Tóm tắt Luận án tiến sĩ Lịch sử: Cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam trên lĩnh vực đối ngoại từ năm 1954 đến năm 1975 - Pdf 58

HCVINCHNHTRQUCGIAHCHMINH

INHCDUY

Cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc
của Việt Nam trên lĩnh vực đối ngoại
từ năm 1954 đến năm 1975
Chuyờnngnh :LchsPhongtrocngsncụngnhõnquct
vgiiphúngdõntc
Mós
:62220312

tóm tắt luận án tiến sĩ

hà nội - 2019


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS. Nguyễn Thị Quế

Phản biện 1: 
   
Phản biện 2: 
   
Phản biện 3: 
    

Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học  
viện, họp tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

trong đối ngoại để bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất đất nước từ năm 
1954 đến năm 1975 vẫn còn nguyên giá trị  thực tiễn và mang tính thời sự 
sâu sắc. 
Với lý do trên, tác giả chọn đề  tài "Cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập  
dân tộc của Việt Nam trên lĩnh vực đối ngoại từ  năm 1954 đến năm  
1975" làm Luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử  phong trào cộng 
sản, công nhân quốc tế và giải phóng dân tộc. 
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích


2
Luận án phân tích làm rõ cơ sở hoạch định, nội dung và quá trình triển 
khai đấu tranh trên lĩnh vực đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ chống  
Mỹ, cứu nước từ  năm 1954 đến năm 1975, để  góp phần bảo vệ  độc lập 
dân tộc, từ đó rút ra nhận xét và kinh nghiệm. 
2.2. Nhiệm vụ của luận án
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung làm rõ những nhiệm vụ 
sau: Phân tích cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam trong 
cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc từ  năm 1954 đến năm 1975; Phân 
tích nội dung chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong 
cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc từ  năm 1954 đến năm 1975; Phân 
tích quá trình triển khai chính sách đối ngoại của Việt Nam trong công 
cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc từ năm 1954 đến năm 1975; Nhận 
xét và rút ra kinh nghiệm về  cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc của  
Việt Nam trên lĩnh vực đối ngoại từ năm 1954 đến năm 1975.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu 
Luận án tập trung nghiên cứu cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc  
của Việt Nam trên lĩnh vực đối ngoại trong giai  đoạn chống Mỹ, cứu  

của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và hệ  thống  
phương pháp luận sử  học mácxít. Quan điểm của chủ nghĩa Mác ­ Lênin, 
tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế.  Đồng thời, luận án 
còn dựa trên Cương lĩnh chính trị, đường lối đối ngoại của Đảng Lao  
động Việt Nam.  Luận án căn cứ  trên văn kiện các đại hội, hội nghị  của 
Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975. 
­  Phương pháp nghiên cứu của luận án là: Phương pháp lịch sử, phân 
tích, so sánh, đối chiếu, thống kê, khái quát, tổng hợp, lôgic, quy nạp, diễn  
dịch v.v... 
5. Những đóng góp của luận án
Luận án phân tích làm rõ quan niệm về  bảo vệ  độc lập dân tộc trên 
lĩnh vực đối ngoại  và cơ  sở  hoạch định chính sách đối ngoại của Việt  
Nam từ  năm 1954 đến năm 1975; Luận án phân tích nội dung chính sách đối 
ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam  để bảo vệ độc lập dân tộc từ năm  
1954   đến  năm   1975  bao   gồm:   Mục   tiêu,   tư   tưởng   chỉ   đạo,   nguyên  tắc,  
phương châm, phương hướng và nhiệm vụ đối ngoại. Trên cơ sở đó, luận án 
làm rõ quá trình triển khai chính sách đối ngoại của Việt Nam để  bảo vệ 
độc lập dân tộc từ năm 1954 đến năm 1975. Đồng thời, luận án rút ra nhận 
xét về thuận lợi, khó khăn và kinh nghiệm của quá trình đấu tranh bảo vệ 
độc lập dân tộc trên lĩnh vực đối ngoại của Việt Nam từ  năm 1954 đến 


