BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
ĐÀO THỊ HOA
NGHIÊN CỨU SIÊU ÂM DOPPLER ỐNG TĨNH MẠCH
TRONG CHẨN ĐOÁN SUY THAI Ở THAI CHẬM PHÁT
TRIỂN TRONG TỬ CUNG
Chuyên ngành : Sản phụ khoa
Mã số : 62720131
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
HÀ NỘI 2018
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS. Nguyễn Viết Tiến
PGS.TS. Trần Danh Cường
Phản biện 1: PGS.TS. Bùi Văn Lệnh
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Duy Ánh
Phản biện 3: PGS.TS. Lê Hoàng
4
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thai chậm phát triển là bệnh lý hay gặp trong thời kỳ mang thai, hiện đứng
thứ hai trong các nguyên nhân gây tử vong chu sinh, xếp sau đẻ non. Thai chậm
phát triển trong tử cung (CPTTTC) nếu không được phát hiện và theo dõi kịp
thời thì sẽ gây nhiều hậu quả nặng nề với thai như suy thai, thai chết trong tử
cung, tử vong sơ sinh, tử vong chu sinh, biến chứng, bệnh lý sơ sinh và có thể
để lại di chứng ảnh hưởng đến phát triển thể chất, tinh thần, vận động của trẻ
sau này.
Việc đánh giá tình trạng thai và quyết định thời điểm thích hợp can thiệp
sản khoa để đảm bảo cân bằng giữa các nguy cơ liên quan thai non tháng và các
hậu quả của thiếu oxy trong trường hợp thai CPTTTC là rất quan trọng đối với
các nhà sản khoa.
Ống tĩnh mạch (OTM) là nhánh nối giữa tĩnh mạch rốn với tĩnh mạch chủ
dưới. Với cấu trúc giải phẫu đặc biệt, OTM có khả năng chun giãn tạo sự
chênh lệch áp lực giữa TMR và tâm nhĩ phải nên đóng vai trò quan trọng giúp
phân phối, điều chỉnh tăng lưu lượng và tốc độ dòng máu giàu oxy từ bánh rau
đến thai nhi trong những trường hợp thai bị thiếu oxy và giảm thể tích tuần
hoàn.
Siêu âm là phương pháp thăm dò quan trọng nhất trong sản khoa và là kỹ
thuật thăm dò chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn, áp dụng rộng rãi để theo
dõi tình trạng mẹ và thai. Siêu âm cho phép xác định chính xác tuổi thai, chẩn
đoán hình thái học và đánh giá sự phát triển của thai. Đặc biệt dựa vào kết
quả siêu âm Doppler chúng ta có thể biết được tình trạng tuần hoàn thai tại
thời điểm làm siêu âm từ đó biết được sức khỏe thai nhất là ở những trường
hợp có nguy cơ cao suy thai như thai CPTTTC.
Hiện nay tại Việt Nam, có một số nghiên cứu về siêu âm Doppler mạch
máu nhưng thường chủ yếu tập trung vào thăm dò hệ thống các động mạch
thai như động mạch rốn, động mạch não giữa, động mạch tử cung và còn có
rất ít nghiên cứu về Doppler của hệ tĩnh mạch thai, nhất là ống tĩnh mạch
̀ ̣
ương 2. Đôi t
́ ượng và phương pháp nghiên cưu: 20 trang;
́
Chương 3. Kêt qua nghiên c
́
̉
ưu: 42 trang; Ch
́
ương 4. Ban luân: 48 trang; Kêt luân: 2
̀
̣
́ ̣
trang; Kiến nghị: 1 trang. Có 37 bảng, 21 biểu đồ, 12 hình. Tài liệu tham khảo:
165 tài liệu tham khảo gồm các tài liệu tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp.
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.THAI CHẬM PHÁT TRIỂN TRONG TỬ CUNG
1.1.1 Định nghĩa
Thai được chẩn đoán là chậm phát triển trong tử cung khi ước trọng lượng
thai nằm dưới đường bách phân vị (BPV) thứ 10 tương ứng với tuổi thai quần
thể nghiên cứu.
