về số lượng, mặc dù đáp ứng của các tế bào nhớ cũng có thể giảm
dần trong quá trình lão hóa [28]. Các thụ thể tế bào T đa dạng xuất hiện để
giảm bớt và giảm tế bào Th hoạt động [29]. Những quan sát khác của quần
thể tế bào T với quá trình lão hóa làm giảm phản ứng tăng sinh [30], giảm
nồng độ tế bào CD8
+
[31], kích thích sự thay đổi của cytokine Th1 sang
diện đó có thể đã giảm bớt hoạt động kháng bệnh lý. Cả hai thay đổi này xảy
ra trong quá trình lão hóa có thể góp phần làm cho nhiễm trùng hô hấp xuất
hiện thường xuyên và nghiêm trọng.
Một loại tế bào thường liên quan với viêm dị ứng là các bạch cầu ái toan.
Sự hiện diện của bạch cầu ái toan trong đường hô hấp đã được chứng minh là
một dấu hiệu cho sự hoạt động của bệnh và giảm khi được điều trị như là một
yếu tố dự báo. Với thay đổi chức năng bạch cầu ái toan, đã tìm thấy rằng
bạch cầu ái toan trong máu ngoại vi của các đối tượng người cao tuổi bị HPQ
giảm sự thoát bọng trong đáp ứng với sự kích thích cytokine cũng như xu
hướng giảm sản xuất superoxide [49]. Như vậy, bạch cầu ái toan có thể giảm
trong viêm đường hô hấp của bệnh nhân cao tuổi bị HPQ.
Không có nghiên cứu nào được thực hiện để đánh giá xem liệu sự gia tăng
nhạy cảm với nhiễm trùng do miễn dịch lão hóa có liên quan với sự gia tăng
mức độ nghiêm trọng của bệnh HPQ. Các tác nhân gây bệnh đường hô hấp,
chẳng hạn như Mycoplasma pneumoniae, Chlamydia pneumoniae và
Rhinovirus, được cho là yếu tố góp phần làm tăng mức độ nghiêm trọng bệnh
HPQ [50,51] . Hơn nữa, C.preumoniae trong đờm và trong đường hô hấp có
liên quan với giới hạn luồng không khí liên tục trong bệnh HPQ không dị
ứng khởi phát ở tuổi trưởng thành với mức độ nghiêm trọng của bệnh khi
triệu chứng lâm sàng nghèo nàn [52]. Nhiễm Rhinovirus sớm trong cuộc
sống là một yếu tố dự báo mạnh mẽ của thở khò khè, gợi ý cho thấy
.
18
Rhinovirus cũng có thể là yếu tố quan trọng trong sinh bệnh và các triệu
chứng mạn tính của bệnh HPQ [53]. Cho dù việc tăng tính nhạy cảm với
các bệnh nhiễm trùng liên quan tới miễn dịch lão hóa góp phần vào sinh
bệnh và/hoặc mức độ nghiêm trọng của bệnh HPQ ở người cao tuổi đã
được xác định.
Có những gợi ý rằng các bệnh nhân cao tuổi với các tính năng ít bị miễn
dịch lão hóa và đáp ứng miễn dịch khá tốt sẽ kéo dài sự sống [54]. Ngược lại,
trong sinh bệnh học của HPQ ở trẻ nhỏ và trẻ lớn. Vai trò đó là ít rõ ràng ở
người cao tuổi. Thuận ngữ “ hen ngoại sinh” được sử dụng để mô tả bệnh
nhân có bệnh HPQ được gây ra bởi có tiếp xúc với dị nguyên. Dị ứng được
định nghĩa bởi sự hiện diện số lượng bất thường kháng thể IgE trong phản
ứng với kháng nguyên môi trường và có thể biểu lộ như HPQ, eczema, viêm
mũi dị ứng mạn tính theo mùa. Điều đó được chứng minh trên lâm sàng bởi
nồng độ IgE toàn phần và IgE đặc hiệu cao trong huyết thanh hoặc chứng
minh bởi test lẩy da dương tính với các loại kháng nguyên khác nhau. Ở
người cao tuổi có hoặc không HPQ, nồng độ IgE cao có thể là một nhân tố
nguy cơ quan trọng trong sự phát triển tắc nghẽn phế quản mạn tính [50].