4
năm 1975;  Luận án có thể  sử  dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác  
nghiên cứu, giảng dạy môn học liên quan.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở  đầu, kết luận,   danh mục  tài liệu tham khảo và phụ 
lục, nội dung của luận án gồm 4 chương, 10 tiết.
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Hoàng Đức Thịnh, Đường lối tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế của Đảng giai  
đoạn 1965 ­ 1975; Vũ Dương Ninh,  Cách mạng Việt Nam trên bàn cờ  
quốc tế, lịch sử và vấn đề v.v...
1.1.1.2. Các công trình liên quan đến quá trình triển khai đấu tranh bảo  
vệ độc lập dân tộc trên lĩnh vực đối ngoại của Việt Nam từ năm 1954 đến  
năm 1975
Khu di tích Chủ  tịch Hồ  Chí Minh tại Phủ  Chủ  tịch,  Hoạt động đối  
ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nước Châu Á (1954 ­ 1969) ; Mai 
Văn Bộ, Tấn công ngoại giao và tiếp xúc bí mật; Lưu Văn Lợi, Năm mươi  
năm ngoại giao Việt Nam; Ban chỉ  đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc 
Bộ  Chính trị, Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 ­ 1975 thắng lợi và  
bài học; Nguyễn Phúc Luân chủ biên, Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự  
nghiệp giành độc lập, tự  do (1945 ­ 1975); Lê Đình Chỉnh,  Quan hệ  đặc  
biệt hợp tác toàn diện Việt Nam ­ Lào trong giai đoạn 1954 ­ 2000 ; Đảng 
Nhân dân Cách mạng Lào ­ Đảng Cộng sản Việt Nam,  Lịch sử  quan hệ  
đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam, Biên niên sự  kiện I (1930 ­  
1975); Nguyễn Duy Trinh,  Mặt trận ngoại giao thời kỳ  chống Mỹ, cứu  
nước (1965 ­ 1975); Nguyễn Thị Mai Hoa, Các nước xã hội chủ nghĩa ủng  
hộ  Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 ­ 1975) ; Bộ  Ngoại 
giao Việt Nam, Sự thật về quan hệ Việt Nam ­ Trung Quốc trong 30 năm  
qua; Trần Mai Hùng,  Sự  giúp đỡ  của Liên Xô đối với Việt Nam trong hai  
cuộc  kháng   chiến   chống   thực  dân  Pháp   và  đế   quốc  Mỹ;   Nguyễn  Khắc 
Huỳnh, Ngoại giao Việt Nam góc nhìn và suy ngẫm; Bộ  Ngoại giao chủ  trì 
biên soạn,  Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về  Việt Nam; 
Nguyễn Đình Bin chủ biên, Ngoại giao Việt Nam 1945 ­ 2000; Vũ Dương 
Ninh, Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam 1940 ­ 2010 v.v...
1.1.2. Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Richard Reeves,  Một nhiệm kỳ  Tổng thống dở  dang ;  Richard Nixon, 



CỦA VIỆT NAM NHẰM ĐẤU TRANH BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN 
TỘC 


7
TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1975 
2.1. Cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại của  Việt Nam từ năm 
1954 đến năm 1975 
2.1.1. Một số quan niệm 
2.1.1.1. Quan niệm về độc lập, dân tộc và độc lập dân tộc 
* Quan niệm về độc lập: Trong Đại Từ điển Tiếng Việt, nêu ra thuật 
ngữ  "độc lập" của một (nước) dân tộc là: Nước, dân tộc có chủ  quyền 
không phụ thuộc vào nước khác, dân tộc khác. 
* Quan niệm về dân tộc: Theo Đại Từ  điển tiếng Việt thì "dân tộc" 
là: Cộng đồng người ổn định hình thành trong quá trình lịch sử của xã hội,  
có chung tiếng nói, lãnh thổ, đời sống kinh tế và tâm lý. 
  *  Quan niệm về  độc lập dân tộc:  Phan Văn Rân, Nguyễn Hoàng 
Giáp trong cuốn sách "Chủ quyền quốc gia dân tộc trong xu thế toàn cầu  
hóa và vấn đề  đặt ra với Việt Nam " đưa ra quan niệm: Độc lập dân tộc 
thể  hiện  ở  quyền độc lập tự  chủ  trong việc lựa ch ọn con đườ ng phát 
triển của dân tộc mình, thể hiện qua việc quy ết định mọi vấn đề  chính 
trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, trong việc thiết l ập và thực thi quyền lực  
thông qua các hoạt động   lập pháp, tư  pháp, tiến hành mà không có sự 
can thiệp từ phía các quốc gia khác.
Quan niệm của tác giả  luận án: Độc lập dân tộc của một quốc gia ,  
dùng để  chỉ  một thực thể  quốc gia toàn vẹn lãnh thổ, thực sự  làm chủ  
được tất cả các quyền và lợi ích chính đáng của mình, trên các lĩnh vực:  
thể  chế chính trị (lập pháp, hành pháp, tư  pháp), kinh tế, văn hóa, xã hội,  
quốc phòng, an ninh, đối nội và đối ngoại, phù hợp với Hiến chương Liên  
hợp quốc và luật pháp quốc tế.

