1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Được biết tới từ những năm 20 của thế kỷ trước, hội chứng chuyển hóa
đã nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới. Tuy
nhiên, hơn hai thập kỷ sau đó các nhà khoa học đã tranh cãi nhiều về hội
chứng này cũng như tiêu chuẩn để chẩn đoán. Hiện nay có nhiều tổ chức, tùy
theo mục tiêu nghiên cứu của mình, đã đưa ra các tiêu chuẩn để chẩn đoán
khác nhau. Tiêu chuẩn của nhóm chuyên gia Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
[1]; tiêu chuẩn của Nhóm nghiên cứu về kháng Insulin Châu Âu (EGIR) ; tiêu
chuẩn của ATP III năm 2001 , cập nhật năm 2005 , thuộc chương trình giáo
dục Cholesterol quốc gia của Mỹ (NCEPT); tiêu chuẩn của các nhà Nội tiết
học Lâm sàng Mỹ (AACE) ; tiêu chuẩn của Liên đoàn đái tháo đường quốc tế
(IDF) .
Theo nhiều nghiên cứu, ĐTĐ typ 2 ngay khi phát hiện đã có biến chứng
tim mạch, nghĩa là các biến chứng này xảy ra ở giai đoạn tiền ĐTĐ [52].
Trên thế giới cũng đã có nhiều nghiên cứu ở đối tượng tiền ĐTĐ.
Nghiên cứu DECODE cho thấy, người bị rối loạn dung nạp glucose (IGT) có
nguy cơ phát triển thành bệnh ĐTĐ rất cao và khuyến cáo những người này
cần được quản lý tích cực để phòng ngừa hiện tượng đó . Theo Reaven GM,
người bị tiền đái tháo đường sẽ tăng nguy cơ bệnh lý tim mạch và thường
biểu hiện nhiều yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch .
Trên thế giới cũng đã có các nghiên cứu về HCCH ở người tiền ĐTĐ.
Theo Mohammed Ali Al-Shafaee và cộng sự , tỷ lệ HCCH theo IDF ở đối
tượng tiền ĐTĐ (IFG) là 45,9% (30,8% ở nam, 58,9% ở nữ) . Theo Pirjo
Ilanne, Johna G, Eriksson và cộng sự, tỷ lệ HCCH theo tiêu chuẩn của WHO
ở đối tượng suy giảm glucose máu lúc đói ở nam là 74% và ở nữ là 52,2%,
tỷ lệ HCCH ở đối tượng rối loạn dung nạp glucose (IGT) thừa cân ở nam là
84,8% và ở nữ là 65,4% . Theo Isomaa B, Almgren và cộng sự, ĐTĐ typ2 và
3
I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đại cương về hội chứng chuyển hóa
1.1.1. Lịch sử phát triển của khái niệm Hội chứng chuyển hóa
Liên quan giữa béo phì, Gout, đột quỵ cùng với sự ăn uống quá mức đã
được biết đến từ thời cổ. Sự thay đổi biểu hiện xơ vữa mạch kinh điển gây
nên bởi các bệnh lý chuyển hoá đã được phát hiện nhiều ở các thành viên tầng
lớp trên các quân đoàn thuộc thời kỳ văn minh tiền Cơ Đốc giáo.
Maranon (1922) và Himsworth (1936) đã đưa ra những đặc điểm lâm
sàng đầu tiên của những thành phần quan trọng trong hội chứng chuyển hoá
(HCCH). Morgagni cũng nhận xét rằng “Xơ vữa mạch và béo tạng thường
hay gặp ở những người con nhà dòng dõi”. Ông mô tả đó là những người có
đặc điểm công việc là “làm việc nghiên cứu sách vở, có cuộc sống tĩnh tại,
thời gian ngồi làm việc nhiều hơn là vận động, người thường có những bữa ăn
thừa năng lượng”- tức là không phải ở những người lao động chân tay, không
phải người có hoạt động thể lực nặng. Sau đó, vào năm 1923, Kylin mô tả
những dấu hiệu liên quan đến nhóm các triệu chứng này như là một tập hợp
gồm tăng huyết áp, tăng glucose máu và bệnh Goutte. Sau đó 2 thập kỷ, vào
năm 1943 Vague đã chia béo phì ra làm 2 loại, béo “Gynoid” và “Androi”.
