1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng chuyển hoá (HCCH) là một tập hợp một số yếu tố nguy
cơ (YTNC) tim mạch và chuyển hóa. Các yếu .nj8t6dxtố thường xuyên
xuất hiện trong HCCH bao gồm: Rối loạn dung nạp glucose (RLDNG),
béo phì đặc biệt là béo bụng, rối loạn lipid (RLLP) gây xơ vữa động
mạch, tăng huyết áp (THA) [34], [41]. Các yếu tố nguy cơ này nếu kết
hợp với nhau sẽ làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch, đái tháo đường (ĐTĐ)
týp 2 và một số bệnh liên quan đến chuyển hóa khác.
Hiện nay có nhiều hiệp hội và các tổ chức đưa ra tiêu chuẩn khác nhau
để chẩn đoán hội chứng chuyển hóa như: Tổ chức y tế Thế giới (WHO), Hiệp
hội đái tháo đường quốc tế (IDF), Nhóm nghiên cứu về kháng insulin Châu
Âu (EGIR), Hội các nhà nội tiết lâm sàng Mỹ (AACE) và Chương trình
giáo dục về cholesterol quốc gia của Hoa Kỳ (NCEP ATPIII) phù hợp với
điều kiện thực tế của từng vùng lãnh thổ, châu lục, chủng tộc,… Tỷ lệ hội
chứng chuyển hóa thay đổi khi sử dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán khác nhau.
Mỗi tiêu chuẩn tuy có các tiêu chí khác nhau nhưng đều phục vụ mục đích như
sàng lọc hoặc điều trị,dự phòng. Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng chuyển hóa
theo IDF, AACE và NCEP ATPIII nhằm mục đích sàng lọc hội chứng chuyển
hóa tại cộng đồng. Tiêu chuẩn của WHO và EGIR được gắn vào điều trị vì liên
quan đến cơ chế bệnh sinh là kháng insulin. Theo ước tính của Hiệp hội đái tháo
đường quốc tế, trên thế giới có khoảng 20% - 25% dân số mắc hội chứng chuyển
hóa [82]. Nghiên cứu của Ford E.S. tại Hoa kỳ, phân tích số liệu của 8814 đối
tượng trên 20 tuổi ghi nhận tỷ lệ hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn NCEP
ATPPIII ước tính ở người trưởng thành là trên 20% [67]. Theo Parika P.L.,
Eriksson J.G. và cộng sự, tỷ lệ hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn chẩn đoán
của WHO ở đối tượng tăng glucose máu lúc đói ở nam là 74%, ở nữ là 52,2%,
rối loạn dung nạp glucose tương ứng ở nam là 84,8%, ở nữ là 65,4% [102].
Tiền đái tháo đường (TĐTĐ) là tình trạng trung gian giữa bệnh lý và
bình thường. Người tiền đái tháo đường có nguy cơ cao chuyển thành đái
1.
Nghiên cứu tỷ lệ, đặc điểm hội chứng chuyển hoá theo tiêu chuẩn của IDF, NCEP-
ATP III, EGIR, AACE ở người tiền đái tháo đường tại tỉnh Ninh Bình (2011-2012).
2. Đánh giá hiệu quả can thiệp tại cộng đồng sau 2 năm ở người tiền đái
tháo đường tại Ninh Bình (2012-2014).
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. DỊCH TỄ HỌC, CHẨN ĐOÁN, YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ TIẾN TRIỂN
CỦA TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
1.1.1. Dịch tễ học tiền đái tháo đường
Tiền ĐTĐ là tình trạng suy giảm chuyển hóa glucose, bao gồm tăng giới
hạn glucose máu lúc đói và giảm dung nạp glucose, cả 2 tình huống này đều tăng
glucose máu nhưng chưa đạt mức chẩn đoán ĐTĐ thực sự. Tuy nhiên, ở giai
đoạn TĐTĐ đã xuất hiện tình trạng kháng insulin, là bước khởi đầu trong tiến
trình xuất hiện bệnh ĐTĐ typ 2 [14]. Những trường hợp này được phát hiện khi
tiến hành xét nghiệm glucose máu lúc đói hoặc làm nghiệm pháp dung nạp
glucose máu bằng đường uống hoặc đường tĩnh mạch. Trước đây người ta gọi
tình trạng này là “Đái tháo đường tiềm tàng”, “Đái tháo đường sinh hóa”, “Đái
tháo đường tiền lâm sàng” [7]. Năm 2009 WHO cùng các tổ chức y tế khác trên
Thế giới thống nhất và đưa ra khái niệm “Tiền đái tháo đường” để chỉ tình trạng
có rối loạn chuyển hóa glucose của cơ thể.