phát triển của một quốc gia. 
* Quan niệm về bảo vệ độc lập dân tộc trên lĩnh vực đối ngoại 
C. Mác và Ph. Ăngghen cho rằng: Ngoại giao của những chính phủ hoạt 
động theo lối cũ, sẽ không bao giờ giải quyết được khó khăn. 
Quan điểm của  V.I.  Lênin  cho rằng:  Đấu tranh bảo vệ  độc lập dân 
tộc  trên lĩnh vực đối ngoại  đối với các nước thuộc địa, phụ  thuộc  cần 
phải đấu tranh đánh đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế 
quốc và các thế  lực phản động để  giành , bảo vệ  độc lập, chủ  quyền và 


9
toàn vẹn lãnh thổ của mình. 
Quan niệm của Hồ  Chí Minh: Bảo vệ  độc lập dân tộc trên lĩnh vực 
đối ngoại là chính sách đối ngoại rộng mở, hòa hiếu với các dân tộc, đoàn  
kết quốc tế rộng rãi theo phương châm "thêm bạn, bớt thù". Tư  duy biện 
chứng "dĩ bất biến, ứng vạn biến" trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh 
vừa là nguyên tắc vừa là phương châm, phương pháp chỉ  đạo hoạt động  
đối ngoại và xử lý các vấn đề quốc tế. 
Quan niệm của tác giả  luận án về  bảo vệ  độc lập dân tộc trên lĩnh 
vực   đối   ngoại   là:  Bảo   vệ   quyền   tự   quyết   về   đường   lối,   chính   sách,  
chiến lược, sách lược đối ngoại của  quốc gia, thể hiện quyền chủ động  
trong triển khai chính sách đối ngoại, để  góp phần bảo vệ độc lập, chủ  
quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia và không để bất kỳ quốc gia, hay  
thế lực bên ngoài nào chi phối. 
2.1.2.  Truyền thống ngoại giao  để  bảo vệ  độc lập dân tộc của  
Việt Nam trên lĩnh vực đối ngoại trước năm 1954
Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt 
Nam, tổ tiên đã để lại cho hậu thế nhiều bài học ngoại giao, truyền thống  
yêu nước, tinh thần quật khởi chống ngoại xâm, ý chí tự cường dân tộc và 
bảo vệ  độc lập,  chủ  quyền đất nước. Sự  năng động,  sáng tạo trong hoạt 

mẽ của phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở châu Á, châu Phi, khu 
vực Mỹ latinh, góp phần cổ vũ to lớn, tiếp thêm sức mạnh cho Việt Nam  
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. 
* Bối cảnh khu vực Đông Nam Á
Trong khoảng thời gian từ  năm 1954 đến năm 1975  tình hình Đông 
Nam Á diễn biến phức tạp, lợi dụng sự mất đoàn kết, Mỹ đẩy mạnh xâm  
nhập, can thiệp, nhằm chi phối khu vực Đông Nam Á. Vấn đề này, thực tế 
đã ảnh hưởng không tốt đến cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của Việt 
Nam, gây khó khăn cho Việt Nam trong việc tập hợp lực lượng trong khu  
vực. Việc thúc đẩy quan hệ với ASEAN là một bài toán khó giải đối với 
Việt Nam lúc bấy giờ, ngoài sự khác biệt về hệ tư tưởng, thì sự  cấu kết,  
đồng thuận, thống nhất của khối lúc bấy giờ  còn nhiều hạn chế. Trong 
khi   các   nước   chủ   chốt  trong   khối   như   Thái   Lan,   Singapore,   Malaysia, 
Philippines đều là những đồng minh thân thiết với Mỹ. 


