1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y
PHẠM THÚY HƯỜNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HỘI CHỨNG
CHUYỂN HÓA THEO CÁC TIÊU CHUẨN KHÁC NHAU
Ở NGƯỜI TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ KẾT QUẢ
CAN THIỆP CỘNG ĐỒNG
Chuyên ngành : Nội tiết
Mã số
: 62.72.01.45
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1.
PGS.TS. Tạ Văn Bình
HÀ NỘI – 2018
2
MỤC LỤC
HQCT
LDL-C
IDF
IFG
IGT
NCEP ATPIII
RLDNG
RLLM
RLLP
RLGLĐ
THA
TĐTĐ
TG
TS
YTNC
WHO
American Diabetes Association
American Association of Clinical Endocrinologists
Body Mass Index
Cộng tác viên
Đái tháo đường
Đường huyết lúc đói
Đường huyết sau 2 giờ
Đối tượng nghiên cứu
European group for the study of insulin resistance
Huyết áp
Huyết áp tâm thu
Huyết áp tâm trương
Hội chứng chuyển hóa
Tên biểu đồ
Trang
DANH MỤC TÊN HÌNH ẢNH
Hình
Tên hình
Trang
DANH MỤC TÊN SƠ ĐỒ
Sơ đồ
Tên sơ đồ
Trang
5
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng chuyển hoá (HCCH) là một tập hợp một số yếu tố nguy
cơ (YTNC) tim mạch và chuyển hóa. Các yếu .nj8t6dxtố thường xuyên
xuất hiện trong HCCH bao gồm: Rối loạn dung nạp glucose (RLDNG),
béo phì đặc biệt là béo bụng, rối loạn lipid (RLLP) gây xơ vữa động
mạch, tăng huyết áp (THA) [34], [41]. Các yếu tố nguy cơ này nếu kết
hợp với nhau sẽ làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch, đái tháo đường (ĐTĐ)
týp 2 và một số bệnh liên quan đến chuyển hóa khác.
Hiện nay có nhiều hiệp hội và các tổ chức đưa ra tiêu chuẩn khác nhau
thuật. Việt Nam là quốc gia đang phát triển nên cũng có các yếu tố làm
gia tăng hội chứng chuyển hóa và tiền đái tháo đường. T heo nghiên cứu
của Tran Q.B, Pham T.P và cộng sự điều tra tại đồng bằng sông Hồng ở 2443
đối tượng ghi nhận tỷ lệ hội chứng chuyển hóa là 16,3% [119]. Nghiên cứu của
Le N.T.D.S, Kunii S. và cộng sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ hội chứng
chuyển hóa là 12% [95].
Trên thế giới có nhiều tổ chức khác nhau đưa ra các tiêu chuẩn chẩn đoán
hội chứng chuyển hóa và tỷ lệ cũng thay đổi theo từng tiêu chuẩn. Tại Việt Nam
nên sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán nào để xác định hội chứng chuyển hóa ở
người tiền đái tháo đường, đây vẫn là câu hỏi mang tính thời sự. Chính vì vậy,
việc khảo sát hội chứng chuyển hóa ở người tiền đái tháo đường cần thiết, làm
cơ sở áp dụng các biện pháp can thiệp nhằm giảm sự tiến triển của hội chứng
chuyển hóa và tiền đái tháo đường sang các giai đoạn tiếp theo.
Ninh Bình là tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ bao gồm cả vùng đồng
bằng và bán sơn địa, vừa có công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, có sự chuyển
đổi ngành nghề, do vậy việc nghiên cứu tiến hành tại Ninh Bình sẽ cung cấp
số liệu đại diện cộng đồng sống ở vùng đồng bằng trung du Bắc bộ.
Đề tài“Nghiên cứu đặc điểm hội chứng chuyển hóa theo các tiêu
chuẩn khác nhau ở người tiền đái tháo đường và kết quả can thiệp cộng
đồng” nhằm mục tiêu sau:
1.