Có 3 hình thái tiền đái tháo đường đó là:
- Tăng glucose máu lúc đói.
- Rối loạn dung nạp glucose.
(Rối loạn dung nạp glucose: 8,4%; rối loạn glucose máu lúc đói: 6,47%) [3].
Năm 2011 tại tỉnh Quảng Ngãi, Phạm Hồng Phương và cộng sự điều tra 2033
đối tượng độ tuổi 30 - 69 ghi nhận tỷ lệ mắc TĐTĐ là 21,4% (nam: 20,5% và
nữ: 22,3%) [26]. Năm 2014, Nguyễn Thị Thanh Thuần và cộng sự báo kết quả
nghiên cứu thực trạng ĐTĐ, TĐTĐ ở người trung niên và cao tuổi tại Thái
Nguyên. Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang được điều tra 2678 đối tượng từ
45 đến 69 tuổi có các YTNC cao mắc bệnh ĐTĐ ghi nhận tỷ lệ RLDNG là
5
6,6%, RLGLĐ là 4,3%, tỷ lệ RLDNG tăng dần theo tuổi và cao nhất ở nhóm
65 - 69 tuổi là 9,4% [31].
1.1.2. Chẩn đoán tiền đái tháo đường
Tiền đái tháo đường trước đây người ta gọi tình trạng này là “Đái tháo
đường tiềm tàng”, “Đái tháo đường sinh hóa”, “Đái tháo đường tiền lâm
sàng” [7]. Năm 2009, WHO cùng các tổ chức y tế khác trên Thế giới thống
nhất và đưa ra khái niệm “tiền đái tháo đường” để chỉ tình trạng có rối loạn
chuyển hóa glucose của cơ thể. Có nhiều tổ chức khác nhau đưa ra các tiêu
chuẩn để xác định TĐTĐ, trong nghiên cứu của chúng tôi xin được giới thiệu
một số tiêu chẩn chẩn đoán TĐTĐ.
Bảng 1.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán tiền đái tháo đường của WHO năm 2010
Biểu hiện
Glucose máu
Rối loạn glucose máu lúc đói
6,1 - 6,9 mmol/l
Rối loạn glucose máu lúc đói
5,6 - 6,9 mmol/l
(sau ăn 8 giờ)
Rối loạn dung nạp glucose- IGT
(110 - 125 mg/dl)
(glucose huyết tương sau 2 giờ làm nghiệm
pháp dung nạp glucose đường uống)
7,8 - 11,0 mmol/l
(125 - 198 mg/dl)
* Nguồn: Theo American Diabetes Association 2010 [46]
Chúng ta thấy các tiêu chuẩn chẩn đoán TĐTĐ của WHO và ADA cũng
có những điểm khác biệt, vì vậy khi làm nghiên cứu hay khi sàng lọc trên
cùng một quần thể sẽ cho các kết quả khác nhau.
1.1.3. Yếu tố nguy cơ của tiền đái tháo đường
Tiền đái tháo đường thường xuất hiện ở những người có yếu tố nguy cơ
mắc dù không được coi là nguyên nhân nhưng TĐTĐ hay xuất hiện ở các đối
tượng dư cân, có cuộc sống tĩnh tại ít hoạt động thể lực và có chế độ ăn và tập
luyện không hợp lý.
Dựa vào các yếu tố nguy cơ của TĐTĐ đã được khẳng định, ADA năm
2012 đã nêu ra chỉ định chung để sàng lọc TĐTĐ và ĐTĐ týp 2.
+ Sàng lọc cho tất cả các đối tượng ≥ 45 tuổi có hay không có kèm theo
YTNC ít nhất 3 năm / lần.