11
2.1.4. Bối cảnh trong nước 
Sau Hiệp định Giơnevơ, Mỹ  dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm 
âm mưu chia cắt Việt Nam lâu dài . Tại Đại hội đại biểu Đảng Lao động 
Việt Nam toàn quốc lần thứ  III (9/1960), căn cứ  phân tích tình hình cụ 
thể  của cách mạng hai miền, khẳng định:  Tiến hành cuộc cách mạng xã 
hội chủ  nghĩa  ở  miền Bắc là nhiệm vụ  quyết định nhất đối với sự  phát  
triển của toàn bộ  cách mạng Việt Nam, đối với sự  nghiệp thống nhất  
nước nhà". Miền Nam " có nhiệm vụ trực tiếp đánh đổ  ách thống trị  của 
đế  quốc Mỹ  và bọn tay sai của chúng để  giải   phóng miền Nam .  Với 
những thắng lợi trên mặt trận quân sự của qu ân dân miền Nam, sự thắng 
lợi trong chống chiến tranh phá hoại của nhân dân miền Bắc trong trận  
Điện Biên Phủ  trên không, kết hợp với những thành quả  đấu tranh trên 
mặt trận ngoại giao tại bàn đàm phán Paris đã buộc Mỹ ký vào bản Hiệp 

thực hiện quyết tâm: Giương cao ngọn cờ độc lập, hòa bình, đề  cao chính  
nghĩa, thế  tất thắng của ta, khoét sâu vào chỗ  yếu của địch về  chính trị,  
tập hợp lực lượng và hình thành mặt trận nhân dân thế  giới rộng rãi ủng 
hộ, chi viện cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta. 
2.2.2. Phương hướng và nhiệm vụ hoạt động đối ngoại
Phương hướng đối ngoại:  Việt Nam phải tập hợp được lực lượng 
dân chủ, yêu chuộng hòa bình trên thế  giới  ủng hộ ngày càng mạnh cuộc  
kháng chiến chống Mỹ  của Việt Nam.  Đẩy mạnh quan hệ  với Liên Xô, 
Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, thắt chặt quan hệ với các nước  
láng giềng.  Mặt trận đối ngoại phải đẩy mạnh tuyên truyền, giải thích, 
vận động để thế giới hiểu được sự  chính nghĩa của Việt Nam trong cuộc  
chiến với Mỹ. 
Nhiệm vụ  đối ngoại:  Phân tích sâu sắc tình hình thế  giới, khu vực, 
tình hình trong nước, kết hợp lý luận với thực tiễn để  hoạch định chiến 
lược, sách lược, phát huy thế  chủ động, hiệu quả trong đối ngoại ở  từng  
thời điểm cụ  thể  để  tập hợp lực lượng.  Nhiệm vụ  mặt trận đối ngoại  
phải tích cực, chủ  động, phối hợp chặt chẽ  với mặt trận chính trị, quân 
sự, kiên quyết đấu tranh, có chiến lược lâu dài và sách lược cụ  thể  trong  
từng giai đoạn, chủ động đấu tranh buộc Mỹ sớm rút quân khỏi Việt Nam. 
Tiểu kết chương 2
Đảng và Nhà nước  Việt Nam  trên cơ  sở  phân tích những thuận lợi, 
khó khăn của tình hình thế  giới, tình hình khu vực ,  tình hình trong nước 
đồng thời căn cứ trên quan điểm của chủ nghĩa Mác ­ Lênin, tư tưởng Hồ 


13
Chí Minh và truyền thống ngoại giao Việt Nam , để hoạch định chính sách đối 
ngoại  bao   gồm   mục   tiêu,   tư   tưởng   chỉ   đạo,   nguyên   tắc,   phương   châm,  
phương hướng  và nhiệm  vụ  nhằm  đấu  tranh  bảo vệ   độc lập dân tộc. 
Trong đó thể hiện sự chủ động, tích cực, linh hoạt, phát huy sức mạnh dân  