Nghiên cứu tỷ lệ, đặc điểm hội chứng chuyển hoá theo tiêu chuẩn của IDF, NCEP-
ATP III, EGIR, AACE ở người tiền đái tháo đường tại tỉnh Ninh Bình (2011-2012).
2. Đánh giá hiệu quả can thiệp tại cộng đồng sau 2 năm ở người tiền đái
tháo đường tại Ninh Bình (2012-2014).
7
tuổi ghi nhận tỷ lệ TĐTĐ là 15,5% (nam giới: 16,1%; nữ 14,9%) tương đương
148,2 triệu người (76,1 triệu nam giới; 72,1 triệu nữ giới) [129]. Ở khu vực
Châu Á, Deepa M., Grace M. và cộng sự khảo sát ở 3 thành phố lớn tại Châu
á với cõ mẫu 16.288 đối tượng trên 20 tuổi (Chennai: 6906, Delhi: 5365,và
Karachi: 4017) cho thấy tỷ lệ tiền đái tháo đường tại Chennai là: 17,6%;
Delhi: 33,7% và Karachi: 14,6%. Tỷ lệ TĐTĐ cao ở nhóm 20 -24 tuổi sau đó
giảm và ổn định ở độ tuổi sau 45 tuổi tại thành phố Chennai, Delhi và sau 55
tuổi ở Karachi. Tỷ lệ TĐTĐ tương đương ở cả 2 giới theo các nhóm tuổi và tỷ
lệ này ở nữ cao hơn nam ở thành phố Chennai [58]. Năm 2016 Kumar A.,
Wong R. và cộng sự báo cáo kết quả điều tra ở những người lớn tại Mexico
ghi nhận tỷ lệ TĐTĐ tại cộng đồng là 44,2%, tỷ lệ bệnh ĐTĐ không được
chẩn đoán là 18,0% và tỷ lệ bệnh ĐTĐ là 21,4% [92].
Tại Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về bệnh ĐTĐ và TĐTĐ, từ năm
2011 đến 2013 Pham N.M và cộng sự điều tra tại cộng đồng ở phía Bắc Việt
Nam với số đối tượng tham gia điều tra là 5602 nam và 10680 nữ cho thấy tỷ
lệ TĐTĐ là 13,5%, bệnh ĐTĐ là 6,0%, với sự gia tăng dân số ước tính đến
năm 2035 thì tỷ lệ TĐTĐ 15,7% và tỷ lệ bệnh ĐTĐ 7,0% [104]. Năm 2011
Đỗ Thanh Bình và cộng sự điều tra cắt ngang tại 30 xã tỉnh Quảng Bình với
2119 đối tượng tham gia nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc TĐTĐ là: 14,87%
(Rối loạn dung nạp glucose: 8,4%; rối loạn glucose máu lúc đói: 6,47%) [3].
Năm 2011 tại tỉnh Quảng Ngãi, Phạm Hồng Phương và cộng sự điều tra 2033
đối tượng độ tuổi 30 - 69 ghi nhận tỷ lệ mắc TĐTĐ là 21,4% (nam: 20,5% và
nữ: 22,3%) [26]. Năm 2014, Nguyễn Thị Thanh Thuần và cộng sự báo kết quả
nghiên cứu thực trạng ĐTĐ, TĐTĐ ở người trung niên và cao tuổi tại Thái
Nguyên. Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang được điều tra 2678 đối tượng từ
45 đến 69 tuổi có các YTNC cao mắc bệnh ĐTĐ ghi nhận tỷ lệ RLDNG là
9
* Nguồn: Theo Bộ y tế (2015) [11]
Tiêu chuẩn chẩn đoán TĐTĐ theo WHO năm 2010 là một trong những
tiêu chuẩn được sử dụng rộng rãi trên thế giới, có nhiều ưu điểm và nhược
điểm, chỉ sử dụng kết quả glucose máu, không nhất thiết phải làm xét nghiệm
HbA1c, chỉ số glucose máu để chẩn đoán TĐTĐ ở giới hạn cao hơn các tiêu
chuẩn khác nên việc sàng lọc các đối tượng tại cộng đồng sẽ ít hơn dẫn đến
chi phí cho thực hiện tại cộng đồng sẽ giảm và phù hợp với các nước nghèo
và các nước đang phát triển.