+ Sàng lọc cho tất cả các đối tượng < 45 tuổi nếu có một hoặc nhiều
trong số các YTNC sau:
thấy những người có BMI > 25 kg/m 2 có nguy cơ bị bệnh ĐTĐ týp 2 nhiều
hơn gấp 3, 74 lần so với người bình thường. Theo nghiên cứu của Thái Hồng
Quang ở những người béo phì độ 1 tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tăng lên 4 lần, béo
phì độ 2 tăng lên gấp 30 lần so với người bình thường. Có khoảng 70 - 80%
8
người bệnh ĐTĐ týp 2 bị béo phì. Béo phì là một trong những nguy cơ
có thể phòng tránh. Nghiên cứu của Hu F.B. và cộng sự năm 1980 - 1986
thực hiện trên 84.941 phụ nữ không bị bệnh ĐTĐ tại thời điểm bắt đầu
nghiên cứu, kết quả cho thấy thừa cân và béo phì là nguy cơ số 1 gây
tình trạng TĐTĐ và là tiền đề cho sự phát triển thành bệnh ĐTĐ týp 2 sau
6 năm theo dõi [81].
* Hoạt động thể lực: Nhiều nghiên cứu khác nhau trên thế giới đã cho
thấy việc tập luyện thể lực thường xuyên có tác dụng giảm nhanh chóng nồng
độ glucose huyết tương ở người TĐTĐ và bệnh nhân ĐTĐ týp 2, đồng thời
giúp duy trì sự bình ổn của lipid máu, huyết áp, cải thiện tình trạng kháng
insulin và giúp cải thiện tâm lý. Sự phối hợp hoạt động thường xuyên và điều
chỉnh chế độ ăn có thể giúp làm giảm 58% tỷ lệ mới mắc ĐTĐ týp 2.
Đã có nhiều bằng chứng cho rằng hoạt động thể lực có rất nhiều lợi ích
trên chuyển hóa, trao đổi chất của một số mô và cơ quan bao gồm cả mô cơ
xương, mỡ, gan, tuyến tụy và cả não. Đã có nhiều nghiên cứu đưa ra việc đi bộ
nhanh khoảng 150 phút mỗi tuần giúp giảm nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ týp 2
khoảng 60% gấp 2 lần so với hiệu quả của can thiệp bằng metformin [109]. Có
nhiều loại hình hoạt động thể lực can thiệp ở đối tượng TĐTĐ nhưng hoạt động
đi bộ nhanh là một loại hình phù hợp nhất ở đối tượng thừ cân trung niên và
cao tuổi.
* Chế độ ăn: Kết quả nghiên cứu nhận thấy tỷ lệ bệnh ĐTĐ tăng cao
ở những người có chế độ ăn giàu chất béo bão hoà, nhiều carbohydrate tinh
máu ở mức bình thường. Trong trường hợp không được phát hiện và can
thiệp, bệnh thường diễn biến đến ĐTĐ thực sự. Tình trạng bắt đầu tăng
glucose máu ở người TĐTĐ sẽ diễn biến đồng thời với thương tổn chức năng
tế bào β và tăng đề kháng insulin ở ngoại vi sẽ gia tăng nguy cơ biến chứng
tim mạch. Thương tổn tim mạch có thể xẩy ra nhiều năm trước khi biểu hiện
lâm sàng của bệnh ĐTĐ. Khi kiểm soát glucose máu sớm chức năng tế bào β
sẽ được bảo vệ và góp phần làm giảm biến chứng tim mạch [14].
10
25% bình thường
Rối loạn dung nạpglucose
25% rối loạn dung nạp glucose
Sau 10 năm
50% đái tháo đường
Sơ đồ 1.1. Diễn biến tiền đái tháo đường [14]
* Nguồn: Theo tạp chí Nội tiết – Đái tháo đường 2011[14]
Người TĐTĐ là đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh ĐTĐ, hàng năm
có khoảng 5% đến 10% người TĐTĐ chuyển thành bệnh ĐTĐ và cũng một tỷ
lệ tương đương có glucose máu trở về bình thường [116]. Tuy vậy, trong thời
gian tồn tại của TĐTĐ thì vẫn có nguy cơ đối với sự xuất hiện các biến cố tim
mạch, biến chứng mắt, thận và hệ thần kinh thậm chí vẫn có thể xuất hiện
biến chứng thận dẫn đến tàn phế hoặc tử vong nhất là khi TĐTĐ tồn tại trong
khoảng thời gian dài kèm theo các YTNC. Nếu TĐTĐ tiến triển tự nhiên thì
tình trạng kháng insulin sẽ ngày càng gia tăng, chức năng tiết insulin của tế
bào β sẽ giảm và khi chức năng tiết insulin chỉ còn < 50 % sẽ xuất hiện ĐTĐ
týp 2. Ngược lại, nếu được áp dụng các biện pháp như tiết chế ăn uống, luyện
tập thể dục, sử dụng thuốc sẽ làm giảm được mức độ kháng insulin và nồng
vòng bụng, vòng hông là công cụ hữu ích để nhân viên y tế tư vấn cho bệnh
nhân nhằm giảm thiểu nguy cơ tiến triển thành bệnh ĐTĐ không phụ thuộc
insulin [52]. Một nghiên cứu trên khoảng 100.000 nữ y tá ở độ tuổi 30 đến 55
tuổi cho thấy mối liên quan giữa cân nặng và yếu tố nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ đã
ghi nhận trong 10 năm những phụ nữ giảm 5kg sẽ giảm 50% nguy cơ mắc bệnh
ĐTĐ, giảm 5 kg – 7,9 kg sẽ giảm khoảng 1,9 lần nguy cơ mắc bệnh, những
người giảm 8 kg – 10,9 kg sẽ giảm khoảng 2,7 lần nguy cơ mắc bệnh [72].