1.1.2. Chẩn đoán thai CPTTTC
Trên lâm sàng: Fournié đề xuất theo quy tắc đánh giá phát triển của thai
dựa vào chiều cao tử cung. Nhưng theo nhiều nghiên cứu, độ nhạy của
phương pháp này dao động từ 41% đến 86% tùy thuộc vào tác giả.
Dựa trên siêu âm: từ các số đo thai: chu vi vòng đầu, đường kính lưỡng
đỉnh, đường kính ngang bụng, chu vi vòng bụng, chiều dài xương đùi có công
thức tính trọng lượng thai và các đường BPV tương ứng theo tuần tuổi thai.
tiếp tục hướng về phía tim qua lỗ bầu dục sang tâm thất trái. Máu này cung
cấp cho não và phần trên của cơ thể thông qua các động mạch vùng đầu, cổ
và thông qua tuần hoàn tim, tuần hoàn vành. Một phần nhỏ máu từ tâm thất
phải lên phổi, phần còn lại tiếp tục qua ống động mạch tới đoạn xuống quai
động mạch chủ hướng về phía nửa dưới cơ thể đến các mô, cơ quan.
Trước sinh, máu trong tim thai và máu trong tuần hoàn thai là máu pha
trộn, máu giàu oxy lẫn với máu ít oxy, có nhiều CO 2 và các chất chuyển hóa
khác và tuần hoàn phổi thai chưa hoạt động, hemoglobine của thai chưa kết
hợp được với oxy ở phổi để cung cấp cho nhu cầu phát triển của thai nên
bánh rau đảm nhiệm vai trò của giống như phổi.
Tuần hoàn tử cung thai
Tuần hoàn cung cấp cho tử cung các từ nguồn chính là động mạch tử
cung và nhánh nhỏ từ động mạch buồng trứng. Các nhánh nối nhau tạo vòng
nối mạch quanh tử cung.
1.3. Suy thai mạn, cơ chế điều chỉnh tuần hoàn và thai CPTTTC
Thai CPTTTC thường do suy tuần hoàn bánh rau. Khi thiếu oxy và khối
7
lượng tuần hoàn, thai nhi sẽ có cơ chế bù trừ bằng cách điều chỉnh ưu tiên
máu giàu oxy đến các nơi quan trọng như não, tim, tuyến thượng thận và
giảm tuần hoàn đến các cơ quan như lách, cơ, da, phổi để ngăn ngừa tổn
thương cho thai. Khi khả năng tái phân bố tuần hoàn vượt quá giới hạn, thai
có thể suy rất nhanh. Vì vậy trên lâm sàng, cần tiến hành thăm dò siêu âm
Doppler một số mạch máu để đánh giá tuần hoàn máu, phát hiện sớm các giai
đoạn mất bù của thai, có nguy cơ suy thai.
1.4. Ống tĩnh mạch và tuần hoàn thai
1.4.1. Giải phẫu và sinh lý OTM
OTM có hình thái và cấu trúc đặc biệt. hình kèn Trumpet có phần eo hẹp
khoảng 0,5 mm. Giữa thai kỳ, đường kính chỗ hẹp nhất này khoảng 2 mm.
Đường bách phân vị (BPV): từ các số đo sinh lý thai theo tuổi mà các tác
giả lập lên các đường cong tăng trưởng về một số đo của thai và dùng đó làm
chuẩn tham chiếu cho quần thể nghiên cứu.
1.5.2. Trắc đồ sinh lý liên quan đến tình trạng thai (Chỉ số Manning)
1.5.3.Thăm dò nhịp TT trên Monitoring sản khoa (CTG cardiotocograms)
Monitorring sản khoa là một phương pháp thăm dò không can thiệp, dễ
thực hiện được áp dụng rộng rãi trong sản khoa để đánh giá sức khỏe thai nhi.
