GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trên những bệnh nhân mất thể thủy tinh, không còn cấu trúc bao sau
hoặc cấu trúc bao sau không còn khả năng đỡ thể thủy tinh nhân tạo, phẫu
thuật cố định thể thủy tinh nhân tạo vào thành củng mạc với vị trí
càngcủa thể thủy tinh nhân tạo đặt trong rãnh thể mi,là vị trí gần với vị trí
giải phẫu tự nhiên của thể thủy tinh, giúp khôi phục cấu trúc sinh lý của
nhãn cầu, do vậy cho kết quả giải phẫu cũng như kết quả thị lực tốt nhất.
Sử dụng đèn soi nội nhãn là phương thức duy nhất để tiếp cận các
cấu trúc ở ngoại vi của bán phần sau nhãn cầu như rãnh thể mi, đặc biệt
trong những điều kiện như trong các bệnh lý bán phần trước như giác
mạc mờ đục, đồng tử co nhỏ, bất thường thể thủy tinh, giúp phẫu thuật
viên có thể quan sát và thực hiện các phẫu thuật nội nhãn dễ dàng, chính
xác hơn, nâng cao chất lượng phẫu thuật và hiệu quả điều trị đối với
bệnh nhân.
Vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu kết quả
của phẫu thuật cố định thể thủy tinh nhân tạo vào thành củng mạc có
sử dụng đènsoi nội nhãn”nhằm nâng cao tính chính xác của phẫu thuật,
hạn chế biến chứng sau phẫu thuật từ đó nâng cao hiệu quả điều trị, tối
ưu hóa thị lực cho bệnh nhân với các mục tiêu sau:
1. Mô tả đặc điểmlâm sàng của những mắt mất thể thủy tinh và cấu
trúc bao sau.
2. Đánh giá kết quả của phẫu thuật cố định thể thủy tinh nhân tạo
vào thành củng mạc có sử dụng đèn soi nội nhãn.
3. Phân tích các yếu tố liên quan đến kết quả phẫu thuật.
2. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN:
Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt nam đánh giá tổng thể về kết
quả của phẫu thuật cố định thể thủy tinh nhân tạo vào thành củng mạc có
sử dụng đèn soi nội nhãn.
Nghiên cứu bổ sung, giúp hiểu sâu hơn về các đặc điểm lâm sàng
và các nguyên nhân gây mất thể thủy tinh và mất cấu trúc bao sau của
* Bệnh lý cần can thiệp bán phần sau nhãn cầu có kèm các tổn
thương cản trở sự quan sát bằng kính hiển vi không tiếp xúc: Phù giác
mạc, đục giác mạc. Các tổn thương liên quan giác mạc, mống măt, tiền
phòng: dính mống mắt, hội chứng giác mạc, mống mắt, xuất huyết tiền
phòng. Mắt đã phẫu thuật đặt TTT nhân tạo kẹt mống mắt, các rối loạn
do bờ TTT nhân tạo. Các bệnh lý thể thủy tinh: đục TTT, đục dưới bao
sau TTT do cortisone. Các bất thường trong phẫu thuật như: Vết thương
khí trong tiền phòng, lệch TTT, lệch TTT nhân tạo.
* Điều trị các bệnh lý nhãn cầu: Bong võng mạc nguyên phát có rách
võng mạc chu biên. Chấn thương. Viêm nội nhãn. Chấn thương rách củng
mạc có kẹt dịch kính. Giác mạc nhỏ, không có thể thủy tinh, lệch thể hủy
tinh nhân tạo. Glôcôm khó điều trị.
2. Phương pháp cố định thể thủy tinh nhân tạo vào thành củng mạc
Năm 2003, Hội nhãn khoa Mỹ đã tổng kết các phương pháp đặt TTT
nhân tạo trên những bệnh nhân không có TTT và kết luận: đặt TTT nhân
tạo cố định củng mạc là phương pháp an toàn và hiệu quả.
* Lựa chọn thể thủy tinh nhân tạo cố định củng mạc
Tổng đường kính TTT nhân tạo phải từ 12.5 đến 13mm:
Đường kính phần quang học của TTT nhân tạo phải từ 6mm hoặc rộng
hơn.