* Sử dụng thuốc: Năm 2002, Knowler W.C. và cộng sự đã đưa ra
những bằng chứng cho thấy lợi ích của sử dụng thuốc để ngăn ngừa bệnh
ĐTĐ từ những người TĐTĐ. Nhóm biguanide trong đó metformin được xác
12
định cho thấy lợi ích làm giảm tỷ lệ bệnh ĐTĐ mặc dù thấp hơn so với can
thiệp thiệp lối sống [91]. Metformin là thuốc an toàn, có đặc dụng làm giảm
BMI, lipid máu và kháng insulin [112]. Một số nghiên cứu cho thấy metformin
có lợi hơn ở nhóm người có BMI cao. Thiazolidinenediones (troglitazone,
rosiglitazone và pioglitazone) cũng đã được chứng minh làm giảm nguy cơ
mắc bệnh ĐTĐ ở những người có nguy cơ cao, tuy nhiên các yếu tố bất lợi như
nhiễm độc gan, tăng cân, phù và suy tim lại hay gặp [68], [130].
* Ngoại khoa: Dư cân, béo phì là yếu tố nguy cơ hàng đầu cho những rối
loạn chuyển hóa diễn ra ở bệnh nhân TĐTĐ. Ngoài các nguyên nhân liên quan
đến ăn uống, luyện tập chưa hợp lý thì còn yếu tố gen có thể dẫn đến dư cân, béo
phì mà các biện pháp được áp dụng phổ biến không thể điều chỉnh được. Trong
những trường hợp đó có thể phải áp dụng biện pháp can thiệp ngoại khoa. Can
thiệp ngoại khoa như là một biện pháp điều trị chỉ áp dụng cho đối tượng béo phì
có BMI > 35 kg/m2 mà không điều chỉnh được nếu chỉ áp dụng các biện pháp
như dinh dưỡng tiết chế, luyện tập thể lực và sử dụng thuốc. Mục tiêu điều trị
ngoại khoa béo phì là giảm khả năng hấp thu các chất ở dạ dày trong đó có
đầu tiên mô tả các dấu hiệu của hội chứng này, thuật ngữ “Hội chứng chuyển
hóa” quay trở lại vào cuối thế kỷ 20 và phổ biến vào những năm 70 của thế kỷ
20. Các thuật ngữ "Hội chứng chuyển hóa", "Hội chứng kháng insulin", và
"Hội chứng X" bây giờ được sử dụng đặc biệt để xác định một nhóm các
yếu tố bất thường liên quan với tăng nguy cơ cho sự phát triển của bệnh
ĐTĐ và bệnh xơ vữa động mạch (bệnh tim mạch và đột qụy).
