Nghiên cứu chi phí trực tiếp điều trị nội trú đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Trung tâm hô hấp Bệnh viện Bạch Mai năm 20132015 - Pdf 48

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Choronic Obstructive Pulmonary Disease
- COPD) là một trong những nguyên nhân hàng đầu về gánh nặng bệnh tật và
tử vong trên toàn thế giới vì tính chất phổ biến, tiến triển kéo dài, chi phí điều
trị cao và hậu quả gây tàn phế [1], [2], bệnh đang trở thành một thách thức lớn
đối với sức khoẻ toàn cầu. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới năm 1990,
COPD là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 6 và là nguyên nhân gây tàn phế
đứng thứ 12 [3]. Trong năm 2000, khoảng 2,7 triệu người chết vì COPD, một
nửa trong số đó ở Tây Thái Bình Dương mà phần lớn xảy ra ở Trung Quốc.
Mỗi năm có khoảng 400.000 người chết vì COPD ở các nước công nghiệp,
khoảng 650.000 người chết ở Đông nam châu Á, phần lớn ở Ấn độ [4]. Dự
đoán đến năm 2020 tỷ lệ tử vong do COPD sẽ tăng lên đứng thứ 3 và là
nguyên nhân thứ 5 trong các bệnh gây nên tàn phế trên toàn thế giới [4].
Tại Việt Nam, theo một số nghiên cứu cho thấy COPD cũng có chiều
hướng tăng theo xu hướng chung của thế giới. Kết quả của nghiên cứu cấp
quốc gia cho thấy tỷ lệ mắc COPD ở dân số trên 40 tuổi là 4,2%. COPD luôn
chiếm tỷ lệ lớn trong các khoa Hô hấp tại các bệnh viện, là gánh nặng cho nền
Y tế Việt Nam. Tại Trung tâm Hô hấp, bệnh viện Bạch Mai từ 1996 –2000,
COPD chiếm 25,1% [5]. Tại khoa Lao – Bệnh phổi, bệnh viện 103 từ 2001–
2010, nhóm bệnh phế quản có tỷ lệ cao nhất: 35,5% với 49,5% là COPD [6].
COPD được coi là một gánh nặng không chỉ về tỷ lệ tử vong mà còn đối
với nền kinh tế. Năm 2010, ước tính chi phí dành cho COPD trên toàn cầu
vào khoảng 2,1 nghìn tỷ USD, một nửa trong số đó xảy ra ở các nước đang
phát triển [7]. Trong đó, chi phí y tế trực tiếp khoảng 1,9 nghìn tỷ USD và
khoảng 200 tỷ USD là chi phí gián tiếp như mất mát về kinh tế do hậu quả


2



2.

Phân tích một số yếu tố liên quan đến chi phí trực tiếp điều trị nội trú
đợt cấp Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Trung tâm Hô hấp - bệnh
viện Bạch Mai trong giai đoạn trên.


4

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

1.1.1. Khái niệm
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Chronic Obstructive Pulmonary Disease COPD) là bệnh của phổi đặc trưng bởi sự giới hạn lưu lượng khí gây trở ngại hơi
thở bình thường đã thành mạn tính và không thể khôi phục hoàn toàn [10], [11].
COPD không phải một bệnh, đây là một thuật ngữ chỉ các bệnh phổi
mạn tính gây ra hạn chế lưu thông luồng khí ở phổi [12]. Sự hạn chế này
thường tiến triển từ từ và liên quan với phản ứng viêm bất thường của các
phổi với các phân tử nhỏ và khí độc hại [11], [13].
1.1.2. Đặc điểm dịch tễ của bệnh
COPD là nguyên nhân chính gây ra bệnh tật và tử vong, và sự phổ biến
của nó đang gia tăng trên toàn thế giới [11], [13]. Theo Tổ chức Y tế thế giới
năm 1990, COPD là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 6 và là nguyên nhân
gây tàn phế đứng thứ 12 [3]. Trong năm 2000 khoảng 2,7 triệu người chết vì
COPD, một nửa trong số đó ở Tây Thái Bình Dương mà phần lớn xảy ra ở