Phát hiện này đặc biệt đúng ở những người đang hút thuốc lá nhưng cũng
được xác định ở những người đã từng hút thuốc.
Dị ứng là một hiện tượng liên quan đến tuổi. Trong một điều tra cộng
đồng, tỷ lệ phản ứng test trên da tức thì tăng cao trong 30 tuổi và giảm nhanh
sau 50 tuổi [52]. Người mắc hen có dị ứng thay đổi theo tuổi. Khi ở trẻ nhỏ tỷ
lệ xấp xỉ 80%, giữa tuổi 20 và 40 là 50%, và sau 50 tuổi tỷ lệ < 20%. Nồng
độ IgE cao trong huyết thanh liên quan chặt chẽ đến khả năng của một chẩn
đoán HPQ ở bệnh nhân trẻ bị HPQ, điều đó cũng đúng đối với bệnh nhân
HPQ ở người cao tuổi [37]. Tỷ lệ báo cáo về HPQ dị ứng sau 65 tuổi đã thay
đổi đáng kể. Trong một nghiên HPQ ở người cao tuổi, những người khởi phát
bệnh sớm có khả năng mắc các bệnh dị ứng trước đó như; eczema, viêm mũi
dị ứng theo mùa [53]. Không một bệnh nhân nào khởi phát bệnh hen sau
60 tuổi có tiền sử dị ứng. Test da quá mẫn tức thì với 43 loại dị nguyên
.
20
trong nhóm này đều âm tính và nồng độ IgE cao xấp xỉ khoảng 20% trong
số bệnh nhân.
Những nghiên cứu khác đã chỉ ra mối quan hệ giữa dị ứng và HPQ ở
người già. Một nghiên cứu đã quản lý bệnh nhân > 60 tuổi với mức độ hen
vừa và nặng. Họ được tuyển chọn từ các phòng khám y tế, lão khoa và khoa
không có tính năng điển hình của dị ứng bao gồm; có tiền sử gia đình bị dị
ứng và HPQ, phản ứng dương tính mạnh với test lẩy da và nồng độ IgE tăng
cao. Những bệnh nhân này thường lớn tuổi hơn những người hen dị ứng và
có thời gian khởi phát bệnh muộn hơn. Nghiên cứu bằng sinh thiết phế quản
trên những bệnh nhân hen nội sinh so sánh với một nhóm bệnh nhân hen
ngoại sinh với mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng. Có rất nhiều tế bào
viêm xâm nhập vào trong niêm mạc phế quản của bệnh nhân hen nội sinh với
các bạch cầu, đại thực bào, và tế bào CD3 và CD4. Bệnh nhân hen nội sinh
có tăng quá mức tế bào T phản ứng với duy trì mức độ triệu chứng tương tự
và phản ứng phế quản. Phát hiện này có thể nghĩ rằng hen nội sinh có thể liên
quan đến sự kích hoạt của một kháng nguyên chưa được nhận biết. Trong các
nguyên nhân gây bệnh cần lưu ý rằng tất cả các bệnh nhân phát triển bệnh
hen sau 65 tuổi xuất hiện triệu chứng hen đầu tiên của họ ngay lập tức hoặc
đồng thời nhiễm trùng đường hô hấp trên.
1.3.6. Các bệnh ảnh hưởng tới bệnh HPQ ở người cao tuổi
1.3.6.1. Bệnh viêm mũi dị ứng
“Viêm mũi” được đặc trưng bởi sự thâm nhiễm nhiều loại tế bào viêm từ
tuần hoàn ngoại vi tới lớp dưới niêm mạc mũi, nhưng đôi khi không đặc
trưng bởi sự thâm nhiễm tế bào viêm. Đặc điểm lâm sàng điển hình của viêm
mũi: ngạt mũi, chảy nước mũi, ngứa mũi và hắt hơi. Có nhiều phân loại viêm
mũi: theo nguyên nhân như dị ứng, không dị ứng, nhiễm trùng, nghề nghiệp,
.