cung cấp hàng hóa, mậu dịch dài hạn, cử các chuyên gia sang giúp đỡ và đào  
tạo nhân lực cho Việt Nam. Bên cạnh sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô, Trung  
Quốc, các nước  xã hội chủ  nghĩa  anh em khác trong khối cũng có nhiều 
hành động thiết thực đã giúp đỡ Việt Nam v.v...
* Giai đoạn 1964 ­ 1975
Sự giúp đỡ của Liên Xô giành cho Việt Nam từ năm 1964 ­ 1975 là hết 
sức to lớn trên tất cả  nhiều mặt, đặc biệt trong lĩnh vực quân sự, giúp  
quân đội Việt Nam có đủ  trình độ  tác chiến và vũ khí hiện đại để  đương 
đầu với  Mỹ. Chuyến thăm của Chủ  tịch Hội đồng bộ  trưởng Liên Xô, 
A.N.Cosygin (2/1965) đến Việt Nam là dấu mốc quan trọng đánh dấu quan  
hệ  Liên Xô với Việt Nam được thắt chặt . Đặc biệt, trong giai đoạn quan 
trọng quyết định sự thành công của cuộc kháng chiến chống Mỹ từ 1972 ­  
1975, theo thống kê của Việt Nam, Liên Xô đã viện trợ cho Việt Nam 754  
triệu Rúp sự  giúp đỡ  này là hết sức thiết thực tiếp thêm sức mạnh cho  
Việt Nam đi đến giành thắng lợi cuối cùng.  Sự  giúp đỡ  của Trung Quốc 
cho Việt Nam trong suốt  thời  kỳ  chống Mỹ  là rất to lớn, với số  hàng hóa 
viện trợ lên đến 1.594.724 tấn, trong đó chủ  yếu viện trợ  không hoàn lại 
cho Việt Nam, chỉ tính riêng từ  năm 1972 đến 1975 Trung Quốc đã viện 
trợ  cho Việt Nam 325 triệu nhân dân tệ.   Ngoài ra, Trung Quốc còn tổ 
chức nhiều cuộc mít tinh lớn, thu hút hàng triệu người tham gia lên án 
Mỹ,  ủng hộ  Việt Nam. Trung Qu ốc c ử hàng ngàn chuyên gia sang giúp  
Việt Nam xây dựng các công trình quân sự, dân sự, giúp Việt Nam đào 
tạo nhiều học viên có chuyên môn, kĩ thuật để trở về xây  dựng đất nước, 
phục vụ  kháng chiến. Hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa đều giành cho 
Việt Nam sự   ủng hộ  nhiệt tình cả  về  vật chất lẫn tinh thần.   Theo tổng 
kết của Việt Nam, từ năm 1955 đến năm 1975 viện trợ của các nước xã 
hội chủ  nghĩa  anh em dành cho Nước Việt Nam Dân chủ  Cộng hòa là  
2.362.491 tấn v.v...
3.2. Quan hệ với Lào và Campuchia
3.2.1. Củng cố và phát triển liên minh Việt ­ Lào

hai chính phủ. Để  thắt chặt tình đoàn kết giữa ba nước Đông Dương, theo 
sáng kiến của Campuchia, ngày 24 đến 25/4/1970 Hội nghị  nhân dân ba 
nước Đông Dương diễn ra tại Bắc Kinh có sự  tham dự  của Thủ  tướng  
Phạm Văn Đồng, Chủ  tịch Nguyễn Hữu Thọ, Quốc trưởng   N.Sihanouk, 
Hoàng thân Suphanuvong. Hội nghị  đã ra tuyên bố, thể  hiện quyết tâm, 
tăng cường tình đoàn kết,  ủng hộ, giúp đỡ  lẫn nhau cùng chống kẻ  thù 
chung là Mỹ. Sự giúp đỡ của Việt Nam cho Campuchia, giúp bạn cũng là  


16
giúp chính mình, một mặt giúp cách mạng Campuchia phát triển, mặt khác  
giúp   Việt   Nam   trong   việc   bảo   vệ   con   đường   mòn   Trường   Sơn   huyết 
mạch để  đảm bảo việc miền Bắc chi viện cho miền Nam không bị  gián  
đoạn. 
3.3. Quan hệ với các nước dân chủ, các tổ  chức tiến bộ  và nhân 
dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ, cứu nước, bảo vệ độc lập 
dân tộc 
Thứ  nhất, Đảng Cộng sản các nước, các tổ  chức,  ủy ban, các hội  
khắp nơi trên thế  giới  ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam . 
Có thể  khẳng định, chưa có cuộc chiến tranh nào được khắp nơi trên thế 
giới có nhiều ủy ban, nhiều hội, nhiều tổ chức lên án mạnh mẽ như cuộc  
chiến tranh Việt Nam. Sự  ủng hộ này đã tạo nên một làn sóng mạnh mẽ 
trên thế giới, tác động đến chính phủ, nhân dân nhiều nước, tạo nên phong  
trào phản đối mạnh mẽ chiến tranh của Mỹ  ở Việt Nam. Không chỉ  giúp 
đỡ về mặt tinh thần, các tổ chức này còn có nhiều giúp đỡ thiết thực cho 
Việt Nam về mặt vật chất như  ủng hộ Việt Nam các dụng cụ y tế, hiến  
máu tặng Việt Nam, quyên góp tiền, cung cấp các nhu yếu phẩm cần thiết 
cho Việt Nam. 
Thứ hai, chính phủ các nước dân chủ tiến bộ và nhân dân yêu chuộng  
hòa bình thế  giới  ủng hộ  Việt Nam.  Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, 