10
Bảng 1.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán tiền đái tháo đường của ADA năm 2010
Biểu hiện
HbA1c (%)
Tiêu chuẩn
5,7 - 6,4%
Rối loạn glucose máu lúc đói
5,6 - 6,9 mmol/l
(sau ăn 8 giờ)
Rối loạn dung nạp glucose- IGT
(110 - 125 mg/dl)
(glucose huyết tương sau 2 giờ làm nghiệm
- Tiền sử THA hoặc đang điều trị THA.
- Tiền sử bệnh lý mạch máu.
- Tiền sử RLLP: HDL-C < 35 mg/dl và/hoặc triglycerid > 250mg/dl.
- Biện hiện kháng insulin: vòng eo > 90 cm ở nam, > 80 ở nữ.
- Phụ nữ có hội chứng buồng trứng đa nang.
- Tiền sử ĐTĐ thai kỳ hoặc sinh con nặng > 3,5 kg.
* Dư cân: Béo phì là biểu hiện đặc trưng bởi sự tăng khối mỡ thường
biểu hiện tăng triglycerid dưới dạng mô mỡ [27], [33]. Ở người béo phì, mỡ
phân phối ở bụng nhiều dẫn đến tỷ lệ vòng bụng /vòng mông tăng hơn bình
thường. Béo bụng có liên quan chặt chẽ với hiện tượng kháng insulin do thiếu
hụt sau thụ thể, dẫn đến sự thiếu insulin tương đối do giảm số lượng thụ thể ở
mô ngoại vi (chủ yếu mô cơ, mô mỡ). Do kháng insulin cộng với giảm tiết
insulin dẫn đến giảm tính thấm màng tế bào với glucose ở tổ chức cơ và mỡ,
ức chế quá trình phosphoryl hoá và oxy hoá glucose, làm chậm quá trình
chuyển carbohydrate thành mỡ, giảm tổng hợp glycogen ở gan, tăng tân tạo
đường mới, dễ dẫn đến tiền đái tháo đường và sau đó là bệnh ĐTĐ xuất hiện.
Các kết quả nghiên cứu dịch tễ học từ năm 2003 đến 2004 cho thấy
khoảng 32% người Mỹ trưởng thành mắc béo phì và khoảng 34% số
người khác thừa cân [36].
Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Trần Đức Thọ và cộng sự cho
thấy những người có BMI > 25 kg/m 2 có nguy cơ bị bệnh ĐTĐ týp 2 nhiều
hơn gấp 3, 74 lần so với người bình thường. Theo nghiên cứu của Thái Hồng
Quang ở những người béo phì độ 1 tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tăng lên 4 lần, béo
phì độ 2 tăng lên gấp 30 lần so với người bình thường. Có khoảng 70 - 80%
12
người bệnh ĐTĐ týp 2 bị béo phì. Béo phì là một trong những nguy cơ
có thể phòng tránh. Nghiên cứu của Hu F.B. và cộng sự năm 1980 - 1986
glucose theo chiều hướng tốt. Chế độ ăn nhiều xơ, ăn ngũ cốc ở dạng chưa
tinh chế (khoai, củ), nhiều rau làm giảm nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ.
* Stress gắn liền với lối sống hiện đại hóa: Các nghiên cứu khác nhau
trên thế giới cho thấy bệnh ĐTĐ tăng nhanh ở những nước đang phát triển, có
tốc độ đô thị hoá nhanh. Đó cũng là những nơi đang có sự chuyển tiếp về dinh
dưỡng, lối sống. Ví dụ: tỷ lệ bệnh ĐTĐ ở Trung Quốc nói chung là 2% trong
khi đó người Trung Quốc sống ở Mauritius có nền kinh tế rất phát triển tỷ lệ
mắc bệnh là 13%.
