1
Tuổi thọ trung bình của loài người đã tăng lên gần ba mươi năm trong
vòng một thế kỷ qua. Cùng với tăng tuổi thọ trung bình, số lượng người cao
tuổi (NCT) đang tăng lên nhanh chóng. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế
giới, năm 2000 thế giới có tới 580 triệu người trên 60 tuổi và dự đoán đến
năm 2020 sẽ đạt đến con số 1 tỷ người [1]. Ở Việt Nam theo điều tra dân số
năm 1999, số người trên 60 tuổi chiếm 8,2% tổng dân số [2]. Xu hướng già
hóa đang đặt nhân loại trước những thách thức to lớn trong thế kỷ XXI. Một
trong những thách thức đó là sự gia tăng các bệnh trong đó có bệnh ung thư
đặc biệt là ung thư phổi.
Ung thư phổi (UTP) hay ung thư phế quản là thuật ngữ để chỉ bệnh ác tính
của phổi xuất phát từ biểu mô niêm mạc phế quản, tiểu phế quản, phế nang, từ
các tuyến của phế quản, hoặc các thành phần khác của phổi [3], [4].
Theo thống kê tình hình ung thư trên toàn thế giới năm 2010, UTP có tỷ lệ
mới mắc cũng như tỷ lệ tử vong cao nhất trong các loại ung thư ở nam giới, và
đứng thứ hai ở nữ giới về tỷ lệ tử vong [5]. Ở Việt Nam, những thống kê tại Hà
Nội và Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 - 2004 cho thấy, UTP đứng
đầu trong các ung thư ở nam giới và đứng thứ 3 trong các ung thư ở nữ giới
[6], [7]. Tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 1996 - 1997
UTP chiếm 7,5% các bệnh phổi vào điều trị nội trú, gần đây tỷ lệ này là
16,6% [3,4] đứng hàng thứ 2 trong tổng số BN vào điều trị nội trú.
Để chẩn đoán ung thư phổi, cần dựa vào các triệu chứng lâm sàng, cận
lâm sàng, và các kỹ thuật xâm nhập lấy bệnh phẩm làm xét nghiệm mô bệnh
học. Một trong những lý do gây khó khăn cho chẩn đoán là nhiều biểu hiện
trên lâm sàng và xét nghiệm của bệnh ung thư phổi khá giống với các bệnh lý
2
khác ở phổi, nên bệnh nhân thường bị chẩn đoán nhầm với lao phổi, viêm
phổi. Đặc biệt đối với NCT việc chẩn đoán và phát hiện bệnh đôi khi còn gặp
nhiều khó khăn do người bệnh ngại đi khám, hoặc tâm lý cho rằng chỉ là biểu
hiện của tuổi già, không phải là bệnh lý. Vì vậy, phát hiện sớm các triệu
tử vong [15]. Tại Hoa Kỳ, UTP là loại ung thư có tỷ lệ tử vong cao nhất và tỷ
lệ mới mắc đứng thứ hai ở cả hai giới [5].
Các thống kê cho thấy, UTP phổ biến hơn ở nam giới. Năm 2007,
toàn thế giới ước tính có khoảng 1.108.371 ca UTP được phát hiện ở nam
giới chiếm 71,6% tổng số ca UTP mới được phát hiện, tỷ lệ nam/nữ là
2,5/1 [5]. Tại các nước đang phát triển, tỷ lệ nam/nữ thường cao hơn con số
trên, trong khi tại các nước phát triển, tỷ lệ UTP ở nữ có xu hướng ngày
4
một tăng nhanh. Theo thống kê của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, năm 2010,
số ca UTP mới phát hiện ở nam giới là 116.750 và ở nữ là 105.770 [16],
[17]. Năm 2013, dự đoán 228.190 mới phát hiện nam 118.080 và ở nữ:
110.110. Ước tử vong: 159.480 (nam: 87.260, nữ: 72.220), tỷ lệ UTP mới
phát hiện ở nữ giới đã xấp xỉ nam giới [18].
1.1.2.2. Tình hình ung thư phổi tại Việt Nam
Hiện nay đã có những số liệu ghi nhận về ung thư tương đối chính xác
và có thể đại diện cho tình hình ung thư của cả nước. Năm 1990, trên toàn
quốc số mới mắc ung thư ở Việt Nam là 52.721 trường hợp, trong đó 28.140
là nam giới, 24.581 là nữ giới. Tỷ lệ mắc ung thư đã được chuẩn hóa theo cấu
trúc dân số là 133/100.000 ở nam và 92/100.000 ở nữ [6].