Dựa vào quan sát đường ghi nhịp tim thai cơ bản, khoảng dao động và những
thay đổi, bất thường nhịp tim thai khi có cơn co tử cung có thể gián tiếp đánh
giá được tình trạng sức khỏe thai.
1.5.4. Phương pháp soi ối
Hiện nay ít thực hiện, chỉ nên thực hiện với thai trên 37 tuần.
1.5.5. Thăm dò chẩn đoán hình ảnh bằng siêu âm – Doppler mạch máu
1.6. SIÊU ÂM DOPPLER TRONG THĂM DÒ SỨC KHỎE THAI TRÊN
THAI CHẬM PHÁT TRIỂN TRONG TỬ CUNG
1.6.1. Ứng dụng hiệu ứng Doppler trong thăm dò sức khỏe thai
1.6.1.1. Nguyên lý chung
Hiệu ứng Doppler
1.6.1.2. Các loại Doppler
Doppler liên tục
Doppler xung
Doppler màu
Doppler năng lượng
1.6.2. Các phương pháp phân tích Doppler
Phân tích Doppler bằng âm thanh
Phân tích Doppler bằng quan sát hình thái phổ
Phân tích Doppler bằng đo các chỉ số
Các thông số Doppler:
Đỉnh tâm thu (S)
Vận tốc cuối tâm trương (D)
1.6.3.4. Doppler động mạch tử cung.
Giá trị: phép sàng lọc phát hiện sớm những trường hợp thai phụ có nguy
cơ cao huyết áp và suy tuần hoàn bánh rau.
1.6.3.5. Doppler động mạch chủ
1.6.4. Doppler ống tĩnh mạch
1.6.4.1. Phổ Doppler OTM
Doppler OTM dạng sóng xung, ba đỉnh, bao gồm:
Sóng S (tâm thất thu ),
Sóng D (đầu thì tâm trương)
Sóng a (cuối tâm trương)
Sinh lý các sóng OTM:
Sóng S: đại diện cho tâm thất co. Hình thái của sóng S cũng giống hình
cao nguyên, đỉnh tròn phẳng. phản ánh áp lực buồng tâm thất.
Sóng D: sóng tâm trương, tương ứng với giai đoạn tâm trương, mở van
nhĩ thất, máu chảy thụ động về tâm thất phải.
10
Sóng a: sóng a dương, tương ứng với giai đoạn co bóp của tâm nhĩ tống
máu xuống tâm thất phải tương ứng với áp lực sinh lý cuối tâm trương tâm,
đầu tâm thu của tim. Phản ánh hiệu quả hoạt động của tim.
Hình 1.6: Các sóng của Doppler OTM.
1.6.4.2. Phân tích Doppler OTM
* Phân tích định tính hình dạng sóng:
Dạng sóng Doppler OTM: dạng sóng xung, ba đỉnh: S,D và a.
Sóng xung OTM trong thai nhi bình thường là sóng dương, theo dòng
chảy về phía trước của chu kỳ tim.
Sóng a âm trong trường hợp: thiếu oxy, hội chứng truyền máu, mẹ suy tim,
tăng huyết áp, tiền sản giật, tăng tiền gánh tim làm dãn cơ tim.
có giá trị trong tiên lượng tình trạng sơ sinh. Nếu phổ Doppler OTM bình
thường thì chứng tỏ thai vẫn có khả năng bù trừ, điều chỉnh tuần hoàn đến
khi xuất hiện dòng chảy bất thường của Doppler OTM như sóng a mất hoặc
đảo ngược thì thai đã suy mất bù và có rối loạn huyết động nghiêm trọng, thai
có nguy cơ chết lưu và kết quả sơ sinh sẽ rất xấu. Trong một nghiên cứu
khác Hecher và cộng sự thấy siêu âm Doppler OTM có thể có giá trị hơn trong
thời điểm cuối và đầu quý 3 thai kỳ.