Càng TTT nhân tạo: Góc giữa càng và phần quang học của TTT
nhân tạo khoảng 10 độ giúp cho TTT nhân tạo sau khi cố định có vị trí gần
với vị trí giải phẫu của TTT, nên có lỗ trên càng TTT nhân tạo cho phép
xuyên chỉ treo qua đó cố định chỉ treo và TTT nhân tạo.
Các mẫu TTT nhân tạo hậu phòng thường được sử dụng: Alcon
CZ70BD(Alcon, Fort Worth, Texas), Bausch and Lomb 6190B (Bausch and
Lomb, San Dimas, California), có một lỗ trên càng TTT nhân tạo.
* Tính công suất thể thủy tinh nhân tạo cố định củng mạc
Đặt nút chỉ trên bề mặt củng mạc. Bao phủ nút chỉ bằng miếng ghép
giác mạc sinh học. Bao phủ nốt chỉ bởi miếng ghép sinh học Fascia lata
hoặc Dura mater. Bao phủ bởi vạt củng mạc. Tạo n ốt ch ỉ liên tục xoay
nào nội nhãn. Tạo rãnh sát vùng rìa, đặt nốt chỉ kép tại 2 hoặc 4 vị trí
rạch. Dấu chỉ trong hầm củng mạc có hoặc không có bóc tách kết mạc.
Dấu nút chỉ cố định tự thân trong lòng củng mạc. Dấu chỉ cố định thể
thủy tinh nhân tạo vào củng mạc theo chữ Z.
* Kỹ thuật xuyên kim đặt chỉ cố định
+ Kỹ thuật đặt chỉ cố định xuyên kim từ trong nhãn cầu ra ngoài nhãn
cầu: kỹ thuật này ít làm biến dạng nhãn cầu, nhưng do vùng xuyên kim bị
che lấp, không quan sát rõ vị trí xuyên kim nên có thể đâm kim vào thân
thể mi, tua thể mi… gây xuất huyết.
+ Kỹ thuật xuyên kim từ ngoài nhãn cầu vào trong nhãn cầu được mô
tả lần đầu bởi Lewis (1991). Ưu điểm của phương pháp này là xác định
chính xác vị trí đặt chỉ cố định để xuyên kim nên khả năng đặt chính xác
vào rãnh thể mi rất cao.
* Các kỹ thuật buộc chỉ vào càng thể thủy tinh nhân tạo
+ Kỹ thuật buộc chỉ kiểu thòng lọng: thường được áp dụng trong các
trường hợp càng TTT nhân tạo không có lỗ trên càng, các phẫu thuật viên
thường dùng dụng cụ kẹp đầu càng cho dẹt, khi đặt thòng lọng sẽ không
bị tuột chỉ.
+ Kỹ thuật xuyên chỉ qua lỗ trên càng TTT nhân tạo: Phương pháp
xuyên chỉ cố định qua lỗ trên càng TTT nhân tạo để buộc chỉ tạo nốt chỉ
theo kỹ thuật vòng xoắn và tạo nút chỉ liên tục kiểu thòng lọng.
Hình 1.1. Luồn nút chỉ liên tục kiểu thòng lọng
* Sử dụng đèn nội soi nhãn cầu trong cố định thể thủy tinh nhân tạo
vào rãnh thể mi.
Những tiến bộ của đèn soi nhãn nội cầu trong những năm cho phép
chưa điều trị phẫu thuật, bệnh tim mạch, bệnh hệ thống, tiểu đường…
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Đây là nghiên cứu tiến cứu, thử nghiệm lâm sàng, theo dõi dọc, không
có nhóm đối chứng. Bệnh nhân được nghiên cứu theo dõi từ khi đến nhập
viện, ra viện và sau khi ra viện tại các thời điểm: ra viện, 1tháng, 3 tháng,
6 tháng, 1 năm. Các dữ liệu được thu thập theo mẫu bệnh án nghiên cứu
riêng.
2.2.2. Cỡ mẫu
Kính thước mẫu được xác định bằng công thức
Z1 /2 (hệ số tin cậy) = 1.96 khi = 0,05; p: tỷ lệ thành công của phẫu
thuật,ước tính p=90%.