Năm 2000 Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (International Agency
for Research on Cancer – IARC) phối hợp 2 trung tâm ghi nhận trên quần thể
ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã tính có khoảng 71.170 bệnh nhân mới
mắc ung thư, trong đó 37.259 trường hợp ở nam giới (ARS 144.94/100.000) và
33.911 trường hợp nữ giới (ARS: 102,91/100.000 dân). Hiện nay theo ước
tính hàng năm ở Việt Nam có khoảng 150 nghìn trường hợp mới mắc ung thư
và có khoảng 75 nghìn trường hợp chết vì căn bệnh này [6]. Đối với UTP có
khoảng 9301 trường hợp mới mắc mỗi năm trong đó nam là 7201 (ARS là
30.14/100.000 và nữ giới là 2100 (ARS là 6.60/100.000) [6].
Tại Khoa Hô hấp - Bệnh viện Bạch Mai, số các trường hợp UTP nhập
viện tăng đều hàng năm: từ 1969 đến 1972 có 89 trường hợp UTP, từ 1974
làm tăng nguy cơ UTP.
6
Coyle YM và Cs (2006), nghiên cứu trên 81.132 trường hợp UTP ở
Texas - Mỹ từ năm 1995 - 2000, nhận thấy hít phải không khí có chứa kẽm,
đồng, chrom làm tăng tỷ lệ UTP [3], [23].
1.1.3.3. Bức xạ ion hóa
Bức xạ ion có thể gây ung thư ở tất cả các hệ cơ quan trong đó có UTP.
Nguồn bức xạ chính là từ thiên nhiên, các tia vũ trụ, do con người tạo ra trong
chẩn đoán y học, nghiên cứu hạt nhân [3].
1.1.3.4. Vấn đề di truyền trong sinh bệnh học khối u
Các gen chính liên quan đến phát sinh UTP (myc, ras, p53, Rb, HER-
2/neu, Bcl-2) có thể hoạt hóa hoặc mất hoạt hóa UTP. Gen này được coi có
vai trò điều hòa và kiểm tra sự phân chia của tế bào. Người ta cho rằng gen
P53 bị biến đổi không “kiểm tra” được sự phân chia tế bào một cách bình
thường [3].
1.1.3.5. Các bệnh phế quản phổi lành tính
Chấn thương xơ sẹo phổi, lao phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đã
được chứng minh làm tăng nguy cơ UTP, đặc biệt là viêm phế quản mạn tính
có dị sản dạng biểu bì [3], [4].
1.1.3.6. Chế độ ăn
Nhiều nghiên cứu cho thấy chế độ ăn nhiều rau xanh, trái cây làm giảm
rệt nguy cơ UTP. Người ta ghi nhận một nồng độ thấp của các vitamin có tác
dụng chống độc trong huyết thanh chẳng hạn như vitamin A và E liên quan
với sự gia tăng xuất hiện UTP. Tuy nhiên, những người ăn thức ăn giàu beta-
caroten làm giảm rõ rệt tỷ lệ mới mắc của UTP [3], [4].
-.#/&01,234&5 !"#[3], [4], [24], [25]
1.1.4.1. Các triệu chứng cơ năng
- Ho khan: là dấu hiệu thường gặp nhất, ho kéo dài, ho khan tiếng một
hoặc ho thành cơn.
7
- Triệu chứng chèn ép thần kinh:
+ Chèn ép thần kinh giao cảm cổ: đồng tử co lại, khe mắt nhỏ, mắt lõm
sâu làm mi mắt như sụp xuống, gò má đỏ bên tổn thương (Hội chứng Claude -
Bernard - Horner).
+ Chèn ép dây quặt ngược trái: có khi mất giọng, giọng đôi, nói khàn
+ Chèn ép thần kinh giao cảm lưng: tăng tiết mồ hôi một bên.
+ Chèn ép dây thần kinh phế vị: có thể hồi hộp trống ngực, tim đập nhanh.
+ Chèn ép dây thần kinh hoành: nấc, khó thở do liệt cơ hoành.