Baschat nghiên cứu về Doppler ĐMR, ĐMNG, TMC dưới, OTM và TMR
ở 121 thai CPTTTC thấy nếu có bất thường Doppler OTM thì kết quả chu
sinh thường không tốt và Doppler OTM có giá trị tiên lượng thai tốt hơn các
bất thường Doppler ĐMNG, ĐMR. Ở thai nhi có chỉ số xung của ĐMNG
thấp, Doppler tĩnh mạch rất có giá trị theo dõi và phát hiện các biến chứng với
thai. Doppler OTM bất thường liên quan đáng kể đến thai lưu, tử vong ở thai
nhi và tuổi thai cũng có ảnh hưởng đáng kể kết quả thai CPTTTC.
Để chẩn đoán và tiên lượng cụ thể về tỷ lệ mắc và tử vong sơ sinh trên
thai CPTTTC có rối loạn tuần hoàn rau thai, Baschat đã tiến hành một nghiên
cứu tiến cứu đa trung tâm những trẻ sơ sinh có thai được chẩn đoán trước khi
sinh là CPTTTC ở tuổi thai dưới 33 tuần và tìm liên quan với các biến chứng
chu sinh sơ sinh, tử vong sơ sinh và nhóm trẻ bình thường. Kết quả nghiên
cứu chỉ ra rằng các thông số Doppler OTM về tim mạch sẽ là yếu tố có giá trị
dự đoán kết cục sơ sinh.
Schwarze nghiên cứu 64 trường hợp thai CPTTTC có bất thường mất hoặc
đảo ngược dòng tâm trương Doppler ĐMR ở tuổi thai 2434 tuần và được ngừng
thai nghén trước 34 tuần. Kết quả nếu bất thường như mất hoặc đảo ngược sóng
a của OTM kèm theo xuất hiện mất hoặc đảo ngược dòng chảy của Doppler tĩnh
mạch rốn có giá trị dự đoán kết cục chu sinh rất xấu. Bất thường Doppler OTM
trên thai CPTTTC ở giai đoạn sớm kèm với đảo ngược dòng tâm trương Doppler
ĐMR có liên quan mật thiết đến kết cục thai nhi và chu sinh với thai 32 dưới
tuần.
Trong đó TP: số dương tính thật (true positive)
FN: số âm tính giả (false negative)
Pdis : tỷ lệ suy thai trên thai CPTTTC
Zα: là hằng số của phân phối chuẩn. Nếu α=0,05 thì Z2 α= 1,96
w: sai số của xác suất dương tính thật và âm tính thật
Chúng tôi dự định tính cỡ mẫu dựa trên với độ nhạy mong muốn của
13
doppler OTM là 90%, sai số của các xác suất đo 10%, tỷ lệ suy thai trên thai
CPTTTC khoảng 15%, thì cỡ mẫu dự tính là: 230 bệnh nhân
Tổng bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi là 252.
2.2.3. Phương tiện nghiên cứu
Bệnh án sản khoa, bệnh án sơ sinh, bảng quay tính tuổi thai.
Các dụng cụ, phương tiện khám thai: thước dây có chia vạch centimet,
máy đo huyết áp, cân trẻ sơ sinh.
Máy siêu âm hiệu Siemens Acuson X 150 với đầu dò 3,5 MHz.
Phiếu nghiên cứu in sẵn có các câu hỏi và thông tin điền trước và sau đẻ
liên quan đến thai phụ và sơ sinh.
Bơm tiêm loại nhỏ: 1 ml có tráng Heparin, kim tiêm 22 Gaucher
Máy xét nghiệm khí máu và điện giải Roche Cobas b 221 để phân tích
máu, pH máu động mạch rốn của thai.
Các bảng số đo, giá trị sinh lý theo BPV, tham chiếu của các phương
pháp thăm dò như Doppler ĐMTC, ĐMNG, ĐMR, OTM.