€: sai số mong muốn, chọn € =0,1.
Từ công thức tính ra được cỡ mẫu trong nghiên cứu: n~92 mắt.
Chúng tôi chọn 103 mắt của bệnh nhân với đủ tiêu chuẩn lựa chọn đưa
vào nghiên cứu, thời gian theo dõi tối thiểu là 12 tháng.
2.2.3. Các bước tiến hành nghiên cứu
2.2.3.1.
Đánh giá đặc điểm lâm sàng của bênh nhân trước
phẫu thuật
a) Phần hỏi bệnh
Ghi nhận về tuổi, giới, nghề nghiệp, địa chỉ và số điện thoại liên lạc
của bệnh nhân.Hỏi bệnh sử: lý do đến khám và điều trị.Các bệnh lý toàn
thân, tại mắt liên quan đến bệnh lý TTT dẫn đến không còn TTT Các phẫu
thuật đã được thực hiện thuật trước đó, ở đâu? thời gian bao lâu?, diễn biến
sau những lần điều trị trước đây? (có thể tham khảo thông qua bệnh án cũ
nhãn cầu qua vị trí rạch giác mạc rìa phía trên. Phẫu thuật viên di
chuyển hướng đèn nội soi chiếu vào vùng rãnh thể mi tương ứng với
vùng củng mạc rìa đã tạo rãnh trong khi tay còn lại xuyên kim đã luồn
chỉ 10/0 từ ngoài vào trong nhãn cầu qua đường rạch củng mạc cách rìa
1mm. Quan sát dưới đèn nội soi nội nhãn, thấy đầu kim đi vào nhãn cầu
xuyên qua rãnh thể mi, phẫu thuật viên có thể chỉnh hướng xuyên kim
để kim xuyên chính xác vào đúng rãnh thể mi.Rút đầu nội soi nội nhãn
khỏi nhãn cầu, dùng hook kéo đầu chỉ ra ngoài qua mép rạch giác mạc
phía trên, phẫu thuật viên lặp lại quá trình đặt nút chỉ với phía đối diện.
+ Buộc chỉ treo vào TTT nhân tạo theo kỹ thuật nút chỉ liên tục (hình vẽ).
Luồn quai chỉ vào lỗ trên càng TTT nhân tạo CZ70BD, rút lên và vòng
qua đầu mút càng TTT nhân tạo, sau đó kéo chỉ cố định TTT nhân tạo thì
quai chỉ sẽ được buộc chặt vào càng TTT nhân tạo.
Hình 1.5. Nút chỉ thòng lọng liên tục ở càng TTTNT
+Rạch rộng giác mạc, đưa TTT nhân tạo vào trong hậu phòng.Cố
định càng TTT nhân tạo vào thành củng mạc bằng mũi chỉ liên tục bằng
chính sợi chỉ buộc càng TTT nhân tạo, dấu mũi chỉ vào trong chiều dày
củng mạc.
+ Khâu kết mạc che phủ.Khâu giác mạc một hoặc hai mũi chỉ poly –
propylene 10/0, bơmphù mép mổ giác mạc phía trên kết thúc phẫu
thuật.Ghi nhận các diễn biến bất thường trong phẫu thuật.
2.2.4. Các biến số và chỉ số nghiên cứu chính
2.2.4.1. Các chỉ số về đặc điểm bệnh nhân trước phẫu thuật:Phân bố
bệnh nhân theo nhóm tuổi, Giới tính, nghề nghiệp, nguyên nhất và thời
gian mất bao sau của thể thủy tinh, các loại, số lần phẫu thuật trước đó,
đặc điểm thị lực của bệnh nhân chưa chỉnh kính và chỉnh kính tối đa trước
phẫu thuật. Đặc điểm nhãn áp, khúc xạ của bệnh nhân trước phẫu thuật.
Các tổn thương của nhãn cầu trước phẫu thuật: giác mạc, mống mắt, dịch
kính, võng mạc.
tạo sau phẫu thuật.
*Đánh giá vị trí nút chỉ cố định thể thủy tinh nhân tạo ngoài củng mạc
+ Tốt: nút chỉ được dấu tốt khi đầu chỉ được dấu hoàn toàn trong rãnh
củng mạc, chỉ có cầu chỉ căng phẳng được kết mạc che phủ hoàn toàn.