Khả năng tiến triển thành bệnh ĐTĐ týp 2 của những người RLDNG là
rất cao. Theo Harris M.I và cộng sự nghiên cứu năm 1989 ở Mỹ cho thấy, tỷ
lệ RLDNG gặp khá nhiều và tăng dần theo tuổi ở người da trắng và nam giới
da đen nhưng giảm ở phụ nữ da đen trên 54 tuổi, có thể do tỷ lệ béo bụng ở
phụ nữ da đen cao làm xuất hiện sớm bệnh ĐTĐ ở người có RLGLĐ [79].
Theo Saad M.F. và cộng sự RLDNG có nguy cơ phát triển thành bệnh ĐTĐ
týp 2 cao gấp 6,3 lần so với người bình thường [111]. Điều chỉnh chế độ ăn,
sinh hoạt và tăng cường hoạt động thể lực ở những người có RLDNG vẫn là
cách dự phòng bệnh ĐTĐ có hiệu quả nhất.
1.1.4. Tiến triển và điều trị tiền đái tháo đường
1.1.4.1. Tiến triển tiền đái tháo đường
Tiền ĐTĐ là tình trạng trung gian giữa ĐTĐ týp 2 và biểu hiện glucose
máu ở mức bình thường. Trong trường hợp không được phát hiện và can
thiệp, bệnh thường diễn biến đến ĐTĐ thực sự. Tình trạng bắt đầu tăng
glucose máu ở người TĐTĐ sẽ diễn biến đồng thời với thương tổn chức năng
tế bào β và tăng đề kháng insulin ở ngoại vi sẽ gia tăng nguy cơ biến chứng
tim mạch. Thương tổn tim mạch có thể xẩy ra nhiều năm trước khi biểu hiện
lâm sàng của bệnh ĐTĐ. Khi kiểm soát glucose máu sớm chức năng tế bào β
sẽ được bảo vệ và góp phần làm giảm biến chứng tim mạch [14].
14
15
TĐTĐ như thay đổi lối sống, giảm cân hoặc sử dụng thuốc (metformin,
arcabose,…) với mục đích giảm tỷ lệ mắc bệnh tim mạch và bệnh ĐTĐ.
* Thay đổi lối sống: Hoạt động thể lực là yếu tố quan trọng giúp giảm
các YTNC mắc bệnh mạn tính. Hoạt động thể lực đã được chứng minh làm
giảm nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ týp 2, có nhiều bằng chứng rất có ích với các
đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh ĐTĐ. Warburton D.R. đã chứng minh
hoạt động thể lực giúp giảm 6% nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ týp 2. Nhiều nghiên
cứu đã chứng minh tỷ lệ bệnh ĐTĐ týp 2 giảm rõ rệt ở những người có nguy
cơ cao sau can thiệp bằng lối sống [123]. Người TĐTĐ nếu không được can
thiệp thì 37% sẽ trở thành bệnh ĐTĐ sau 4 năm, việc can thiệp bằng lối sống
sẽ giảm 20% nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ týp 2 [121]. Trong Chương trình phòng
chống bệnh ĐTĐ những đối tượng hoạt động thể lực khoảng 30 phút mỗi
ngày giảm 5% đến 7% trọng lượng có thể sẽ giảm 58% nguy cơ mắc bệnh
ĐTĐ týp 2 [91]. Giảm cân đã được chứng minh làm chậm tiến triển thành bệnh
ĐTĐ đặc biệt ở những đối tượng béo phì [114]. Một nghiên cứu khoảng trên
43581 phụ nữ tham gia vào nghiên cứu Nurses’ Health Study đã cung cấp các
thông tin về vòng eo, vòng hông và cân nặng đưa ra kết luận rằng chỉ số BMI,
vòng bụng, vòng hông là công cụ hữu ích để nhân viên y tế tư vấn cho bệnh
nhân nhằm giảm thiểu nguy cơ tiến triển thành bệnh ĐTĐ không phụ thuộc
insulin [52]. Một nghiên cứu trên khoảng 100.000 nữ y tá ở độ tuổi 30 đến 55
tuổi cho thấy mối liên quan giữa cân nặng và yếu tố nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ đã
ghi nhận trong 10 năm những phụ nữ giảm 5kg sẽ giảm 50% nguy cơ mắc bệnh
ĐTĐ, giảm 5 kg – 7,9 kg sẽ giảm khoảng 1,9 lần nguy cơ mắc bệnh, những
người giảm 8 kg – 10,9 kg sẽ giảm khoảng 2,7 lần nguy cơ mắc bệnh [72].