Béo “Gynoid” được đặc trưng bởi sự tập trung của mô mỡ ở quanh đùi và
mông, trong khi béo androi đặc trưng bởi sự tập trung của mô mỡ ở bụng.
Béo androi liên quan nhiều đến kháng insulin. Ông cũng nhấn mạnh sự phối
hợp giữa béo phì nhất là dạng béo kiểu nam (béo bụng) với rối loạn chuyển
hóa, bệnh tim mạch và đái tháo đường. Những tiền đề quan trọng khác để
người ta đưa ra khái niệm Hội chứng chuyển hóa tiếp theo là việc tìm ra mối
liên quan giữa các acid béo tự do(FFA) và nồng độ insulin, là kỹ thuật kẹp
insulin glucose máu bình thường. Cuối cùng là hàng loạt các khái niệm khác
được hoàn thiện như quá trình tiếp nhận glucose được insulin hoạt hóa,các
•
Hội chứng kháng insulin (Insulin Resistance syndrome)
•
Hội chứng X (X syndrome)
Nhìn chung, các tác giả, sau này là nhóm các tác giả, xuất phát từ mục
đích nghiên cứu của mình để đưa ra những tiêu chuẩn riêng biệt, phục vụ cho
mục tiêu phòng chống bệnh tật mà nhóm đó theo đuổi. Song thực tế, ngoài
phần đặc điểm riêng của mình, họ đều có những tiêu chí chẩn đoán chung.
Cũng năm 1998, một nhóm các chuyên gia của WHO xác định vị trí của hội
chứng này và gọi là “Hội chứng chuyển hóa” và khuyến cáo không nên gọi là
“Hội chúng kháng insulin”. Các chuyên gia đã nêu nguyên nhân chính của
việc gọi tên này là do hiện tượng kháng insulin không phải là nguyên nhân cơ
bản của tất cả các yếu tố nguy cơ tạo nên hội chứng. Ngày nay, “ Hội chứng
5
chuyển hóa” là thuật ngữ đã đứng vững qua thời gian dài và nó được chấp
nhận rộng rãi nhất trên toàn thế giới. Nó mô tả một nhóm rối loạn chuyển hóa
liên quan với các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch cũng như tiên đoán khả
năng phát triển thành đái tháo đường (nếu tại thời điểm đó chưa biểu hiện đái
tháo đường).
1.1.2. Các tiêu chuẩn chẩn đoán Hội chứng chuyển hóa
Hiện nay có nhiều tổ chức, xuất phát từ mục đích nghiên cứu của mình
để đưa ra những tiêu chuẩn riêng biệt, phục vụ cho mục tiêu phòng chống
bệnh tật mà nhóm đó theo đuổi. Song thực tế, ngoài phần đặc điểm riêng của
eo/vòng hông > 0,85) và hoặc BMI > 30(với người Châu Âu và
Châu Mỹ, BMI > 27 (với người Châu Á)
Microalbumin niệu dương tính: (bài xuất albumin niệu ≥ 20µg/phút
hoặc tỷ lệ albumin/creatinin niệu ≥ 30 mg/g.
Theo tiêu chuẩn này sự kháng insulin là cần thiết. Tuy nhiên cũng
tương tự như tiêu chuẩn của ATP III, đái tháo đường type 2 không bị loại trừ
khỏi chẩn đoán. Trong thực hành lâm sàng sự xác định kháng insulin cũng
như microalbumin niệu là khó khăn, khó áp dụng.
1.1.2.2. Tiêu chuẩn của nhóm nghiên cứu về kháng Insulin Châu Âu (EGIREuropean Group for the study of insulin resistance)
Tiêu chuẩn của EGIR là:
• Tiêu chí bắt buộc là có kháng Insulin và/hoặc tăng insulin máu lúc đói
(tiêu chí A)
• Các tiêu chí khác (tiêu chí B)
Tăng glucose máu: Glucose máu lúc đói ≥ 6,1 mmol/l (nhưng
không bao gồm đái tháo đường).
Tăng huyết áp khi:
Huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc
Huyết áp tâm trương ≥90mmHg
Hoặc đã điều trị thuốc hạ áp.