COPD [27]. Ngoài ra, di truyền cũng được xem như một yếu tố ảnh hưởng tới
nguy cơ mắc bệnh [28].
Tại Việt Nam, có một số nghiên cứu dịch tễ học được tiến hành ở các
thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng… Năm 2012, theo tác
giả Nguyễn Quỳnh Loan thông báo thì lệ mắc COPD tại phường Khương
Mai, Thanh Xuân, Hà Nội là 1,53% dân số từ 35 tuổi trở lên [29]. Ngô Quý
Châu và cộng sự trong nghiên cứu tại Hà Nội công bố tỷ lệ mắc bệnh ở người
trên 40 tuổi là 4,7%, cụ thể là 7,1% ở nam giới và 2,5% ở nữ giới [30]… Một
nghiên cứu dịch tễ học trên cả nước năm 2007 cho thấy tỷ lệ mắc COPD là


6

2,2% dân số; cao hơn ở nam so với nữ (3,4% so với 1,1%). Tỷ lệ này trong
các nhóm trên 40 tuổi và dưới 40 tuổi là 4,1% và 0,4%. Có sự khác biệt rõ rệt
giữa tỷ lệ COPD ở nam so với nữ (7,1% so với 1,9%) [31].Chi phí điều trị
bệnh COPD.
1.1.3. Chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Một chẩn đoán lâm sàng COPD cần được xem xét trong các trường hợp
bệnh nhân có khó thở, ho mạn tính hoặc khạc đờm, và có tiền sử tiếp xúc với
các yếu tố nguy cơ của bệnh.
Xét nghiệm chức năng phổi (đo phế dung – spirometry) là thử nghiệm
chức năng phổi phổ biến nhất. Trong thử nghiệm này, bệnh nhân sẽ được yêu
cầu thổi vào một ống kết nối với phế dung kế. Spirometry có thể phát hiện
COPD, ngay cả trước khi có các triệu chứng của bệnh. Nó cũng có thể được
sử dụng để theo dõi tiến triển của bệnh và theo dõi điều trị.
 Đánh giá dựa vào hô hấp ký

Phân độ GOLD dựa vào đo chức năng hô hấp được thể hiện dưới đây.
Tuy nhiên, người ta thấy rằng, ít có mối liên quan giữa mức độ nặng của

 Đánh giá tổng hợp:

Tóm lại dựa vào các yếu tố trên COPD được phân làm 4 nhóm sau:
Bảng 1.1: Phân loại COPD theo GOLD 2011

Bệnh
nhân

Đặc điểm

Hô hấp Số đợt kịch

FEV1 ≥

A

Nguy cơ thấp triệu chứng ít

B

Nguy cơ thấp triệu chứng nhiều

C

Nguy cơ cao triệu chứng ít

D

Nguy cơ cao triệu chứng nhiều FEV1

≥2

≥ 10


8

50%
Ngoài ra có thể làm thêm các chẩn đoán hình ảnh hoặc cận lâm sàng
khác như chụp Xquang ngực, xét nghiệm khí máu động mạch, làm xét nghiệm
đờm hoặc chụp cắt lớp vi tính để xác định tổn thương hay chẩn đoán phân biệt.
Hiện tại không có cách chữa đặc hiệu, và không thể hồi phục những tổn
thương phổi do bệnh COPD. Nhưng phương pháp điều trị COPD có thể kiểm
soát triệu chứng, giảm nguy cơ biến chứng và đợt kịch phát, và cải thiện khả
năng hoạt động trong cuộc sống.
1.1.4. Điều trị COPD giai đoạn ổn định
Theo hướng dẫn của GOLD 2013, việc điều trị COPD là sự kết hợp của
các biện pháp:
- Ngừng hút thuốc lá, thuốc lào
-