Mỹ, ngày 31/3/1968 Tổng thống Johnson tuyên bố ném bom hạn chế miền  
Bắc và chấp nhận ngồi vào bàn thương lượng với  Việt Nam Dân chủ 
Cộng hòa.  Trên bàn đàm phán, việc thảo luận những vấn đề  chính vẫn 
chưa có nhiều chuyển biến thì những thắng lợi liên tiếp  trên mặt trận 
quân sự  đã có những tác động lớn đến bàn đàm phán, đặc biệt là chiến 
thắng trong trận  Điện Biên Phủ  trên không,  buộc Mỹ  phải ký vào bản 
Hiệp định Paris (27/1/1973) và rút quân về nước. Điều đó, tạo điều kiện 
thuận lợi để Việt Nam giải phóng miền Nam (30/4/1975), thống nhất đất 
nước.
Tiểu kết chương 3
Việc triển khai  chính sách  đối ngoại khôn khéo giúp Việt Nam tập  
hợp lực lượng, nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của  Liên Xô, Trung Quốc, 
các nước  xã hội chủ  nghĩa, hai nước láng giềng Lào và Campuchia, các 
nước dân chủ, các tổ  chức tiến bộ  và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế 
giới.  Trên tinh thần phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, 
phát huy nội lực, thể hiện sự độc lập, sáng tạo trong  chính sách đối ngoại 
của Việt Nam đã tranh thủ sự  giúp đỡ  của các nước cả  vật chất lẫn tinh  


18
thần. Qua đó, giúp xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc 
và tăng thêm sức mạnh cho tiền tuyến miền Nam trong cuộc kháng chiến 
chống Mỹ, cứu nước. Sự  sáng tạo trong chính sách đối ngoại còn được 
thể  hiện qua chiến lược  đánh ­ đàm, kế  hợp hiệu quả  giữa quân sự  với 
ngoại giao để giành thắng lợi cuối cùng.
Chương 4
NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM VỀ CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ 
ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA VIỆT NAM TRÊN LĨNH VỰC ĐỐI NGOẠI 
TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1975 
4.1. Nhận xét về cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc của Việt 

1954 ­ 1964, với "Chính sách hòa hoãn" dưới thời   Khrushchev, Liên Xô 
chưa quan tâm nhiều đến cuộc chiến tranh Việt Nam. Điều đó, gây khó  
khăn cho Việt Nam trong việc tri ển khai nh ững b ước  đi ngoại giao để 
thu hút sự  chú ý và tranh thủ  sự   ủng hộ của Liên Xô. Mặt khác, từ  năm 
1967   trở   đi,   Việt   Nam   triển   khai   chiến   l ược   "đánh   ­   đàm",   thu   được  
những kết quả  tích cực thì Liên Xô lại thúc giục Việt Nam phải sớm  
đàm phán với Mỹ  trong thời  điểm "chưa chín muồi" gây không ít khó  
khăn cho Việt Nam trong triển khai chính sách đối ngoại và chiến lược 
"đánh ­ đàm". 
Thứ  hai, trong quan hệ  với Trung Quốc : Trong quan hệ  với Trung  
Quốc, Việt Nam gặp khó khăn trong việc đoán định ý nghĩ sâu xa đằng sau  
sự  giúp đỡ  của Trung Quốc. Trung Quốc đã giành cho Việt Nam những  
khoản viện trợ lớn để đóng một vai trò quan trọng trong cuộc chiến tranh  
Việt Nam, tranh giành ảnh hưởng với Liên Xô, buộc Việt Nam phụ thuộc  
vào mình và thông qua cuộc chiến này làm cho Mỹ  suy yếu. Điều đó, gây 
nhiều khó khăn cho Việt Nam trong triển khai chính sách đối ngoại độc 
lập, tự chủ, bởi sự tác động và can thiệp có chủ ý của Trung Quốc.
Thứ ba, mâu thuẫn Xô ­ Trung đã ảnh hưởng không tốt đến sự ủng hộ  
đối với Việt Nam: Mâu thuẫn Xô ­ Trung là bất lợi rất lớn cho Việt Nam  
trong việc tập hợp, tranh thủ sự ủng hộ, bởi thực tế Việt Nam rất c ần s ự 
giúp đỡ  của cả  Liên Xô và Trung Quốc trong công cuộc xây dựng  chủ 
nghĩa xã hội  ở miền Bắc, đấu tranh chống Mỹ để giải phóng miền Nam. 
Mâu thuẫn Xô ­ Trung, đã đẩy Việt Nam rơi vào hoàn cảnh khó khăn, vừa  
phải đối đầu với Mỹ, vừa phải đương đầu với những vấn đề  khó phát 
sinh tác động xuất phát từ sự bất hòa của hai nước. Điều đó, gây ra những 