22
các yếu tố kích thích khác. Trong đó viêm mũi dị ứng là bệnh lý viêm mũi
mạn tính phổ biến nhất và có mối liên quan mật thiết với bệnh lý HPQ.
Mối liên quan giữa viêm mũi dị ứng và HPQ
Xem đường hô hấp một cách toàn thể, từ lỗ mũi đến các phế nang. Các
phản ứng viêm xảy ra ở đường hô hấp trên có thể gây viêm cho đường hô hấp
dưới thông qua hệ tuần hoàn.
Dịch tễ học các mối quan hệ
.
23
ra sự xâm nhập của các tế bào viêm, kích hoạt tế bào, biểu hiện cytokine và
chemokine hoặc sản xuất không có sự khác nhau giữa các niêm mạc mũi và
phế quản hoặc giữa mũi và các chất lỏng phế quản.
27-32
Ngoài ra, một số mô
tả hiện tượng, chẳng hạn như phản ứng sớm và cuối giai đoạn phát triển của
tăng phản ứng nhạy cảm đã được chứng minh thuyết phục cả mũi và đường
hô hấp dưới sau khi có chất gây dị ứng.
34-41
Sự tăng nhạy cảm của mũi và
đường hô hấp dưới là như nhau. Trong đường hô hấp, mũi tồn tại bộ máy
giác quan là một trung tâm đóng góp tăng nhạy cảm
42-44
, điều này không có
trong đường hô hấp dưới. Hiện tượng tăng nhạy cảm rõ ràng là nhiều mặt.
Đường hô hấp không đáp ứng bradykinin, một kích thích được cho chủ yếu
thông qua dây thần kinh cảm giác, tăng đến một mức độ cao hơn nhiều sau khi
gây dị ứng và giảm đến một mức độ cao hơn nhiều với glucocorticosteroid dạng
hít so với đường hô hấp đáp ứng với methacholine, tác động trực tiếp cơ
trơn.
45,46
Một trong những yếu tố bệnh lý mô đường hô hấp dưới trong bệnh HPQ
là tu sửa đường dẫn khí. Trong nghiên cứu của Chanez
18
đã cung cấp bằng
chứng rằng các lớp collagen bề mặt (lá reticularis) niêm mạc mũi của các đối
tượng là nguyên vẹn. Trong cùng một đối tượng, biểu mô phế quản cho thấy
có sự bóc mòn đáng kể. Có thể là sự khác biệt nội tại giữa mũi và các tế bào
mũi và hen trong 738 cá nhân thấy đánh giá tình trạng viêm mũi mà bệnh
nhân bị bệnh hen tồi tệ hơn so với các bệnh nhân viêm mũi đơn độc.
Tương tác giữa mũi và đường hô hấp dưới
• Quan sát lâm sàng
Những quan sát xung quanh khái niệm rằng những thay đổi trong đường
hô hấp mũi có thể ảnh hưởng đến đường hô hấp thấp dưới đã được đưa ra.
Vào năm 1992, nghiên cứu của Corren
74
cho rằng kích thích mũi với chất
gây dị ứng có thể dẫn đến tăng đáp ứng đường hô hấp dưới hơn so với gây
bệnh viêm mũi và HPQ. Trước đó, nghiên cứu của Hoehne và Reed
75
cũng
như Schumacher
76
đã không quan sát được những thay đổi cấp tính trong
chức năng phổi với các kích thích gây viêm mũi dị ứng.
Việc xác nhận quan sát của Corren cũng đã tìm thấy rằng mặc dù chức
năng phổi không thay đổi ngay lập tức sau khi kích thích gây dị ứng mũi, 6
giờ sau đó có giảm đáng kể FEV1 và FVC.
85-87
Sự giảm này là ghi nhận ở
cuối giai đoạn phản ứng xảy ra sau kích thích khi hít phải chất gây dị ứng.
.
25
Giảm lưu lượng đỉnh thở ra sau khi kích thích gây dị ứng mũi, đã được báo
cáo gần đây của Braunstahl
88
trong những cá nhân viêm mũi dị ứng đơn
thuần. Vì vậy, phản ứng dị ứng ở niêm mạc mũi có thể làm giảm rõ ràng
.