Giáo dục cho bệnh nhân và người nhà những kiến thức cơ bản về COPD

-

Các biện pháp không dùng thuốc

o

Phục hồi chức năng hô hấp

hoặc SABA
LAMA
hoặc LABA
ICS + LABA

C

và/
hoặc LAMA

ICS + LABA
D

và/ hoặc
LAMA

Lựa chọn thứ hai

Lựa chọn thay
thế

LAMA
hoặc LABA

Theophylline

hoặc SAMA + SABA
LAMA và/hoặc
LAMA + LABA


- Các liệu pháp điều trị không thuốc kết hợp
o Vaccine phòng cúm: Có hiệu quả phòng diễn biến đợt cấp, làm giảm nguy cơ
tử vong ở bệnh nhân COPD.
o Vắc xin phòng phế cầu cho bệnh nhân >65 tuổi và/hoặc bệnh nhân
1.1.5.3. Điều trị đợt cấp COPD nặng
- Thở Oxy gọng kính, giữ SpO2: 90 – 92%
- Giãn phế quản: Cường β2 giao cảm, khí dung mặt nạ 5mg, có thể nhắc lại tùy
theo tình trạng bệnh nhân
- Ức chế phó giao cảm (Ipratropium) 0,5 mg, khí dung mặt nạ, nhắc lại nếu
cần; kết hợp truyền tĩnh mạch thuốc cường β2 giao cảm với tốc độ khởi đầu
0,5 mg/ giờ, tăng tốc độ truyền 30 phút/ lần theo đáp ứng của bệnh nhân,
không quá 3 mg/giờ
- Methylprednisolon 2 mg/kg/giờ, tĩnh mạch chia 2 lần
- Kháng sinh: Cephalosporin thế hệ 3; kết hợp Aminosid hoặc Fluoroquinolon.
Nghi ngờ nhiễm khuẩn bệnh viện, dùng kháng sinh phổ rộng và có tác dụng
trên trực khuẩn mủ xanh
- Xét thông khí nhân tạo không xâm nhập khi có ít nhất 2 tiêu chuẩn: Khó thở
vừa tới nặng có co kéo cơ hô hấp phụ và hô hấp nghịch thường; toan hô hấp


12

nặng. Nếu sau 60 phút, tình trạng khí máu không cải thiện hoặc biểu hiện lâm
sàng xấu đi thì chuyển thông khí nhân tạo xâm nhập
1.1.5.4. Điều trị đợt cấp COPD có suy hô hấp nguy kịch
-

Bóp bóng qua mặt nạ với oxy 100%
Đặt ống nội khí quản, thông khí nhân tạo
Thở máy xâm nhập
Giãn phế quản truyền tĩnh mạch
Tiêm tĩnh mạch Corticosteroid
Kháng sinh đường tiêm tĩnh mạch
1.2.

việc hoặc bị thất nghiệp. Chi phí do tử vong được tính là giá trị hiện tại của
mất khả năng sản xuất do chết sớm hoặc mất khả năng lao động vĩnh viến do
bị bệnh.
1

Chi phí y tế
Trong lĩnh vực y tế, chi phí là giá trị của nguồn lực được sử dụng để tạo

ra một dịch vụ y tế cụ thể hoặc tất cả các dịch vụ (như một chương trình y tế)
[35]. Chi phí y tế có thể được xem xét ở các góc độ quan điểm khác nhau như
quan điểm chi phí của người sử dụng dịch vụ y tế: Bao gồm các chi phí trực
tiếp như tiền khám bệnh, tiền xét nghiệm, tiền thuốc, đi lại, ăn ở…Quan điểm
chi phí của người cung cấp dịch vụ y tế: Bao gồm các chi phí như lương nhân
viên, thuốc, vật tư tiêu hao, khấu hao trang thiết bị y tế, nhà cửa…Quan điểm
chi phí của xã hội: Bao gồm tất cả các chi phí.
1.2.2. Gánh nặng chi phí do COPD
Bệnh tật gây ra những gánh nặng về tài chính cho người bệnh thông qua
các chi phí họ phải chi trả trực tiếp như chi phí khám chữa bệnh, mua thuốc
men,... và những chi phí gián tiếp như mất sức lao động hay mất thu nhập do
ốm đau [32]. COPD được coi là một gánh nặng không chỉ về tỷ lệ tử vong mà
còn đối với nền kinh tế. Gánh nặng kinh tế do COPD có liên quan tới cả chi
phí y tế trực tiếp (chăm sóc sức khỏe và y tế) và các chi phí gián tiếp (tác
động vào hộ gia đình và năng suất làm việc) [32].
Năm 2010, người ta ước tính chi phí dành cho COPD trên toàn cầu vào
khoảng 2,1 nghìn tỷ USD, một nửa trong số đó xảy ra ở các nước đang phát
triển [7].Trong đó, chi phí y tế trực tiếp là vào khoảng 1,9 nghìn tỷ USD, bao