20
ảnh hưởng không tốt, tạo ra những khó khăn cho Việt Nam trong   triển 
khai chính sách đối ngoại để đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc. 



21
như  Việt Nam mong muốn và vẫn chưa lường trước hết được những hệ 
lụy xấu trong quan hệ với Trung Quốc. Tuy vậy, cuộc đấu tranh bảo vệ 
độc lập của Việt Nam trên lĩnh vực đối ngoại từ năm 1954 đến năm 1975 
đã để  lại những kinh nghiệm quý báu. Đó là sự  kết hợp sáng tạo lý luận  
với thực tiễn để xây dựng chính sách đối ngoại phù hợp, căn cứ tình hình 
cụ  thể  để  triển khai có hiệu quả. Giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập  
dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ  và phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh  
thời đại để  giành thắng lợi. Trong bất cứ  hoàn cảnh nào đều cần phải  
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu đã định, dĩ bất biến  
­  ứng vạn biến trong thực hiện sách lược, chiến lược để  đem đến thắng 
lợi cuối cùng.
KẾT LUẬN 
  Thứ  nhất,  Đảng Lao động Việt Nam và Nước Việt Nam Dân chủ 
Cộng hòa đã kế  thừa và phát huy hiệu quả  những giá trị  ngoại giao của  
ông cha vào trong sự  nghiệp chống Mỹ, cứu nước, bảo vệ  độc lập dân  
tộc. Lịch sử  ngoại giao của các thế  hệ  ông cha người Việt đã để  lại cho 
hậu bối bài học "ngoại giao tâm công", "vừa đánh, vừa đàm", biết người, 
biết ta, phân tích sâu sắc điểm mạnh, điểm yếu để  giành thắng lợi. Với 
nguyên tắc luôn giữ  vững độc lập, chủ  quyền, toàn vẹn lãnh thổ, được 
thực hiện  bằng phương  châm  "dĩ  bất  biến,  ứng  vạn  biến".  Vận  dụng 
"ngoại giao tâm công" trong đối ngoại, một mặt chứng minh Việt Nam là 
dân tộc yêu chuộng hòa bình, nêu cao tinh thần chính nghĩa trong cuộc đấu 
tranh bảo vệ  độc lập dân tộc. Mặt khác, đối ngoại thể  hiện sự  sắc sảo  
trong vạch trần bản chất, tội ác của đế  quốc Mỹ  đối với nhân dân Việt  
Nam và thức tỉnh lương tri của nhân loại. Từ 1967 trở đi, Việt Nam đưa ra  
chiến lược "đánh ­ đàm", phối hợp chặt chẽ giữa mặt trận quân sự ­ ngoại 
giao. Theo đó, những thắng lợi trên mặt trận quân sự sẽ giúp thế đàm phán 

miền. Mục tiêu đối ngoại của Việt Nam góp phần  xây dựng chủ nghĩa xã 
hội  ở miền Bắc trở  thành hậu phương vững chắc, giải phóng miền Nam 
khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước và xây dựng một 
nước Việt Nam giàu mạnh. Với  tư  tưởng chỉ  đạo, kiên định  chủ  nghĩa 
Mác ­ Lênin, đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng Lao động Việt Nam 
và Chủ  tịch Hồ Chí Minh, quyết tâm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc 
gắn liền với chủ  nghĩa xã hội. Nhiệm vụ  của mặt trận đối ngoại là xây 
dựng đường lối đối ngoại độc lập, tự  chủ  và kiên quyết đấu tranh đến 



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status