+ Chèn ép đám rối thần kinh cánh tay: đau vai lan ra mặt trong cánh
tay, có rối loạn cảm giác.
- Các triệu chứng do u lan tỏa khác:
+ Chèn ép ống ngực: gây tràn dưỡng chấp màng phổi, cũng có thể kèm
với phù cánh tay trái hoặc tràn dưỡng chấp ổ bụng.
+ Tổn thương tim: tràn dịch màng tim, rối loạn nhịp tim.
+ Hạch thượng đòn: hạch kích thước 1- 2 cm, chắc, di động hoặc số ít
trường hợp hạch thành khối lớn xâm nhiễm vào tổ chức dưới da.
+ Một số trường hợp tổn thương ung thư di căn thành ngực phát triển
và đẩy lồi da lên, hoặc UTP xâm lấn vào màng phổi rồi phát triển lan ra ngoài
gây sùi loét da thành ngực.
1.1.4.5. Các hội chứng cận ung thư
Hội chứng cận ung thư gồm những biểu hiện toàn thân không do di
căn, xuất hiện ở các bệnh ác tính. Hội chứng này là tập hợp những triệu chứng
gây ra do các chất được sản sinh bởi các u, chúng có thể là những biểu hiện
9
đầu tiên hoặc những biểu hiện nổi trội của bệnh lý ác tính. Tần suất mắc hội
chứng này khoảng 2% đến 20% ở các bệnh lý ác tính (xem phụ lục 2).
1.1.4.6. Triệu chứng di căn của ung thư
Di căn là biểu hiện bệnh lý hay gặp và là triệu chứng thường xảy ra vào
giai đoạn muộn của ung thư nói chung và UTP nói riêng. Di căn có thể xảy ra
sớm hay muộn tùy thuộc vào loại tế bào ung thư. Một số tác giả cho thấy di
cho phép chẩn đoán xác định ung thư phổi. Biểu hiện trên phim X quang UTP
cũng rất đa dạng thường có các khối mờ ở phổi, bờ không đều, có hình ảnh
chân cua, có khi kèm hình ảnh di căn Nhiều tác giả thống nhất dựa vào các
hình ảnh sau đây:
Hình ảnh trực tiếp: [26], [27].
- Đám mờ thường có đường kính trên 3 cm, hoặc nốt mờ đường kính
>10mm, bờ không rõ, có múi, hoặc tua gai. Khi hoại tử có thể có hình hang
thành dày, bờ trên gồ ghề, nham nhở lệch tâm.
Dấu hiệu hình bóng Felson: trong trường hợp u nằm ở thùy giữa phổi
phải hoặc phân thùy lưỡi phổi trái cùng bình diện với tim, khối hình như dính
liền và không thấy bờ viền ngăn cách với tim (dấu hiệu hình bóng dương
tính). Khi thấy đám mờ chồng lên hình ảnh của tim, chứng tỏ u nằm khác
bình diện của tim (u thùy dưới phổi).
11
Dấu hiệu cổ ngực: u phân thùy 3 phổi luôn nằm phía dưới xương đòn.
Nếu thấy u liên tục từ bờ dưới xương đòn lên phía trên xương đòn thì u nằm ở
phân thùy 2 phía sau của phổi.
Dấu hiệu hội tụ rốn phổi về bản chất cũng là dấu hiệu hình bóng Felson.
Hình xâm lấn thành ngực: những u ở ngoại vi nằm sát thành ngực xâm
lấn, phá hủy thành ngực, hủy xương sườn. Một số ít trường hợp có thể thấy u
lồi hẳn ra ngoài thành ngực.
Hình ảnh mặt trời mọc: U phổi nằm ở ranh giới vùng tràn dịch màng
phổi. Phần u ở trên vùng tràn dịch màng phổi tạo hình mặt trời mọc.
Hình ảnh gián tiếp: do sự phát triển của u trong lòng phế quản làm hẹp
lòng phế quản, thường nhìn thấy trên phim X quang phổi chuẩn. Biểu hiện
trên phim tùy thuộc vào u gây tắc phế quản hoàn toàn gây xẹp phổi hoặc viêm
phổi sau tắc hoặc tắc bán phần có thể chỉ gây hiện tượng”cạm khí ” hoặc xẹp
phổi còn thông khí [26], [27], [28].