Ngày nay HCCH đang được sử dụng rộng rãi và được đề cập nhiều
trong các hội nghị y học Thế giới về ngăn chặn và phòng ngừa các bệnh
mạn tính không lây nhằm giảm tỷ lệ tử vong do các biến cố tim mạch gây
ra. Theo ước tính của IDF, hiện nay trên Thế giới có khoảng 20% – 25 % dân
số mắc HCCH, tỷ lệ tử vong do nhồi máu cơ tim, đột quỵ não ở nhóm đối
tượng này cao gấp 2 đến 3 lần so với người không có HCCH [82]. Hiện nay,
có nhiều tổ chức đưa ra các tiêu chí khác nhau, tùy thuộc nhóm đối tượng để
14
xác định HCCH. Nghiên cứu của Ervin R.B. và cộng sự phân tích dữ liệu từ
3423 người lớn có độ tuổi trên 20 từ năm 2003 – 2006, sử dụng tiêu chuẩn
của NCEP ATPIII cho thấy khoảng 34% người mắc HCCH, nam và nữ ở
nhóm 40 đến 59 tuổi mắc HCCH cao gấp 3 lần so với nhóm 20 đến 39 tuổi, ở
nhóm trên 60 tuổi tỷ lệ nam cao hơn nữ khoảng 4 lần và cao hơn khoảng 6 lần
so với nhóm tuổi trẻ [62]. Một nghiên cứu tại Ấn Độ của Prasad D.S., và
cộng sự cỡ mẫu 1178 người từ 20 đến 80 tuổi được lựa chọn ngẫu nhiên từ 37
phường, xã tại Orissa - Ấn Độ, tỷ lệ mắc HCCH là 43,2%, ở nam 52,2% cao
hơn nữ 34,2% [107]. Năm 2005 Gu D., Reynolds K. và cộng sự công bố kết
quả nghiên cứu cắt ngang cỡ mẫu 15540 người có độ tuổi từ 35 đến 74 tuổi
trong 2 năm, sử dụng tiêu chuẩn theo NCEP ATPIII, thừa cân được xác định
khi BMI ≥ 25 kg/m2, cho thấy tỷ lệ HCCH là 9,8% ở nam và 17,8% ở nữ, tỷ
lệ thừa cân 26,9% ở nam và 31,1% ở nữ; tỷ lệ HCCH và thừa cân béo phì
insulin khi có một trong các biểu hiện sau:
- ĐTĐ týp 2; Rối loạn dung nạp glucose máu; Suy giảm dung nạp
glucose lúc đói; Glucose máu bình thường nhưng có kháng insulin
(đánh giá bằng kỹ thuật kẹp insulin).
+ Các tiêu chí khác (tiêu chí B)
- THA tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc tâm trương ≥90mmHg
- Rối loạn lipid:
•
Triglycerid (≥1,7mmol/l;150mg/dl) và/hoặc
•
HDL-Cholesterol ( 0,85) và hoặc BMI > 27 với người Châu Á.
- Microalbumin niệu dương tính: (tỷ lệ bài xuất albumin niệu ≥
20µg/phút hoặc tỉ lệ albumin/creatinin niệu ≥ 30 mg/g).
16
Theo tiêu chuẩn này sự kháng insulin là cần thiết. Tuy nhiên cũng
tương tự như ATP III, đái tháo đường týp 2 không bị loại trừ khỏi chẩn đoán.
Trong thực hành lâm sàng sự xác định kháng insulin cũng như microalbumin
niệu là khó khăn, khó áp dụng [4], [8], [101], [127].
* Tiêu chuẩn của Hiệp hội Đái tháo đường quốc tế (International Diabetes
Federation- IDF-2005)
đo vòng eo.
Tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH của IDF được đưa ra vào năm 2005.
Béo trung tâm là một tiêu chí bắt buộc trong tiêu chuẩn này, biểu hiện qua
số đo vòng eo. Số đo này khác nhau theo các dân tộc và khi đánh giá phải
17
dựa vào tiêu chuẩn sinh lý của chính quần thể của quốc gia đó. Tiêu chuẩn
của IDF một lần nữa xem béo trung tâm có tương quan rất rõ với kháng
insulin, do đó không cần phải xét nghiệm tốn kém để đánh giá kháng
insulin [8], [42], [74], [101].
* Tiêu chuẩn của nhóm nghiên cứu về kháng insulin Châu Âu (European group for
the study of insulin resistance - EGIR).
Tiêu chuẩn của EGIR là:
+ Tiêu chí bắt buộc có kháng Insulin và/hoặc tăng insulin máu lúc đói
(nồng độ insulin máu ở khoảng tứ phân vị thứ nhất của những người
không bị ĐTĐ) (tiêu chí A)
+ Các tiêu chí khác (tiêu chí B)
- Tăng glucose máu: Glucose máu lúc đói ≥ 6,1 mmol/l (nhưng không
bao gồm ĐTĐ).