+ Cân nặng sơ sinh theo bảng phân bố cân nặng và BPV của thai nhi Việt
Nam của tác giả Phan Trường Duyệt. sinh lý Doppler ĐMNG, ĐMR, ĐMTC và
chỉ số RI não/rốn theo số đo sinh lý thai phụ Việt Nam của tác giả Trần Danh
Cường.
+ Sinh lý Doppler OTM thai được tham chiếu chỉ số xung PI và giá trị sóng
Diễn biến tình trạng các thai trong nhóm nghiên cứu và kết quả thai
nghén
Các xét nghiệm bất thường: Doppler các ĐM, Doppler OTM.
Lấy máu cuống rốn xét nghiệm phân tích pH máu, pCO2 và dự trữ kiềm BE.
Đánh giá tình trạng trẻ sau sinh:
+ Trọng lượng trẻ sau khi sinh
+ Chỉ số Apgar.
+ Chẩn đoán sau sinh suy thai khi có toan máu, pH ≤ 7.15 hoặc dự trữ kiềm
BE
16
≥37 tuần có trọng lượng trung bình: 2140 ± 333 gam.
3.2.2. pH máu động mạch rốn
Kết quả khí máu và pH máu ĐMR trung bình nhóm NC: 7,30 ± 0,09;
pCO2 cao: 52,47 ± 19,1 mmHg; pO2 thấp hơn: 39,8 ± 16,75 mmHg và dự trữ
kiềm thấp trung bình BE: 2,24 ±3,49 mmol/l và HCO3 : 24,66 ± 3,13
Kết quả pH máu động mạch rốn sơ sinh
241/252 (95,6%) trường hợp sơ sinh có lấy máu động mạch rốn để xét
nghiệm pH và khí máu còn 11/252 (4,4%) không xét nghiệm do đây là những
trường hợp thai lưu trong quá trình theo dõi thai. Kết quả: 186/252 (73,81%) sơ
sinh có chỉ số pH động mạch rốn > 7,25. 39/252 (15,48%) có chỉ số: 7,15 <
pH ≤ 7,25; 16 (6,35%) sơ sinh có pH thấp ≤ 7,15.
3.2.3. Chia nhóm theo kết quả sơ sinh.
Dựa vào xét nghiệm máu ĐMR sau sinh bao gồm pH, dự trữ kiềm BE
cùng diễn biến tình trạng thai và kết quả sơ sinh chúng tôi xếp kết quả thai
nghén trong NC thành hai nhóm:
Nhóm thứ nhất: là nhóm KQ có suy thai: 33 trường hợp, bao gồm 22
trường hợp sau đẻ có kết quả xét nghiệm khí máu ĐMR biểu hiện suy thai
( pH máu ≤ 7,15 hoặc BE
S / a
Không
suy thai
(N=219)
TB
SD
29,3
9,66
2
18,37
8,62
4,08
17,26
1,76
0,90
1,66
0,57
1,77
0,10
1,22
9,69
8,26
0,83
0,28
0,83
0,13
0,42
0,19
0,47
0,09
0,35
0,19
2,45
14,68
25,69
0,97
0,61
1,02
0,71
1,51
0,39
1,41
10,57
10,28
0,65
0,24
1,42
0,12
1,25
0,24
5,26
28,0
6
95,4
69,7
95,4
0,65
0,51 – 0,79
a ≤ 2,37
69,7
95,0
67,6
95,4
0,64
0,5 – 0,78
84,8
84,9
45,9
97,4
0,51
0,38 – 0,64
a ≤ 6,77
87,9
66,2
28,2
97,3
0,28
0,19 – 0,38
a ≤ 12,65
Tại các điểm cắt a với các giá trị khác nhau kết quả khi sóng a ≤ 2,37
cm/giây và a ≤ 0 đều có Se, Sp,VP(+), VP() gần như nhau và có hệ số Kappa
trên 0.6, diện tích dưới đường cong AUC là 0,883.