* Sử dụng thuốc: Năm 2002, Knowler W.C. và cộng sự đã đưa ra
những bằng chứng cho thấy lợi ích của sử dụng thuốc để ngăn ngừa bệnh
ĐTĐ từ những người TĐTĐ. Nhóm biguanide trong đó metformin được xác
năm phẫu thuật giảm được 16.9% thể trọng; BMI giảm từ 42.24 ± 3.43 xuống
34.65 ± 4.58 kg/m2; 53.5% có glucose bình thường trước can thiệp; 4.6%
17
RLGM lúc đói; 27.9% RLDNG; 23% phối hợp cả 2; 11.6% ĐTĐ týp 2. Sau 1
năm có 86% trường hợp glucose máu bình thường; 2.3% RLGM lúc đói;
11.6% RNDNG; không có trường hợp nào phối hợp cả 2 trạng thái; không có
bệnh nhân ĐTĐ týp 2 [96]. Một nghiên cứu ở Thụy Điển đưa ra kết luận,
phẫu thuật giảm cân dường như có hiệu quả hơn so với chăm sóc thông
thường giúp giảm tỷ lệ ĐTĐ týp 2 ở người béo phí [53].
1.2. HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA
1.2.1. Dịch tễ học hội chứng chuyển hóa
Trong những năm gần đây, thuật ngữ Hội chứng chuyển hóa (HCCH)
được đề cập và quan tâm nhiều hơn, bản chất của HCCH là tập hợp các yếu tố
nguy cơ tim mạch và rối loạn chuyển hóa [34]. Tùy từng Hiệp hội đã đưa ra
những tiêu chuẩn khác nhau để xác định HCCH theo những mục tiêu nghiên
cứu của riêng mình như WHO, IDF, NCEP-ATPIII …
HCCH được biết đến rất sớm từ những năm 1920, Morgagni là người
đầu tiên mô tả các dấu hiệu của hội chứng này, thuật ngữ “Hội chứng chuyển
hóa” quay trở lại vào cuối thế kỷ 20 và phổ biến vào những năm 70 của thế kỷ
20. Các thuật ngữ "Hội chứng chuyển hóa", "Hội chứng kháng insulin", và
"Hội chứng X" bây giờ được sử dụng đặc biệt để xác định một nhóm các
yếu tố bất thường liên quan với tăng nguy cơ cho sự phát triển của bệnh
ĐTĐ và bệnh xơ vữa động mạch (bệnh tim mạch và đột qụy).
Ngày nay HCCH đang được sử dụng rộng rãi và được đề cập nhiều
trong các hội nghị y học Thế giới về ngăn chặn và phòng ngừa các bệnh
mạn tính không lây nhằm giảm tỷ lệ tử vong do các biến cố tim mạch gây
ra. Theo ước tính của IDF, hiện nay trên Thế giới có khoảng 20% – 25 % dân
chuẩn và 47,5% theo tiêu chuẩn của NCEP ATPIII điều chình trong đó nữ
67,0%, nam 33,0% [21]. Năm 2013 Võ Lê Diễm và cộng sự đã công bố kết
quả nghiên cứu tần suất và đặc điểm HCCH trong cộng đồng năm 2010, đây
là nghiên cứu mô tả cắt ngang với 1408 đối tượng trên 20 tuổi đang cư trú ở
19
Long An ghi nhận tỷ lệ mắc HCCH theo IDF, NCEP ATPIII và NCEP ATPIII
điều chình lần lượt là 10,4%; 12,4%; và 17,2%. Tỷ lệ mắc HCCH tăng dần
theo quá trình tích tuổi, nữ mắc cao hơn nam, các yếu tố thường gặp là tăng
triglycerid, giảm HDL-C[15]. Năm 2011, Viên Văn Đoan và cộng sự nghiên
cứu 132 bệnh nhân ĐTĐ được điều trị và theo dõi tại khoa khám bệnh Bệnh
viện Bạch Mai ghi nhận tỷ lệ HCCH theo WHO 1988 là 87,9% theo ATPIII là
80,3% [18].