+ Trung bình: đầu nút chỉ nằm hoàn toàn trong rãnh củng mạc, xuất
hiền cầu chỉ lỏng đội vồng kết mạc.
+ Xấu: nút chỉ nằm hoàn toàn ngoài rãnh củng mạc.
* Đánh giá biến chứng
+ Biến chứng trong phẫu thuật:Xuất huyết dịch kính, bong hắc mạc,
hở
mép mổ giác mạc, xuất huyết tiền phòng, xuất huyết dịch kính, phản ứng
viêm sau mổ, viêm nội nhãn, tăng nhãn áp.
+ Biến chứng muộn:Biến chứng liên quan đến nút chỉ, viêm màng bồ
đào, tăng nhãn áp.
*Đánh giá kết quả chung của phẫu thuật
+ Tốt: TTT nhân tạo tạo cân, không có biến chứng trong và sau
phẫu thuật.Th ị lực b ằng hoặc tăng hơn so với thị lực ch ỉnh kính tối đa
trướ c phẫu thuật.
+ Khá: TTT nhân tạo cân hoặc lệch nhẹ, xuất hiện cầu chỉ lỏng dưới
kết mạc, thị lực tăng. Nhưng kém thị lực chỉnh kính tối đa trước phẫu
thuật.
+ Thất bại: TTT nhân tạo lệch vừa hoặc nhiều, lộ nút chỉ cố định kết
mạc, có biến chứng trong hoặc sau phẫu thuật.Thị lực không tăng hoặc
giảm.
* Đánh giá các yếu tố liên quan ảnh hưởng đến kết quả của phẫu
thuật
+ Các yếu tố liên quan đến kết quả thị lực sau phẫu thuật.
+ Các yếu tố liên quan đến kết quả giải phẫu sau phẫu thuật.
3.1.1.4..Mắt bị bệnh
Nghiên cứu được tiến hành trên 94 bệnh nhân, 103 mắt mất thể thủy
tinh, trong đó mắt phải chiếm 47,6% (49 mắt), mắt trái chiếm 52,4% (54
mắt) không có sự khác biệt giữa mắt phải và mắt trái (p > 0,05).
3.1.1.5. Nguyên nhân mất bao sau và thể thủy tinh
Nguyên nhân chủ yếu mất thể thủy tinh là chấn thương (80,6%), trong
đó chấn thương đụng dập chiếm 35,9% và chấn thương xuyên là 44,7%.
Nguyên nhân thường gặp tiếp theo là những bệnh lý TTT bẩm sinh, chiếm
16,5%.
3.1.1.6. Thời gian mất bao sau và thể thủy tinh
Phần lớn số mắt có thời gian mất bao sau và TTT từ 13 tháng, chiếm
56,3% (p
3.2.1.2. Kết quả thị lực có chỉnh kính tối đa tại các thời điểm theo dõi
Bảng 3.1. Kết quả thị lực chỉnh kính ở các thời điểm
Thời Trướ
điểm c PT
Ra
viện
1
kính tháng
lỗ
3
tháng
6
tháng
12 tháng
Thị lực
Số
Số
Số
Số
Số
Số
chỉnh
%
16,6
16
15,5
15
14,5
16
15,5
20/200
> 20/200 32
31,1
35
34,0
43
41,7
37
35,9
24
23,3
17
16,5
20/70
20/60
15
14,6
28
27,2
43
41,7
49
47,6
Trước phẫu thuật
Thị lực ra viện
Sau phẫu thuật 1 tháng
Sau phẫu thuật 3 tháng
Sau phẫu thuật 6 tháng
Thị lực chỉnh kính trung bình
logMAR
(Min; max)
0.94±0.33(1.8 0.2)
0.85±0.42 (1.9 0.2)
0.63±0.29 (1.3 0.2)
0.59±0.29 (1.3 0.1)
0.56±0.31 (1.3 0.1)
Sau phẫu thuật 12 tháng
0.56±0.31 (1.3 0.1)
3.2.1.3. Kết quả khúc xạ tồn dư sau phẫu thuật
Trong số 96 mắt đo được khúc xạ, độ loạn thị dao động rất lớn. Số
mắt có độ loạn thị ≤ 1 Diop chiếm đa số. Trước phẫu thuật, có 65,6% số
mắt có độ loạn thị ≤ 1 Diop, 18,8% số mắt có độ loạn thị dao động từ 12
Diop. Sau phẫu thuật 1 tháng, độ loạn thị nhìn chung tăng lên, số mắt có
độ loạn thị ≤ 1 Diop giảm còn 47,9%, trong khi đó số mắt có độ loạn thị
từ 1 2 Diop tăng lên 28,1%, số loạn thị cao hơn 2 Diop cũng tăng lên so
với các con số tương ứng trước phẫu thuật (p 0,05).