Dấu hiệu hình chữ S của Golden (“S” sign of Golden) hay còn gọi là đường
cong Morton thường gặp ở u trung tâm, thùy trên phổi phải gây xẹp phổi làm
u gọi là vành tua gai. Bình thường u phổi có tỷ trọng 20 - 40 HU ( Hounsfield).
U phổi có xu hướng ngấm thuốc nhiều hơn các tổn thương dạng kén, u lao
Có thể thấy vùng hoại tử nằm lệch tâm thành dày không đều [29].
Chụp CLVT ngoài việc phát hiện những tổn thương thứ phát mà trên
phim X quang không nhìn thấy còn phát hiện những tổn thương xâm lấn vào
các cơ quan lân cận:
•Hình xâm lấn màng phổi
Tràn dịch màng phổi ở bệnh nhân UTP có thể là do ung thư di căn
màng phổi hoặc cũng có thể là tràn dịch màng phổi lành tính do viêm phổi sau
13
tắc nghẽn phế quản. Dấu hiệu điển hình là hình ảnh các nốt mờ dạng tổ chức
trên bề mặt màng phổi hoặc hình ảnh dày màng phổi.
•Xâm lấn trung thất
Để xác định tình trạng xâm lấn trung thất của những UTP, cần phải dựa
trên phim chụp CLVT ngực có tiêm thuốc cản quang. Trong những trường
hợp khó xác định nên chụp cắt lớp ngực với máy chụp đa đầu dò kết hợp kỹ
thuật tái tạo ảnh không gian ba chiều, giúp xác định chính xác hơn tình trạng
xâm lấn trung thất, khí quản, động mạch phổi.
•Hình xâm lấn thành ngực
Chụp CLVT cho phép chẩn đoán xâm lấn thành ngực với độ nhạy: 70 -
90 và độ đặc hiệu: 60 - 90%. Các dấu hiệu gợi ý xâm lấn thành ngực bao
gồm: phá hủy xương sườn, u lớn lan vào thành ngực, dày màng phổi…[3].
•Xẹp phổi xung quanh và viêm phổi sau tắc nghẽn phế quản
Chụp CLVT rất có giá trị trong phân biệt giữa u phổi với vùng phổi xẹp
xung quanh do u gây ra. Sau tiêm thuốc cản quang, vùng phổi xẹp có tỷ trọng
cao hơn do ngấm thuốc cản quang hơn u nguyên phát. Tuy nhiên, rất khó xác
định ranh giới và phân biệt được u với vùng phổi xẹp hoặc viêm trong những
trường hợp u nhỏ, nằm trong lòng phế quản [31], [32].
•Di căn hạch do ung thư
Xác định hạch trung thất có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chẩn
(cùng thùy) hay T
4
(khác thùy), ở giai đoạn này, BN
có thể còn chỉ định phẫu thuật. Khi có tổn thương ở phổi đối bên với u
nguyên phát, bệnh được xếp giai đoạn M
1
, lúc này BN không còn chỉ định
phẫu thuật.
EF GH ,@IJKIC #&JC3B&C2#D
MRI là một phương pháp rất có giá trị trong thăm khám lồng ngực với
các trường hợp thăm khám đỉnh phổi, cơ hoành và cột sống, đánh giá xâm lấn
tại chỗ của khối u vào mạch máu, di căn xâm lấn tủy xương, xác định đánh
giá giai đoạn UTP. Ưu điểm nổi bật của MRI là tương phản cao đánh giá tổn
thương mô mềm và hình ảnh đa bình diện, đánh giá mạch máu mà không bị
ảnh hưởng bởi bức xạ ion hóa. Tuy nhiên nó còn nhiều hạn chế trong chẩn
đoán bệnh lý nhu mô phổi do độ phân giải không gian kém hơn nhiễu do
chuyến động sinh lý của phổi [34], [35].
15
;!!L9M&M9
Thời kỳ trước khi có chụp CLVT để chẩn đoán ung thư phế quản cần
chụp phế quản cản quang có lipiodol để phát hiện các tổn thương có chèn ép
phế quản hay không. Một số hình ảnh đặc trưng: phế quản cắt cụt, phế quản bị
chít hẹp một phần, phế quản bị đẩy lệch vị trí bình thường của nó, phế quản bị
chít hẹp phối hợp với phế quản giãn, tổn thương trung thất do sự di căn hoặc
xâm lấn trực tiếp của khối u vào trung thất. Tuy nhiên hiện nay ít sử dụng
phương pháp này.