1.2.2. Chẩn đoán hội chứng chuyển hóa
*Tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới 1999
Để chẩn đoán xác định có hội chứng chuyển hóa, buộc phải có tiêu chí
A (một trong 4 điểm của A) thêm vào từ 2 điểm trở lên của tiêu chí B.
+ Tiêu chí bắt buộc là kháng insulin (tiêu chí A): được xem là kháng
insulin khi có một trong các biểu hiện sau:
- ĐTĐ týp 2; Rối loạn dung nạp glucose máu; Suy giảm dung nạp
glucose lúc đói; Glucose máu bình thường nhưng có kháng insulin
(đánh giá bằng kỹ thuật kẹp insulin).
+ Các tiêu chí khác (tiêu chí B)
- THA tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc tâm trương ≥90mmHg
- Rối loạn lipid:
•
Triglycerid (≥1,7mmol/l;150mg/dl) và/hoặc
•
Nam:
Hoặc đã điều trị rối loạn chuyển hóa lipid.
- Béo bụng khi: vòng eo ≥ 94cm (đối với nam) và ≥ 80cm (đối với nữ).
Để chẩn đoán xác định phải có tăng insulin máu (tiêu chí A) với ít nhất
hai điểm của tiêu chí B.
Công bố định nghĩa của WHO về HCCH vào năm 1999, EGIR đưa ra một
phiên bản sửa đổi chỉ áp dụng cho những người không bị ĐTĐ, tiêu chuẩn của
EGIR dễ áp dụng hơn trong nghiên cứu dịch tễ vì không đòi hỏi kỹ thuật kẹp
glucose để đánh giá mức độ nhậy cảm của insulin. EGIR đã đề nghị sử dụng
nồng độ insulin lúc đói để đánh giá kháng insulin và áp dụng RLĐM lúc đói như
22
là một tiêu chuẩn thay thế cho RLDNG. Tiêu chuẩn của EGIR có sự thay đổi về
giá trị các chỉ số như THA, RLLP cũng như giá trị của vòng eo, đã sử dụng chu
vi vòng eo để đánh giá béo bụng. Hơn nữa, nếu một người đã được điều trị THA
hoặc RLLP được coi như có các bất thường tương ứng [4], [8], [74], [101].
* Tiêu chuẩn của NCEP-ATP III 2005 (chương trình giáo dục về Cholesterol
quốc gia của Hoa Kỳ)
Hội chứng chuyển hóa được xác định khi có bất kỳ 3 trong 5 tiêu chí sau.
+ Tăng vòng bụng:
-
Nam: ≥ 102 cm; Nữ: ≥ 88cm
+ Tăng triglycerid khi:
-
Hoặc điều trị tăng glucose máu.
Đối với người Châu Á, tiêu chuẩn tăng vòng bụng là: ≥ 90cm đối với
nam và ≥ 80 cm đối với nữ.