- Tăng huyết áp khi:
•
HATT ≥ 140mmHg và/hoặc HATTr ≥90mmHg
•
Hoặc đã điều trị thuốc hạ áp.
quốc gia của Hoa Kỳ)
Hội chứng chuyển hóa được xác định khi có bất kỳ 3 trong 5 tiêu chí sau.
+ Tăng vòng bụng:
-
Nam: ≥ 102 cm; Nữ: ≥ 88cm
+ Tăng triglycerid khi:
-
TG ≥ 1,7mmol/l (150mg/dl) hoặc điều trị tăng triglycerid
+ Giảm HDL-cholesterol khi:
-
Nam :
* Tiêu chuẩn của các nhà Nội tiết học lâm sàng Mỹ (AACE).
HCCH được xác định khi có ít nhất một yếu tố chính và hai yếu tố phụ [4], [8].
+ Yếu tố chính:
- Thừa cân / béo phì: BMI ≥ 25kg/m2, hoặc vòng eo> 94 cm đối với
nam, > 80 cm đối với nữ hoặc
- Nguy cơ cao của tình trạng kháng insulin: khi có ít nhất một trong các
biểu hiện sau: được chẩn đoán bệnh mạch vành, hội chứng buồng trứng đa
nang, tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ týp 2, THA, mắc bệnh tim mạch,
tiền sử ĐTĐ thai kỳ hoặc RLDNG, không phải người da trắng, lối sống tĩnh
tại, tuổi > 40.
+ Yếu tố phụ:
- Triglyceride: ≥ 1,7mmol/l (150 mg/dl)
- HDL cholesterol thấp:
• Nam: < 1,03mmol/l (40mg/dl); Nữ :< 1,29mmol/l (50mg/dl)
- Tăng huyết áp: > 130/85mmHg
- Glucose máu:
• Glucose máu lúc đói: 6,1-6,9mmol/l (100- 126mg/dl)
• Glucose 2 giờ sau nghiệm pháp tăng glucose máu: 7,8-11
mmol/l (140-200mg/dl)
1.2.3. Cơ chế bệnh sinh và các yếu tố nguy cơ của hội chứng chuyển hóa
Cơ chế gây HCCH khá phức tạp, vẫn còn đang được nghiên cứu nhằm
làm sáng tỏ. Hầu hết bệnh nhân mắc HCCH đều lớn tuổi, béo phì, ít vận động
20
và có kháng insulin. Strees cũng có thể là một yếu tố góp phần gây nên
HCCH, nhưng yếu tố quan trọng có lẽ là do di truyền. Năm 2001, Poulsen P.,
gồm carbohydrat, lipid, protein tại ty lạp thể của tế bào và các sản phẩm dư
thừa được tạo ra từ quá trình đó có mối liên quan đến rối loạn chức năng của
ty lạp thể và đề kháng insulin.
1.2.3.1. Kháng insulin
Tế bào β đảo tụy là nơi tiết ra insulin và insulin lưu hành trong máu đến
các tế bào đích truyền tín hiệu và thực hiện nhiệm vụ của mình, insulin là
hormone đóng vai trò quan trọng trong chuyển hóa carbonhydrat với cơ chất
chính là glucose, vì vậy khi có bất thường về insulin sẽ gây lên các rối loạn
trong chuyển hóa carbonhydrat. “Kháng insulin là một tình trạng (của tế bào,
cơ quan, hay cơ thể) cần một lượng insulin nhiều hơn bình thường để đạt
được đáp ứng sinh học bình thường” [34].
Insulin truyền tín hiệu bằng cách gắn vào các receptor đặc hiệu trên
màng tế bào, các thụ thể này thuộc nhóm tyrosine kinase receptor, giống như
receptor cho các yếu tố tăng trưởng. Các receptor hoạt động nhờ sự kết hợp
của 2 tiểu đơn vị. Các thông tin của insulin sẽ không bị thay đổi khi chúng
được truyền qua các receptor đặc hiệu nhưng cũng có thể thay đổi khi truyền
tin qua các receptor được hình thành bởi 1 tiểu đơn vị của thụ thể insulin và 1
tiểu đơn vị của các yếu tố phát triển giống insulin (IGF1). Insulin có ái lực với
receptor đặc hiệu cao gấp 100 đến 150 lần so với các receptor của IGF1,
chính vì vậy ở nồng độ insulin sinh lý thì sự gắn của insulin với thụ thể IGF1
sẽ không có ý nghĩa [89].