Có 55 mắt trong nghiên cứu đếm được số tế bào nội mô. Trong số
đó, 53 mắt có số tế bào nội mô trên 2000 TB/mm 2 ở cả 2 thời điểm trước
phẫu thuật và sau phẫu thuật 6 tháng. Số mắt có mật độ tế bào nội mô >
2500 giảm từ 45,5% (trước phẫu thuật) xuống 41,8% (6 tháng sau phẫu
thuật), tuy vậy sự khác biệt mật độ tế bào nội mô trước và sau phẫu thuật
không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
3.2.5. Đanh gia kêt qua chung cua phâu thuât
́
́ ́
̉
̉
̃
̣
Bảng 3.3: Mức độ thành công của phẫu thuật
Kết quả phẫu thuật
Tốt
Số mắt
97
%
94,18%
Khá
3
2,91%
Thất bại
sau phẫu thuật
Ở tất cả các thời điểm, tổn thương giác mạc có ảnh hưởng lên chỉ số
khúc xạ trụ. Nhóm tổn thương giác mạc trung tâm có độ loạn thị trước và
sau phẫu thuật sao hơn nhóm giác mạc bình thường và có tổn thương giác
mạc ngoại vi. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p 0,05). Tuy vậy từ
tháng thứ 3 trở đi thị lực chỉnh kính ở nhóm chấn thương đụng giập cao
hơn rõ rệt nhóm chấn thương xuyên (p 0,05). Nhóm bệnh nhân có thời gian mất TTT và bao sau trên 12
tháng chủ yếu là những trường hợp lấy TTT trong bao điều trị các bất
thường bẩm sinh của TTT.
3.4.2.3. Số lần phẫu thuật, loại phẫu thuạt trước đó
Số lần phẫu thuật trước đó không ảnh hưởng đến thị lực sau phẫu
thuật ở các thời điểm (p>0,05).Thị lực chỉnh kính ở nhóm đã phẫu thuật
cắt dịch kính + cắt TTT có hoặc không khâu củng giác mạc và nhóm đã
phẫu thuật lấy TTT trong bao cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm đã
được phẫu thuật cắt dịch kính điều trị bong võng mạc, viêm mủ nội nhãn,
dị vật nội nhãn kết hợp với lấy TTT. Sự khác biệt thị lực chỉnh kính ở cả
hai nhóm có ý nghĩa thống kê ở tất cả các thời điểm theo dõi sau phẫu
thuật (p
0,943
Tình trạng GM trước PT
0,000
Tình trạng mống mắt trước PT
0,447
Tình trạng đồng tử trước PT
0,408
Tình trạng dịch kính trước PT
0,539
Tình trạng võng mạc
0,011
Loại phẫu thuật trước đó
0,014
Tuổi
0,329
TTT nhân tạo nghiêng lệch được đánh giá trên lâm sàng cao hơn nhóm còn
lại (giác mạc trong và tổn thương giác mạc rìa), với p
thương giác mạc, trong đó 25,2% có tổn thương giác mạc trung tâm cũ, vì
vậy cũng phần nào gây ra hoặc tăng độ loạn thị sẵn có của bệnh nhân.