HCCH theo tiêu chuẩn ATP III vào năm 2001, tập trung chủ yếu vào
yếu tố nguy cơ tim mạch và không bắt buộc phải có kháng insulin hoặc bất
thường glucose máu, mặc dù bất thường về glucose máu vẫn là một trong
các tiêu chí để chẩn đoán HCCH. Tiêu chuẩn HCCH của ATP III đã được
cập nhật lại vào năm 2005. Những điểm cập nhật là:
23
- Hạ thấp ngưỡng của glucose máu lúc đói xuống 5,6mmol/l (100 mg/dl),
theo cập nhật của ADA về định nghĩa suy giảm glucose máu lúc đói (IFG) (giá
trị ngưỡng glucose máu lúc đói theo tiêu chuẩn năm 2001 là 6,1 mmol/l).
- Bao gồm cả ĐTĐ trong tiêu chí tăng glucose máu.
Điều trị rối loạn lipid và THA cũng được coi là một trong các tiêu chí
về THA và rối loạn lipid máu [8], [101].
* Tiêu chuẩn của các nhà Nội tiết học lâm sàng Mỹ (AACE).
HCCH được xác định khi có ít nhất một yếu tố chính và hai yếu tố phụ [4], [8].
+ Yếu tố chính:
- Thừa cân / béo phì: BMI ≥ 25kg/m2, hoặc vòng eo> 94 cm đối với
nam, > 80 cm đối với nữ hoặc
- Nguy cơ cao của tình trạng kháng insulin: khi có ít nhất một trong các
biểu hiện sau: được chẩn đoán bệnh mạch vành, hội chứng buồng trứng đa
nang, tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ týp 2, THA, mắc bệnh tim mạch,
tiền sử ĐTĐ thai kỳ hoặc RLDNG, không phải người da trắng, lối sống tĩnh
tại, tuổi > 40.
động thể lục thấp, nhiễm khuẩn mạn tính, rối loạn tâm thần và sử dụng rượu
quá mức cũng góp phần làm gia tăng HCCH. Đã có nhiều hội nghị đưa ra câu
hỏi liệu béo phì và kháng insulin có là nguyên nhân của HCCH hay là hậu quả
của rối loạn chuyển hóa chuyên biệt, đây vẫn là câu hỏi chưa có lời giải thích
thỏa đáng, cũng như một số yếu tố khác của hệ thống viêm bao gồm: Protein C
tăng, như fibrinogen, interleukin 6, yếu tố hoại tử khối u alpha (TNF Alpha)….
Một số nhà khoa học lại cho rằng có nhiều nguyên nhân gây ra HCCH trong đó
có tăng acid uric do chế độ ăn uống nhiều fructose.
Cuối cùng cũng đã có sự thống nhất giữa các nhà khoa học và cho rằng
môi trường thực phẩm hiện nay góp phần vào sự hình thành và phát triển của
HCCH. Chế độ ăn uống của chúng ta chưa phù hợp. Tăng cân có liên quan
với HCCH chứ không phải là béo phì toàn bộ, các thành phần cốt lõi lâm sàng
của hội chứng là béo nội tạng (tức là chất béo trong các cơ quan không được
thiết kế cho việc dự trữ chất béo) trong khi các bất thường chuyển hóa chính
là sự đề kháng insulin. Việc cung cấp năng lượng cho các hoạt động của cơ
thể được tạo ra từ quá trình oxy hóa các chất thông qua chế độ ăn uống bao
25
gồm carbohydrat, lipid, protein tại ty lạp thể của tế bào và các sản phẩm dư
thừa được tạo ra từ quá trình đó có mối liên quan đến rối loạn chức năng của
ty lạp thể và đề kháng insulin.
1.2.3.1. Kháng insulin
Tế bào β đảo tụy là nơi tiết ra insulin và insulin lưu hành trong máu đến
các tế bào đích truyền tín hiệu và thực hiện nhiệm vụ của mình, insulin là
hormone đóng vai trò quan trọng trong chuyển hóa carbonhydrat với cơ chất
chính là glucose, vì vậy khi có bất thường về insulin sẽ gây lên các rối loạn
trong chuyển hóa carbonhydrat. “Kháng insulin là một tình trạng (của tế bào,
cơ quan, hay cơ thể) cần một lượng insulin nhiều hơn bình thường để đạt