Sự gắn insulin và receptor của màng tế bào là hiện tượng truyền tín
hiệu để thực hiện quá trình phosphoryl hóa và dephosphoryl hóa, 4 loại
protein từ IRS1 đến IRS4 được phát hiện trong cấu trúc của receptor insulin.
Tín hiệu của insulin được đưa vào tế bào khi quá trình phosphoryl hóa ở
receptor được thực hiện [97], [118]. Có 2 cách truyền tín hiệu của insulin vào
tế bào: [89], [99], [118].
+ Cách 1: Thông quá các chất truyền tin: AKT/PKB
+ Cách 2: Thông qua các Protein tín hiệu: Ras/Raf/MAP
kinase,
PDK1
AKT/PKB
Protein vận
chuyển GLUT4
Tín hiệu
insulin thông
qua PI3
kinase,
PDK1
AKT/PKB
Kích hoạt hệ thống
vận chuyển
Thiếu hụt hệ thống
vận chuyển
Hình 1.1. Cơ chế vận chuyển glucose trong kháng insulin
* Nguồn: Diabetes in cardiovascular Disease 2013[77]
1.2.3.2. Yếu tố nguy cơ của hội chứng chuyển hoá
Hội chứng chuyển hóa là tập hợp một số yếu tố nguy cơ gây nên các
bệnh lý tim mạch và chuyển hóa, chúng liên quan đến tuổi, giới, chủng tộc,
stress, thừa cân béo phì, hoạt động thể lực ...
23
* Tuổi và giới: Tỷ lệ mắc HCCH tăng theo tuổi, tỷ lệ này tăng nhanh ở
tiết tố của trục hạ đồi-tuyến yên-thượng thận (HPA-axis) [69]. Một rối loạn
chức năng trục hạ đồi – tuyến yên – tuyến thượng thận làm tăng cortisol gây
tăng glucose máu và insulin, cuối cùng thúc đẩy béo phì nội tạng, đề kháng
insulin, rối loạn lipid máu và THA, có tác dụng trực tiếp trên xương, gây ra
loãng xương [120]. Rối loạn chức năng trục hạ đồi – tuyến yên – tuyến
thượng thận có thể giải thích bàng các dấu hiệu dự báo nguy cơ béo phì trung
tâm, bệnh tim mạch, bệnh ĐTĐ týp 2 và đột qụy [110]. Căng thẳng tâm lý
cũng liên quan đến bệnh tim [50].
* Thừa cân và béo phì: Thừa cân và béo phì đang là một thách thức lớn
đối với công tác phòng chống các bệnh không lây mạn tính trên toàn Thế giới.
Ở một số nước đang phát triển là gánh nặng đối với ngành y tế và xã hội, trở
thành những vấn đề lâu dài, khó can thiệp của chuyên ngành dinh dưỡng.
Năm 2005, Kelly T., Yang W. và cộng sự ước tính trên Thế giới hiện có
951 triệu người thừ cân và 396 triệu người béo phì. Dự đoán đến năm 2030
trên thế giới có 1,35 tỷ người thừ cân và 573 triệu người béo phì, xu thế sẽ
tăng cao hơn nữa nếu không được can thiệp và dự tính là 2,16 tỷ người thừ
cân và 1,12 tỷ người mắc béo phì [90]. Béo phì trung tâm là một đặc điểm
quan trọng của HCCH, phản ánh một cách trung thực và có mối quan hệ chặt
chẽ giữa chu vi vòng eo và tình trạng béo phì. Ở những bệnh nhân cân nặng
bình thường cũng có thể xuất hiện đề kháng insulin và HCCH.
* Lối sống và hoạt động thể lực: Hoạt động thể chất là một yếu tố dự báo
của bệnh tim mạch và tử vong có liên quan. Nhiều thành phần của HCCH liên
quan đến một lối sống ít vận động, bao gồm tăng các mô mỡ (chủ yếu là vùng
trung tâm); giảm HDL cholesterol; tăng triglyceride, huyết áp, và glucose trong
những người dễ bị biến đổi di truyền. Đối với những bệnh nhân hoạt động tĩnh
tại trên 4 giờ mỗi ngày (xem truyền hình, sử dụng máy tính...) thì tỷ lệ mắc
HCCH cao gấp 2 lần người bình thường .
25