14


Chi phí cho COPD trên hệ thống y tế Canada mỗi năm lên tới 1.5 tỷ
USD [36]; và ở Singapore là 9,9 triệu USD mỗi năm [37]. Uớc tính chi phí
cho bệnh COPD vào khoảng 38,7 tỷ Euro (51,2 tỷ USD) mỗi năm ở châu Âu
với khoảng 60% tổng chi phí của COPD do chi phí gián tiếp, chẳng hạn như
ngày công lao động bị mất, tiền hưu trí khuyết tật, và các khoản thu thuế bị
mất do COPD [38] . Hệ thống Bảo hiểm Y tế Quốc gia Đài Loan đã chi
khoảng 27 tỷ nhân dân tệ (tương đương 900 triệu USD) mỗi năm để điều trị
hơn 700.000 bệnh nhân COPD [39].
1.3.

Các khoản chi cho điều trị nội trú bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

1.3.1. Trên thế giới
Một nghiên cứu về chi chí cho COPD được tiến hành ở 212 bệnh nhân
COPD ở Thụy Điển cho thấy trong toàn bộ số bệnh nhân nghiên cứu chỉ có
4% số bệnh nhân nặng nhưng chi phí cho những bệnh nhân này đã chiếm tới
30% tổng chi phí của các bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu. Cũng ở nước
này, một nghiên cứu trên 1510 bệnh nhân COPD trong khoảng thời gian một
năm chi phí trung bình cho một bệnh nhân trong 01 năm là 1876 USD. Khi
phân tích về chi phí trực tiếp, các nghiên cứu thấy rằng chi phí nằm viện
chiếm 43%, thăm khám và làm xét nghiệm chẩn đoán 17% [14].
Ở Anh, người ta nghiên cứu thấy tổng chi phí cho bệnh là 846 triệu bảng
một năm thì trong đó 402 triệu bảng (47,5%) chi phí cho thuốc men, 207 triệu
bảng (24,5%) cho điều trị oxy tại nhà, 151 triệu bảng (17,8%) chi phí cho
chăm sóc tối thiểu ở bệnh viện và khoảng 10% tổng chi phí được dùng cho
chăm sóc sức khỏe ban đầu và trợ cấp xã hội.
Chi phí cho đợt cấp COPD là chi phí quan trọng nhất của bệnh. Ở Mỹ
người ta ước tính chi phí cho một bệnh nhân COPD giai đoạn nặng là khoảng
7000 USD. Trong một nghiên cứu về đợt cấp COPD trên tạp chí Chest cũng



17

đó chi phí chủ yếu dành cho việc nằm viện điều trị nội trú, trong khi điều trị
ngoại trú và thuốc chỉ chiếm phần nhỏ [40].
Vào năm 2002 nhóm nghiên cứu E.F.M Wouters đã tiến hành cuộc khảo
sát, nghiên cứu so sánh đánh giá tác động của COPD lên nền kinh tế ở Bắc
Mỹ và châu Âu. Kết quả cho thấy chi phí trực tiếp hàng năm của mỗi bệnh
nhân COPD đã được tính toán và so sánh ở mỗi quốc gia tham gia khảo sát có
sự khác biệt rất lớn, dao động từ 522 USD – 4.119 USD. Chi phí trực tiếp
trung bình năm đặc biệt cao ở Mỹ với 4.119 USD trên một bệnh nhân và Tây
Ban Nha với 3.196 USD trên một bệnh nhân; chi phí này tương đối thấp ở Hà
Lan (606 USD) và Pháp (522 USD) trên một bệnh nhân. Mặc dù có sự khác
biệt về phân bổ chi phí điều trị trực tiếp giữa các quốc gia khác nhau nhưng
năm trong số bảy quốc gia có hơn một nửa số chi phí trực tiếp (52 – 84%)
được dùng cho điều trị nội trú tại bệnh viện: Canada, Ý, Tây Ban Nha, Vương
quốc Anh, Mỹ. Tuy nhiên chi phí điều trị nội trú tại Pháp chỉ chiếm khoảng
hơn 20% [41].
Trong năm 2005 nhóm tác giả Talia S. Foster, Jeffrey D. Miller và cộng
sự tiến hành đánh giá tổng hợp những kết quả từ khoảng 13 nghiên cứu đã
thực hiện trước đây nhằm phân tích gánh nặng của COPD. Kết quả cho thấy
trung bình một bệnh nhân mất khoảng 2.700 – 5.900 USD cho việc điều trị
trực tiếp bệnh này. Đó là một chi phí rất lớn mà mỗi bệnh nhân khi mắc
COPD phải chi trả [42].
Năm 2008, một nghiên cứu được tiến hành tại Mỹ để đánh giá về chi phí
của đợt điều trị COPD cấp tại khoa Cấp cứu và với những bệnh nhân nội trú.
Nghiên cứu được tiến hành thu thập số liệu ở những bệnh nhân COPD 40 tuổi
từ 602 bệnh viện khác nhau cho các chi phí liên quan đến nhập viện cấp cứu,
điều trị nội trú đơn thuần và điều trị nội trú phức tạp (với các loại như: đặt nội