4.1.2.3. Đặc điểm các yếu tố giải phẫu
Vì nhóm nghiên cứu gồm những mắt mất TTT, đã trải qua các chấn
thương cũ và các phẫu thuật trước đó, chính vì vậy những mắt này không
còn tính toàn vẹn, có thể kèm theo những tổn thương khác nhau. Cụ thể có
13,6% số mắt có sẹo củng mạc do vỡ củng mạc cũ đã khâu, 59,2% số
mắt có tổn thương mống mắt, bao gồm nhiều tổn thương khác nhau như
xơ hóa, dính, đứt chân mống mắt, mất mống mắt 1 phần hoặc toàn bộ…
Những tổn thương mống mắt sẽ dẫn đến những bất thường về đồng tử
như đồng tử méo xếch (40,8%), đồng tử giãn rộng trên 5mm (19,8%). Có
46,9% số mắt có các tổn thương võng mạc khác nhau, trong đó 10,7% có
tổn thương võng mạc ở hậu cực, 26,2% có các tổn thương khác, 1 mắt
bong võng mạc cũ đã phẫu thuật nhưng còn vùng bong dẹt phía dưới.
86,4% số mắt dịch kính sạch, số còn lại có vẩn đục dịch kính độ 1,2
(13,6%).
4.1.2.4. Đặc điểm nhãn áp trước phẫu thuật
Phần lớn số mắt có nhãn áp trong giới hạn bình thường trước phẫu
thuật với nhãn áp trung bình là 17,6 mmHg. Chỉ có 5 mắt có nhãn áp > 22
mmHg (4,8%). Chỉ những trường hợp có tổn thương vùng bè hoặc vùng
thể mi, gây ảnh hưởng đến con đường lưu thông thủy dịch mới có hiện
tượng nhãn áp.
4.2. Kết quả phẫu thuật
4.2.1. Kết quả thị lực
4.2.1.1.Kết quả thị lực không chỉnh kính
Sau 1 tháng, con số này có sự cải thiện đáng kể. Không còn mắt nào
có thị lực kém dưới 20/400. 76,7% số mắt có thị lực tốt hơn 20/200, đáng
lưu ý có 24,3% số mắt có thị lực tốt hơn 20/60. Nguyên nhân của sự thay
đổi thị lực rõ rệt này là do ở thời điểm ra viện, thị lực bị ảnh hưởng bởi
nhiều yếu tố nhiễu như giác mạc còn phù, phản ứng viêm trong tiền
4.2.3.1. Kết quả tình trạng thể thủy tinh nhân tạo trên lâm sàng
Một trong những tiêu chí thành công của phẫu thuật là độ cân đối của
TTT nhân tạo. Ở thời điểm mới ra viện, 92,2% số mắt được đánh giá có
TTT nhân tạo cân đối, 8 mắt có lệch TTT nhân tạo ở các mức độ khác nhau,
chiếm 7,8%. Từ thời điểm 1 tháng trở đi, số mắt lệch TTT nhân tạo T
không thay đổi nhưng từ tháng thứ 3 xuất hiện một mắt có hiện tượng
nghiêng TTT nhân tạo.
Trong nhóm lệch TTT nhân tạo, có 5 mắt TTT nhân tạo được đặt
lệch một cách chủ động. Trên những mắt này, chúng tôi chủ động thực
hiện phẫu thuật sao cho vùng trung tâm của TTT nhân tạo nằm sau vùng
giác mạc trong, trên thực tế, những trường hợp này, nếu không có tổn
thương võng mạc phối hợp, thị lực cải thiện rõ rệt. Thị lực những mắt
TTT nhân tạo lệch trung bình và lệch nhiều trên có thị sau phẫu thuật
20/400 (1 mắt); 20/100 đến 20/60 (4 mắt).
Từ tháng thứ 3 trở đi, một mắt có hiện tượng nghiêng trên lâm sàng,
tương ứng với hiện tượng lỏng cầu chỉ xuất hiện trên mắt này. Tuy vậy
thị lực trường hợp này giảm không nhiềudo loạn thị, từ 20/100 xuống
20/200, mắt yên nên chúng tôi theo dõi mà không xử trí gì.