Rối loạn chuyển hóa lipid khi:
Triglycerid > 2,0mmol/l(178mg/dl) và/hoặc
HDL-cholesterol
Huyết áp cao khi: Huyết áp tâm thu ≥ 130 mmHg hoặc huyết áp
tâm trương ≥ 85mmHg, Hoặc điều trị tăng huyết áp.
Tăng glucose máu lúc đói khi: FBG ≥ 5,6 mmol/l (100mg/dl) hoặc
điều trị tăng glucose máu.
HCCH theo tiêu chuẩn của ATP III vào năm 2001 tập trung chủ yếu
vào yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch và không bắt buộc phải có kháng
insulin hoặc bất thường glucose máu, mặc dù bất thường về glucose máu là
một trong các tiêu chí để chẩn đoán hội chứng chuyển hóa. Tiêu chuẩn hội
chứng chuyển hóa của ATP III đã được cập nhật vào năm 2005 , . Những
điểm cập nhật là:
8
- Hạ thấp ngưỡng của glucose máu lúc đói xuống 5,6mmol/l (100 mg/dl),
theo cập nhật của ADA về định nghĩa suy giảm glucose máu lúc đói (IFG) (giá
trị ngưỡng glucose máu lúc đói theo tiêu chuẩn năm 2001 là 6,1 mmol/l).
- Bao gồm cả đái tháo đường trong tiêu chí tăng glucose máu.
- Điều trị rối loạn lipid và tăng huyết áp cũng được coi là một trong các
tiêu chí về tăng huyết áp và rối loạn lipid máu.
1.1.2.4. Tiêu chuẩn của các nhà Nội tiết học Lâm sàng Mỹ (AACE-American
Association of Clinical Endocrinologists)
Hội chứng kháng Insulin được xác định dựa vào các yếu tố .
Thừa cân / béo phì: BMI ≥ 25kg/m2, hoặc vòng eo > 94 cm đối
với nam, > 80 cm đối với nữ hoặc
Triglycerides: ≥ 150 mg/dl (1,7mmol/l)
HDL cholesterol thấp: Nam: < 1,03mmol/l (40mg/dl), Nữ :
130/85mmHg
Glucose máu:
Tăng triglycerid máu :
TG ≥ 1,7mmol/l (150mg/dl) hoặc
Đã điều trị các rối loạn lipid máu bằng thuốc.
Giảm HDL-cholesterol máu:
Nam:
**
Trung Quốc
Nhật Bản
Nam
≥ 94
Nữ
≥ 80
Nam
≥ 90
Nữ
≥ 80
Nam
≥ 90
Nữ
≥ 80
Tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH của Liên đoàn đái tháo đường quốc tế
(IDF -International Diabetes Federation) đã được đưa ra vào năm 2005 . Béo
trung tâm là một tiêu chí bắt buộc trong tiêu chuẩn này, biểu hiện qua số đo
vòng eo. Số đo này khác nhau theo các dân tộc và khi đánh giá phải dựa vào
tiêu chuẩn sinh lý của chính quần thể của quốc gia đó. Tiêu chuẩn của IDF
một lần nữa xem béo trung tâm có tương quan rất rõ với kháng insulin, do đó
không cần phải xét nghiệm tốn kém để đánh giá kháng insulin.