19

sàng và thấp nhất là chi phí phẫu thuật/thủ thuật. Số ngày điều trị trung bình ở
nhóm có BHYT nhiều hơn gấp đôi so với nhóm không có BHYT [44].
Một nghiên cứu khác vào năm 2011 do Phan Thị Thanh Hoa tiến hành
tại Trung tâm Hô hấp, Bệnh viện Bạch Mai cho thấy, chi phí trung bình cho
một đợt điều trị là 18,1 triệu đồng, cao nhất là 79 triệu đồng và thấp nhất là
3,5 triệu đồng. Chi phí về thuốc chiếm tỉ lệ cao nhất với 69,6%; tiếp đến là chi
phí cho thủ thuật 16,9%, chi phí cho giường bệnh chiếm tỉ lệ thấp nhất là
0,79% [9].
1.4.

Một số yếu tố liên quan đến chi phí điều trị bệnh COPD

Nghiên cứu của Sami và cộng sự cho thấy, tuổi cao, nữ giới, nhập viện
cấp cứu, thời gian nằm viện dài và đặc biệt là nhiễm nhiều bệnh kèm theo là
những yếu tố gia tăng đáng kể chi phí điều trị bệnh COPD [45].
Trong khi đó, nghiên cứu của Oostenbrink và cộng sự cho thấy thiếu cân,
bị mắc các bệnh kèm theo và mức độ khó thở tăng cao là những yếu tố quyết
định sự gia tăng chi phí điều trị COPD trong nhóm bệnh nhân điều trị nội trú
tại Hà Lan và Bỉ [46].
Một nghiên cứu khác tại Thụy Điển cho thấy, chức năng phổi kém, thở
nhanh và hen suyễn liên quan đến chi phí điều trị cao trong 179 bệnh nhân
điều trị COPD [47].
Nghiên cứu do Phan Thị Thanh Hoa tiến hành tại Trung tâm Hô hấp,
Bệnh viện Bạch Mai cho thấy, chi phí không tăng dần theo thời gian nằm viện
và mức độ nặng của bệnh [9].
1.5.


cho hoạt động cung cấp dịch vụ y tế. Mỗi phương thức hoàn phí đều có những
ưu điểm, hạn chế và có ảnh hưởng khác nhau đến tính hiệu quả sử dụng
nguồn lực, chất lượng dịch vụ được bệnh viện cung cấp và mức độ sử dụng
dịch vụ của người dân [50-52].
Bảng 1.3: Đặc điểm các phương thức bảo hiểm chi trả cho bệnh viện
Hê thống

Căn cứ cho

chi trả

việc chi trả

Ưu điểm

Hạn chế


21

Quỹ theo
dòng ngân
sách

Các dịch vụ /
qui trình dịch vụ

Cho phép quản lý

trong khoảng


vụ gây lãng phí nguồn

nói chung (đặc biệt

lực

là dịch vụ có lợi

Không hỗ trợ kiểm soát

nhuận lớn)

gia tăng chi phí y tế
Chuyển gánh nặng hành

giai đoạn xác
định
Phí theo
dịch vụ

Định xuất

Quy trình và
dịch vụ đơn lẻ

Tất cả các dịch

Tăng hiệu quả


hợp bệnh cụ thể

bệnh

chính và rủi ro tài chính

thông qua tiết kiệm

Yêu cầu chi phí đầu tư

dịch vụ và loại bỏ

cho xây dựng mức phí

lạm dụng dịch vụ

và cập nhật liên tục

do bởi bên cung cấp

Hai hình thức bảo hiểm y tế hiện đang áp dụng chi trả cho dịch vụ bệnh
viện ở Việt Nam là phí dịch vụ và định xuất [49].