4.2.3.2. Tình trạng thể thủy tinh nhân tạo trên siêu âm bán phần trước
Trên siêu âm bán phần trước, một TTT nhân tạo được đánh giá cân khi
càng TTT nhân tạo T nằm trong rãnh thể mi, tâm của TTT nhân tạo lệch so
với trục đi qua đỉnh giác mạc dưới 1mm. Tuy vậy trong nghiên cứu này của
chúng tôi, vì nhóm có tổn thương giác mạc chiếm đến 52,3% với 25,2% số
mắt có tổn thương giác mạc trung tâm nên không thể lấy giác mạc là mốc
giải phẫu để đánh giá độ cân đối của TTT nhân tạo. Hiện tượng nghiêng
hoặc lệch TTT nhân tạo có thể gây ra loạn thị, quang sai, bệnh nhân có thể
có cảm giác chói, lóa. Trên một bệnh nhân đã có loạn thị trước đó thì
nghiêng hay lệch TTT nhân tạo có thể làm tăng hoặc giảm độ loạn thị toàn
không có biến chứng hoặc biến chứng được điều trị tốt, không gây ảnh
hưởng đến thị lực. Tuy nhiên trong nghiên cứu này, có 5 mắt TTT nhân tạo
được đặt lệch để tránh sẹo giác mạc, cả 5 mắt này sau đó thị lực đều phục
hồi rất tốt. Kết quả chung của phẫu thuật ở thời điểm 12 tháng sau phẫu
thuật thu được thành công 94,18% (97/103 mắt), 3 mắt có kết quả thành
công một phần do TTT nhân tạo nghiêng, do lỏng cầu chỉ (1 mắt), thị lực
không tăng trên 1 hàng do có tổn thương võng mạc cũ (2 mắt), lộ chỉ (3
mắt).
Kết quả trên đạt được là kết quả của nhiều yếu tố: sử dụng đèn nội
soi nội nhãn trong phẫu thuật giúp định vị chính xác vị trí cố định TTT
nhân tạo, yếu tố quyết định thành công của phẫu thuật, đồng thời giúp
kiểm soát tốt các biến chứng xảy ra trong phẫu thuật, phẫu thuật viên xử
trí kịp thời, không để diễn biến nặng; cải tiến trong kỹ thuật buộc và dấu
chỉ cố định TTT nhân tạo, giảm đáng kể tỷ lệ lộ chỉ so với các kỹ thuật
khác, giảm nguy cơ biến chứng viêm và nhiễm trùng sau mổ, giảm cảm
giác khó chịu cho bệnh nhân.
4.2.5. Biến chứng
Nhờ ứng dụng đèn soi nội nhãn trong quá trình phẫu thuật mà tỷ lệ
biến chứng trong mổ thấp (7,8%), chỉ gặp biến chứng xu ất huy ết n ội
nhãn, thường xuất huyết nhỏ, tự giới hạn. Biến chứng sớm khác là phản
ứng viêm màng bồ đào (7/103 mắt), bong hắc mạc (2/103 mắt). Vì vậy
những biến chứng này thường không nghiêm trọng và dần cải thiện với
điều trị sau một thời gian ngắn.
4.3. Các yếu tố liên quan đến kết quả phẫu thuật cố định thể thủy
tinh nhân tạo
4.3.1. Yêu tố liên quan giữa tổn thương giác mạc và độ loạn thị
Nhận thấy những mắt có tổn thương giác mạc trung tâm có độ loạn
thị giác mạc cao hơn nhóm giác mạc trong và giác mạc có sẹo ở ngoại vi
Tổn thương võng mạc: Nghiên cứu này của chúng tôi ghi nhận
36,9% số mắt có tổn thương võng mạc với các mức độ khác nhau, trong
đó 10,7% có tổn thương võng mạc hậu cực, 14,6% tổn thương võng mạc
ngoại vi. Nhóm mắt có tổn thương võng mạc hậu cực có thị lực chỉnh
kính sau mổ thấp nhất so với các nhóm còn lại ở tất cả các thời điểm theo
dõi. Ở thời điểm sau mổ 1 tháng, nhóm tổn thương võng mạc trung tâm có
thị lực logMAR là 1,05 so với 0,55 của nhóm bình thường và 0,73 nhóm
những tổn thương khác.Tương tự sau mổ 12 tháng, thị lực logMAR là
1,cao hơn 2 nhóm còn lại (0,7 và 0,66), p