S ≤ 40,54
87,9
34,7
16,9
95,0
Rất thấp
S ≤ 30,85
66,7
65,3
22,4
92,9
56,6
13,3
24,0
100,0
97,6
69,7
54,5
76,3
89,5
30,7
43,9
94,4
92,9
Hệ số
Kappa
Rất thấp
66,7
39,4
93,2
96,8
98,2
62,5
75,9
76,5
96,2
95,1
91,5
0,63
0,67
0,47
Với PI ≥ 1,46 thì giá trị chẩn đoán suy thai tốt nhất. hệ số Kappa là
0,63. Diện tích dưới đường cong AUC: 0.886
Biểu đồ 3.10. Đường cong ROC ngưỡng giá trị chỉ số xung PI liên quan
đến kết quả thai
3.4.5. Điểm cắt tiên lượng suy thai của giá trị chỉ số kháng RI trong thăm
dò Doppler OTM trên thai CPTTTC
Bảng 3.13. Điểm cắt tiên lượng kết quả suy thai của chỉ số kháng RI
trong thăm dò Doppler OTM
Hệ số
Giá trị
97,5
95,6
88,0
95,4
≤ 0,21
88,4
88,1
59,1
97,5
rất thấp
≤ 0,30
84,8
79,3
38,4
97,2
98,1
78,9
94,1
S/a ≤ 0
64,3
98,1
81,8
95,4
Hệ số Kappa
> 1,27
84,85
52,97
21,37
95,87
0,17
≥ 2,05
33,33
93,61
44,00
90,31
0,30
≥ 2,90
12,12
OTM Doppler OTM trên thai CPTTTC
23
Bảng 3.21. So sánh giá trị chẩn đoán suy thai của các giá trị vận tốc, tỷ
lệ các sóng trong siêu âm Doppler OTM
Se
Sp
PV +
VP –
Hệ số
Giá trị
(%)
(%)
(%)
(%)
Kappa
a ≤ 2,37
69,7
95,0
67,6
95,4
0,64
S ≤ 40,54
93,2
88,1
88,1
62,5
51,9
59,1
96,2
97,5
97,5
0,63
sóng a và chỉ số xung PI.
Bảng 3.23. Giá trị chẩn đoán tiên lượng kết quả thai của sóng a, chỉ số
xung PI Doppler OTM.
Bất
Thai
thường Thai suy không Se
Sp
PV +
VP (%)
(%)
(%)
(%)
Doppler (N=33)
suy
OTM
(N=219)
69,7
95,0
67,6
95,4
a ≤ 2,37
23
10
75,8
93,2
62.5
96,2
PIV ≥
25
8
không có sự khác nhau nhiều về giá trị PI giữa các nhóm với P>0,05.
3.5. Kết quả cho mục tiêu 2 của nghiên cứu: So sánh giá trị chẩn đoán suy
thai của siêu âm doppler ống tĩnh mạch với siêu âm Doppler một số mạch máu
khác
3.5.1. Kết quả siêu âm Doppler các động mạch
Bảng 3.27. Tỷ lệ bất thường siêu âm Doppler trong nhóm nghiên cứu
Kết quả
siêu âm
Bất thường
(N=252)
Bình thường
(N=252)
n
%
n
%
ĐM Tử cung
157
62,3
95
62,7
Tình trạng nước
ối
194
77,0
58
23,0
OTM
212
84,4
40
15,9
Thứ tự các bất thường gặp nhiều nhất là Doppler ĐMTC, tiếp đến bất
thường Doppler ĐMR, chỉ số kháng RI Não/rốn đảo ngược, nhỏ hơn 1,
ĐMNG và số bất thường Doppler OTM thấp nhất.
3.5. 2. Giá trị tiên lượng kết quả thai khi kết hợp siêu âm doppler OTM với
siêu âm Doppler một động mạch khác
Bảng 3.32. Giá trị chẩn đoán suy thai khi kết hợp siêu âm Doppler
29,64