Bảng 1.2. Tóm tắt các tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH theo các tổ chức khác nhau
Tiêu chí
NCEP ATP III
IDF 2005
EGIR 1999
WHO 1999
AACE 2003
11
2005
Bắt buộc
Các tiêu
chí bất
thường
cm (nam) hoặc ≥
88 cm (nữ)
Huyết áp
≥ 130/85 mmHg
hoặc điều trị
THA
Vòng eo ≥ 90
cm (nam) hoặc
≥80 cm (nữ)
Kháng
insulin hoặc
tăng insulin
máu
Kháng insulin
hoặc ĐH lúc đói
≥ 6,1 mmol/l
hoặc ĐH 2h ≥
7,8 mmol/l hoặc
Đái tháo đường
typ 2
Và ≥ 2 của các
tiêu chí sau
Và ≥ 2 của
hoặc
BMI ≥25
Hoặc
Vòng eo ≥ 102
cm(nam) hoặc
≥ 88 cm (nữ)
Và ≥ 2 của các
tiêu chí sau
6,1 – 6,9
mmol/l
6,1 -6,9
mmol/l;
Đường huyết
2h 7,8-11
mmol/l
< 1mmol/l
dương tính
1.1.3. Tình hình nghiên cứu về HCCH
bài xuất
albumin niệu
≥ 20µg/phút
hoặc tỷ lệ
albumin/creati
nin niệu ≥ 30
mg/g
≥ 130/85
mmHg
12
Trên thế giới đã có khá nhiều nghiên cứu xác định tỷ lệ HCCH ở các
quần thể dân cư khác nhau. Theo tiêu chuẩn của NCEP thì HCCH được ước
tính là 24% người trưởng thành ở Mỹ, trong đó tỷ lệ này ở người độ tuổi trên
50 tuổi chiếm tới 44%. Với định nghĩa của WHO, HCCH có mặt 7 - 36% đàn
ông Châu Âu và 5-22% phụ nữ tuổi 40-55 , .
Nghiên cứu tại Hồng Kông đã xác định tỷ lệ HCCH ở các đối tượng
trong độ tuổi lao động theo 3 tiêu chuẩn chẩn đoán của WHO, NCEP và
EGIR. Kết quả cho thấy, tỷ lệ mắc HCCH dao động từ 6,1 đến 13,4% tùy theo
tiêu chuẩn chẩn đoán. Tỷ lệ mắc tăng dần theo tuổi và có sự khác biệt giữa
nam và nữ. Ở các nhóm tuổi dưới 50, HCCH gặp ở nam nhiều hơn nữ nhưng
từ lứa tuổi 50 trở đi thì nữ lại gặp nhiều hơn nam .
Một nghiên cứu khác ở Hồng Kông cho biết tỷ lệ mắc tăng từ 3,1% ở lứa
HDL-C thấp gặp nhiều nhất (37%). Nghiên cứu Hội chứng chuyển hóa ( theo
tiêu chuẩn của NCEP-ATP III) ở cán bộ, công chức cơ quan tỉnh Hà Nam của
Trần Thị Phượng và Hoàng Trung Vinh đã cho thấy tỷ lệ chung của HCCH là
28,3%, trong đó 66,33% trường hợp với 3 chỉ tiêu, 26,63% với 4 chỉ tiêu và
7,04% với 5 chỉ tiêu . Theo nghiên cứu của Viện dinh dưỡng Việt Nam ở 620
đối tượng tuổi từ 25-64 cho thấy tỷ lệ mắc HCCH là 13,1%, riêng tại Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh là 18% . Một số nghiên cứu khác cũng xác định tỷ lệ
mắc HCCH ở bệnh nhân tăng huyết áp điều trị tại bệnh viện , .
Mặt khác, chúng tôi nhận thấy chưa có nhiều nghiên cứu về HCCH ở đối
tượng tiền ĐTĐ, đặc biệt là nghiên cứu trên cộng đồng dân cư. Do đó, nghiên
cứu về HCCH ở nhóm người tiền đái tháo đường cũng như việc phát hiện và
quản lý tốt những đối tượng đó là việc rất cần thiết.
1.1.4. Vị trí của hội chứng chuyển hóa với bệnh đái tháo đường typ 2
Nhiều nghiên cứu tiến cứu đã cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa
HCCH và nguy cơ phát triển thành bệnh ĐTĐ typ2. Trong một phân tích gộp
của 16 nghiên cứu thuần tập đa dân tộc Earl S. Ford, Chaoyang Li cho biết
nguy cơ tương đối cuả sự tiến triển thành ĐTĐ 2 thay đổi từ 3,53 đến 5,17
tùy vào định nghĩa của HCCH cũng như quần thể nghiên cứu, trong đó theo IDF
nguy cơ này là 4,42, theo ATPIII nguy cơ này là 3,53. Lấy một ví dụ, nghiên
14
cứu của Robert L. Hanson, Giuseppina Imperatore cho thấy ở 890 đối tượng
Pima Indians không ĐTĐ, 144 đối tượng tiến triển thành bệnh ĐTĐ typ2 sau 4
năm theo dõi. Nguy cơ tương đối (RR) của HCCH và sự xuất hiện ĐTĐ là 2,1
theo tiêu chuẩn của ATPIII, và nguy cơ này là 3,6 theo tiêu chuẩn của WHO. Sự
khác biệt này nhấn mạnh vai trò quan trọng của kháng insulin (một tiêu chuẩn
bắt buộc trong định nghĩa HCCH của WHO) trong sinh bệnh học của ĐTĐ typ2.