N#+,2
Siêu âm thường ít sử dụng để phát hiện khối u. Tuy nhiên siêu âm được
chỉ định trong những tổn thương đặc của nhu mô phổi hoặc màng phổi sát
thành ngực. Ví dụ u phổi ngoại vi, sát thành ngực siêu âm để hướng dẫn cho
Ngoài ra còn giúp chẩn đoán di căn xương và lập kế hoạch điều trị [3], [39].
Siêu âm ổ bụng tìm di căn gan, hạch ổ bụng
Chụp CT Scanner hoặc MRI sọ não trong trường hợp tìm di căn xa
1.1.5.2. Các kỹ thuật lấy bệnh phẩm chẩn đoán mô bệnh học
Nội soi phế quản
Nội soi phế quản (NSPQ) là một kỹ thuật thăm dò xâm nhập cho phép
đánh giá hình thái bên trong của cây phế quản [40]. Có NSPQ ống cứng và
NSPQ ống mềm. Trong chẩn đoán thường sử dụng NSPQ ống mềm còn soi
phế quản ống cứng thường ứng dụng trong điều trị. Nội soi phế quản huỳnh
quang với hệ thống ánh sáng xanh thay vì ánh sáng trắng giúp định vị tổn
17
thương và sinh thiết chính xác hơn. Siêu âm nội soi là kỹ thuật mới cho hình
ảnh rõ nét của trung thất, rốn phổi, mạch máu tổn thương các lớp khác nhau
của niêm mạc phế quản.
Trong ung thư phổi, NSPQ cho phép đánh giá sự xâm lấn hay lan tỏa của
u trong lòng phế quản. Sự xâm lấn này có thể thấy được ở ngay khí quản,
carina, phế quản gốc hay các phế quản phân thùy.
Các tổn thương có thể gặp ở UTP khi soi phế quản là: dạng u sùi: 22 -
55%; dạng thâm nhiễm: 13 - 42% chít hẹp: 24 - 30%: bít tắc hẹp lòng phế
quản: 9,5%; dạng loét - chảy máu và dạng đè ép từ ngoài. Tuy nhiên không
thấy tổn thương cũng chiếm tỷ lệ khoảng 3 - 20%. Ngoài ra, qua soi phế quản
chúng ta cũng đánh giá được tình trạng liệt dây thanh âm trong những trường
hợp u chèn ép dây thần kinh quặt ngược thanh quản [2], [40], [41], [42].
Song song với việc soi phế quản, chúng ta có thể phối hợp các phương
pháp lấy bệnh phẩm như chải, rửa phế quản, chọc hút xuyên thành phế quản
hay sinh thiết tổn thương, phục vụ cho chẩn đoán tế bào và mô bệnh học. Kết
quả phụ thuộc vào vị trí khối u và các thủ thuật xâm nhập được áp dụng để lấy
bệnh phẩm [43]. Theo Nguyễn Chi Lăng (1992), thủ thuật chải rửa phế quản tỷ
lệ phát hiện được ung thư là 50,88%, sinh thiết xuyên thành phế quản phát hiện
được 58,69% [44]. Theo Đồng Khắc Hưng (1995), qua sinh thiết phế quản đối
- Nội soi màng phổi là một thủ thuật thăm dò trực tiếp khoang màng
phổi. Thủ thuật này có thể được thực hiện với sự hỗ trợ của video mà ngày
nay người ta gọi là soi lồng ngực video. Sinh thiết qua nội soi màng phổi là
một phương pháp chẩn đoán thích hợp được lựa chọn đạt hiệu quả cao đối với
BN tràn dịch màng phổi kéo dài, nếu xét nghiệm dịch màng phổi và sinh thiết
19
màng phổi mù nhiều lần không có chẩn đoán xác định. Tuy nhiên phương
pháp này còn ít được sử dụng do bệnh nhân cần phải trải qua cuộc gây mê.
- Ngoài ra, còn có thể sinh thiết hạch thượng đòn, hạch nách, hạch bẹn,
sinh thiết thân đốt sống, sinh thiết u gan để xác định sự di căn của UTP.