22

1.6.2. Phí dịch vụ
Cơ sở cho phương thức thanh toán theo dịch vụ là phí (hoặc phần phí)
cung cấp dịch vụ được chi trả (trực tiếp từ người sử dụng dịch vụ hoặc
BHYT) theo từng dịch vụ đơn lẻ mà bệnh viện đã cung cấp theo mức phí ấn

- Khung viện phí theo Thông tư liên bộ số 14/TTLB ngày 30/9/1995 hướng dẫn
thực hiện về thu một phần viện phí
- Khung viện phí theo Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT-BYT-BTCBLĐTB&XH về việc thu một phần viện phí do Bộ Y tế - Bộ Tài chính - Bộ
Lao động Thương binh và Xã hội ban hành, để bổ sung thông tư liên bộ số
14/TTLB ngày 30/9/1995 của liên bộ Y tế - Bộ Tài chính - Lao động Thương
binh và Xã hội - Ban Vật giá Chính phủ hướng dẫn thực hiện việc thu một
phần viện phí
- Khung viện phí theo Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BYT-BTC ban hành
mức tối đa khung giá một số dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trong các cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước. Khung viện phí ban hành kèm theo
Thông tư 04 có quy định mức giá trần. Sở Y tế các tỉnh ban hành khung giá
quy định mức giá cố định cho các cơ sở y tế tại tỉnh.
- Khung viện phí theo Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC quy định
thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh
viện cùng hạng trên toàn quốc
1.6.3. Định xuất
Thanh toán theo định suất là thanh toán theo định mức chi phí khám
bệnh, chữa bệnh và mức đóng tính trên mỗi thẻ bảo hiểm y tế được đăng ký
tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế trong một khoảng thời gian
nhất định.
Trong phương thức định suất, nhà cung cấp dịch vụ được trả một khoản
nhất định trên một đầu người tham gia bảo hiểm có đăng ký dịch vụ tại cơ sở
cung cấp dịch vụ đó. Ngân sách trả trước này được sử dụng để trang trải chi
phí cho các dịch vụ trong gói đã thỏa thuận trong một khoảng thời gian xác


24

định (thường là 1 năm). Định xuất thường được áp dụng cho các nhà cung cấp
dịch vụ trong phạm vi các quỹ bảo hiểm y tế. Vì động cơ của định suất là hạn

25

cán bộ công chức (Bác sỹ: 27, Điều dưỡng: 38, Kỹ thuật viên: 1, Hộ lý: 2).
Trung tâm có chức năng gồm:
- Chẩn đoán, điều trị bệnh nhân chuyên khoa Hô hấp tuyến cuối.
- Đào tạo, giảng dạy các lớp trung học, đại học và sau đại học.
- Đầu mối quản lý, triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia và mục
tiêu y tế phòng chống các bệnh hô hấp không lây nhiễm, chương trình phòng
chống tác hại của thuốc lá của Bộ Y Tế.
- Tham gia công tác chỉ đạo tuyến về lĩnh vực các bệnh hô hấp trên các tỉnh
thành phố mà Bộ Y Tế phân công giao cho bệnh viện Bạch mai.
- Nghiên cứu khoa học.
- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học và triển khai áp
dụng các kỹ thuật mới trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân mắc bệnh hô
hấp.
Trung tâm có 11 phòng bệnh với 84 giường bệnh, các phòng chức năng:
phòng nội soi phế quản, phòng nội soi can thiệp, phòng thăm dò chức năng hô
hấp, phòng thủ thuật, phòng nghiên cứu khoa học, phòng thăm dò giấc ngủ,
tổng đài và phòng tư vấn cai nghiện thuốc lá. Tỷ lệ bệnh nhân điều trị COPD
tại Trung tâm chiếm khoảng 25% tổng số bệnh nhân đến điều trị tại Trung tâm
hàng năm.

Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân được chẩn đoán là mắc bệnh COPD và được điều trị nội trú
tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai từ 1/1/2013 đến 31/12/2015.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status