Nhiều nghiên cứu khác đã cho thấy, nguy cơ tiến triển thành ĐTĐ tăng khi số
phát triển và tăng 20% ở các nước phát triển . Tại Việt Nam, điều tra dịch tễ năm
2002 tỷ lệ Đái tháo đường trong cả nước là 2,7%, ở khu vực thành phố là 4,4%,
ở miền núi và trung du là 2,1% và ở đồng bằng là 2,7% .
1.2.3. Chẩn đoán
Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường hiện nay, được Hiệp hội Đái
tháo đường Mỹ kiến nghị năm 1997 và được nhóm các chuyên gia về bệnh
Đái tháo đường của WHO công nhận vào năm 1998, tuyên bố áp dụng vào
năm 1999 .
Bệnh đái tháo đường được chẩn đoán khi có một trong 3 tiêu chuẩn sau:
Một mẫu glucose huyết tương bất kỳ ≥11,1 mmol/l (200 mg/dl) kết hợp
với các triệu chứng của đái tháo đường.
Mức glucose huyết tương lúc đói ≥ 7,0 mmol/l (126 mg/dl).
Mức glucose huyết tương ≥ 11,1 mmol/l (200 mg/dl) ở thời điểm 2 giờ
sau uống 75 g glucose (loại anhydrous) hoặc 82,5 gam glucose (loại
monohydrat) (nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống).
1.2.4. Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống
Đối tượng điều tra được hướng dẫn để tuân thủ buổi sáng tiến hành
xét nghiệm glucose máu thì nhịn ăn tuyệt đối và sau buổi ăn tối hôm trước
thì không ăn thêm gì. Sau khi xét nghiệm mẫu một, đối tượng được uống
250 ml nước lọc có pha 75 g glucose khan (uống hết dung dịch đường
trong vòng 5 phút), sau khi uống dung dịch đường, đối tượng nghỉ ngơi tại
chỗ, không ăn, uống gì thêm và chờ đúng 120 phút sau để xét nghiệm
glucose máu lần hai.
16
1.3. Tiền đái tháo đường
1.3.1. Khái niệm
Ngày nay, tiền đái tháo đường được hiểu là tình trạng suy giảm chuyển
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu
Những người tuổi từ 30 – 69 được chẩn đoán tiền đái tháo
Đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
Các đối tượng đã được chẩn đoán đái tháo đường từ trước thời điểm
nghiên cứu hoặc đang sử dụng thuốc hạ đường huyết.
Các đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu
Phụ nữ đang mang thai.
Đang bị các bệnh cấp tính.
Các đối tượng không thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn
2.1.3. Thời gian nghiên cứu
Tháng 12/ 2011 – 12/2012
2.1.4. Địa điểm nghiên cứu
Thành phố Ninh Bình và Thị xã Tam Điệp.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.2.2. Chọn mẫu
Những người được phát hiện tiền ĐTĐ trong một dự án Quốc tế do
Viện ĐTĐ và Rối loạn chuyển hóa thực hiện tại Ninh Bình thỏa mãn tiêu
chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ.
2.2.3. Các bước tiến hành thu thập thông tin
2.2.3.1. Phỏng vấn đặc điểm thông tin đối tượng:
- Tuổi, giới, nghề nghiệp
- Tiền sử bản thân: tiền sử tăng huyết áp, đái tháo đường.
18
19
Cách đo: Đối tượng điều tra được nghỉ ngơi trước khi đo ít nhất 15 phút,
nằm ngửa, nới rộng quần áo, nằm im không cử động, không nói chuyện, cánh
tay trái hoặc phải dang ra một góc khoảng 75o.