- Các chất chỉ điểm ung thư (Tumor marker). Hiện nay trên thế giới có
rất nhiều marker đã được nghiên cứu trên các bệnh nhân ung thư như CEA
(kháng nguyên ung thư biểu mô nguyên phát), NSE (enzym enolase đặc hiệu),
SCC (kháng nguyên ung thư biểu mô tế bào vảy). CYFRA 21 - 1 và nhiều
kháng nguyên khác. Mặc dù không có giá trị chẩn đoán xác định và độ đặc
hiệu không cao nhưng định lượng các marker này có giá trị trong đánh giá
hiệu quả của phương pháp điều trị và theo dõi tái phát [21], [48].
Q,1BH#2RS/T& !"#
Theo phân loại mô bệnh học của Tổ chức Y tế Thế giới năm 1999 cho u ở phổi
và màng phổi, tổn thương được chia thành 9 týp và các biến thể như sau [49], [50].
1. Ung thư biểu mô vảy
Các biến thể: dạng nhú; tế bào sáng; tế bào nhỏ; tế bào dạng đáy.
2. Ung thư biểu mô tế bào nhỏ
3. Ung thư biểu mô tuyến Acó các dạngAdạng nangU dạng nhúU tiểu phế
quản phế nangUkhông chế nhàyU chế nhàyUhỗn hợp chế nhày và không chế
nhày hay loại tế bào trung gianUung thư biểu mô tuyến đặc với chất nhày.
UTBM tuyến với các dưới nhóm phức hợp.
4. Ung thư biểu mô tế bào lớn
Biến thể: UTBM tế bào lớn thần kinh nội tiết; UTBM tế bào lớn thần
kinh nội tiết phối hợp; UTBM tế bào dạng đáy; UTBM dạng biểu mô lympho;
$[\
$])##/2^#&B "#
Tích tuổi và lão hóa là những quá trình sinh lý tự nhiên diễn ra trong
sự phát triển của mỗi con người. Về mặt sinh học, cơ thể bắt đầu có các
dấu hiệu suy giảm chức năng từ khi bước vào tuổi 30. Từ thời điểm này, tỷ
lệ các bệnh mạn tính và mức độ phụ thuộc trong việc thực hiện các hoạt
động hằng ngày sẽ tăng lên [54].
Đại hội đồng quốc tế về người già tại Vienna năm 1982 cũng đã thống
nhất quy định những công dân từ 60 tuổi trở lên được gọi là người già [55]. Tuy
nhiên, dưới góc độ xã hội, ranh giới tuổi già có thể được sử dụng một cách linh
hoạt ở nhiều nước khác nhau. Các nước phát triển vẫn theo quy định riêng của
mình để lấy mốc 65 tuổi trở lên để chỉ người già [54], [55].
Theo Tổ chức Y tế Thế giới sắp xếp các lứa tuổi như sau: [55].
45 - 59: người trung niên
60 - 74: lớn tuổi
75 - 90: người già
Trên 90 tuổi: người già sống lâu
Trước đây, Việt Nam chưa có quy định về mốc xác định tuổi già, phần
lớn hiểu tuổi già là tuổi về hưu (60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ).
Trong những năm gần đây, nước ta thống nhất sử dụng quy ước của Liên Hợp
Quốc coi người già là những người từ 60 tuổi trở lên và sử dụng khái niệm
“người cao tuổi” với ý nghĩa mang tính kính trọng, động viên và tích cực hơn để
thay thế cho thuật ngữ “người già”, song về mặt khoa học thì cả 2 khái niệm này
được dùng với ý nghĩa như nhau [56]. Với sự ra đời của pháp lệnh về người cao
tuổi (NCT) ngày 28 tháng 4 năm 2000 tại điều 2 quy định NCT: những công
dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên không phân biệt nam, nữ [57].
22
Vì vậy trong nghiên cứu này chúng tôi lựa chọn người cao tuổi là từ
60 tuổi trở lên.
$$_1/^#&B "#F#/ 2>4L#=#
cấu dân số này sẽ dẫn tới sự thay đổi mô hình bệnh tật.