2.2.3.3. Các xét nghiệm cận lâm sàng
Đối tượng nghiên cứu được tư vấn kỹ để tuân thủ đảm bảo là nhịn ăn từ
21 giờ tối hôm trước và sáng hôm sau (ngày lấy máu xét nghiệm) cũng nhịn
đói để đánh giá đường huyết lúc đói, đường huyết sau 2 giờ làm nghiệm pháp
tăng đường huyết (Bằng phương pháp xét nghiệm đường máu mao mạch, sử
dụng máy Onetouch Ultra của hãng Life Style) cũng như các chỉ số sinh hóa
máu khác. Đối với những đối tượng nếu không tuân thủ theo đúng hướng dẫn
thì cho về hẹn ngày hôm sau hoặc không làm xét nghiệm.
Đối tượng nghiên cứu được lấy máu tĩnh mạch buổi sáng lúc đói để
đánh giá các chỉ số hóa sinh. Các xét nghiệm hóa sinh máu này (lipid máu –
HDL-C, Triglycerid) được thực hiện trên máy hóa sinh tự động Cobas C 311
của Roche, Hitachi và được xét nghiệm tại cơ sở xét nghiệm của Viện Đái tháo
đường và Rối loạn chuyển hóa.
2.2.4. Các tiêu chuẩn đánh giá được sử dụng trong nghiên cứu
2.2.4.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng chuyển hóa của ATP III thuộc
chương trình giáo dục về Cholesterol quốc gia của Mỹ (NEPT – National
Cholesterol Education Program) – 2005
Hội chứng chuyển hóa được xác định khi có bất kỳ 3 trong 5 tiêu chí
sau , :
Tăng vòng eo: Nam: ≥ 102cm , Nữ: ≥ 88 cm
Tăng triglycerid khi: TG ≥ 1,7mmol/l (150mg/dl)
Giảm HDL-cholesterol khi : Nam :
Nam:
thời điểm 2 giờ của nghiệm pháp dung nạp glucose < 7,8 mmol/l.
- Suy giảm glucose máu lúc đói kết hợp rối loạn dung nạp glucose ( IFG
22
kết hợp IGT): nếu mức glucose huyết tương lúc đói từ 5,6 đến 6,9 mmo/l và
glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ của nghiệm pháp dung nạp glucose từ
7,8 đến 11mmol/l.
2.2.4.5. Đánh giá chỉ số BMI, vòng eo
Dựa theo tiêu chuẩn của WHO 2000 áp dụng cho người trưởng thành
Châu Á , [1].
• Chỉ số BMI được tính theo công thức
BMI = Cân nặng (kg)/(Chiều cao)2 (m)
Bảng 2.1. Bảng đánh giá BMI áp dụng cho người Châu Á
BMI (kg/m2)
< 18,5
18,5 - 22,9
23 - 24,9
≥ 25
Phân loại
Thiếu cân
Bình thường
Thừa cân
Béo phì
2.2.4.6. Đánh giá chỉ số huyết áp theo JNC VII
Bảng 2.2. Bảng phân loại huyết áp theo JNC VII – 2003
Phân loại
Phương pháp
thu thập
Tuổi
Tuổi tính theo năm
Hỏi
Giới
Nam/Nữ
Hỏi
Chiều cao (cm)
Chiều cao bệnh nhân tính theo cm
Đo
Cân nặng (kg)
Cân nặng bệnh nhân tính theo kg
Cân
BMI
Cân nặng/(Chiều cao)2 (kg/m2)
Đo
Glucose máu khi BN nhịn ăn > 8 giờ
(mmol/l)
Glucose máu 2 giờ sau NPTĐH
(mmol/l)
Xét nghiệm
Xét nghiệm
TG
Nồng độ TG trong máu (mmol/l)
Xét nghiệm
HDL-C
Nồng độ HDL-C trong máu (mmol/l)
Xét nghiệm
2.2.6. Các biện pháp khống chế sai số
Sử dụng 1 mẫu phiếu điều tra nghiên cứu chi tiết, đầy đủ
Tập huấn kỹ cho cộng tác viên quy trình thu thập số liệu.
24
Kết luận
1. Tỷ lệ HCCH theo ATP III, IDF
2. Tần suất các tiêu chí HCCH
Kiến nghị