$(N#1`T&F^#&B "#
Già là một hiện tượng tự nhiên liên quan đến quá trình biệt hóa và
trưởng thành. Tăng trưởng và thoái triển kế tiếp nhau theo một trương trình
của sự phát triển quy định cho từng cá thể, từ 60 tuổi trở đi biểu hiện thoái
triển càng rõ nét. Nói cách khác già hóa là một quá trình được đặc trưng bới
những quy luật riêng bên trong, đồng thời có đặc thù nào đó mang tính cá thể,
được thể hiện bởi nhịp độ phát triển của nó, đó là đặc điểm mức độ biến đổi
theo tuổi của các hệ thống khác nhau lúc cao tuổi. Mặc dù còn chưa thống
nhất ý kiến về mặt sinh học, nhưng từ góc độ sinh lý, thì già hóa ở người là sự
giảm dần dự trữ hằng định nội mô của mọi hệ thống cơ quan. Sự suy giảm
này thấy rõ từ tuổi 39, tuy tốc độ và mức độ khác nhau nhưng quá trình này
diễn ra một cách từ từ và tuần tiến [61].
Già hóa liên quan đến những biến đổi nhịp sinh lý của các tổ chức.
Những biến đổi theo tuổi quan trọng nhất: giảm biên độ các tiến trình sinh lý
nhịp ngày đêm như thân nhiệt, cortisol huyết tương và giấc ngủ; mất đồng bộ
khác nhịp hoặc “lệch nội pha”…Khả năng phục hồi sinh lý chậm chạp đối với
hầu như tất cả các cơ quan, hệ thống. Suy giảm bài tiết các hormone là một
trong những mốc đánh dấu già hóa sinh học. Sự biến đổi nhịp tim, huyết áp
động mạch, tần số điện não, tần số nghe, dao động và run sinh lý theo tuổi…
Sự biến đổi rõ nhất ở hệ thống thần kinh và tuần hoàn.
24
Sự già hóa biểu hiện rõ bằng sự mất khả năng thích nghi, khả năng điều
hòa các bộ phận hơn là sự suy kém chức năng riêng lẻ của từng bộ phận. Tốc độ
già hóa phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố nội môi. Việc duy trì cân bằng nội môi
cực kỳ quan trọng, vì nếu nó rối loạn thì cuộc sống sẽ không tồn tại được. Sự già
hóa kéo theo hàng loạt những thay đổi sinh lý ở các hệ thống khác nhau.
Khi phân tích những biến đổi nẩy sinh trong quá trình lão hóa cơ thể của
hệ thống hô hấp, việc trước tiên phải chú ý đến là còng lưng và biến dạng
lồng ngực. Calci hóa và mất dần tính đàn hồi sụn sườn sẽ làm giảm khả năng
mạch não [58], [59], [61].
Khi các quốc gia tiến hành công nghiệp hóa, việc thay đổi lối sống và
làm việc chắc chắn sẽ dẫn đến những thay đổi về mô hình bệnh tật. Việc
chuyển từ mô hình các bệnh nhiễm trùng là chủ yếu sang mô hình các bệnh
không lây truyền là chủ yếu, diễn ra nhanh nhất ở các nước đang phát triển,
trong đó các bệnh mạn tính như bệnh tim mạch, ung thư và trầm cảm nhanh
chóng trở thành nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tàn phế.
$6b&W#c2 !"#F^#&B "#
Ở người cao tuổi thường gặp một số loại ung thư: ung thư phế quản (phổi),
ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đại, trực tràng, ung thư dạ dày, gan, mật.
Ung thư phổi là bệnh đứng hàng thứ hai trong các bệnh về Hô hấp trong
số bệnh nhân điều trị nội trú tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai. Số
lượng bệnh nhân ngày càng tăng lên theo từng năm: từ 1969 đến 1972 có 89
trường hợp UTP, từ 1974 đến 1978 có 186 trường hợp, từ 1981 đến 1985 có
285 trường hợp, từ 1996 đến 2000 có 639 trường hợp, chiếm 16,6% tổng số
các bệnh nhân điều trị, đứng hàng thứ hai sau bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
[3]. Theo Hoàng Hồng Thái nghiên cứu 419 BN ung thư phổi điều trị tại khoa
Hô hấp từ tháng 1 năm 2006 đến tháng 7 năm 2007 độ tuổi trung bình là 61,5
± 12,53. Tuổi trên 40 chiếm 95,94% [10]. Như vậy, NCT mắc ung thư phổi
ngày càng tăng. Một điều khác với quan niệm trước đây khi điều trị UTP cho