HCVINCHNHTRQUCGIAHCHMINH
INHCDUY
Cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc
của Việt Nam trên lĩnh vực đối ngoại
từ năm 1954 đến năm 1975
Chuyờnngnh :LchsPhongtrocngsncụngnhõnquct
vgiiphúngdõntc
Mós
:62220312
tóm tắt luận án tiến sĩ
hà nội - 2019
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS. Nguyễn Thị Quế
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học
viện, họp tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
trong đối ngoại để bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất đất nước từ năm
1954 đến năm 1975 vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn và mang tính thời sự
sâu sắc.
Với lý do trên, tác giả chọn đề tài "Cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập
dân tộc của Việt Nam trên lĩnh vực đối ngoại từ năm 1954 đến năm
1975" làm Luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử phong trào cộng
sản, công nhân quốc tế và giải phóng dân tộc.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích
2
Luận án phân tích làm rõ cơ sở hoạch định, nội dung và quá trình triển
khai đấu tranh trên lĩnh vực đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ chống
Mỹ, cứu nước từ năm 1954 đến năm 1975, để góp phần bảo vệ độc lập
dân tộc, từ đó rút ra nhận xét và kinh nghiệm.
2.2. Nhiệm vụ của luận án
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung làm rõ những nhiệm vụ
sau: Phân tích cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam trong
cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc từ năm 1954 đến năm 1975; Phân
tích nội dung chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong
cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc từ năm 1954 đến năm 1975; Phân
tích quá trình triển khai chính sách đối ngoại của Việt Nam trong công
cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc từ năm 1954 đến năm 1975; Nhận
xét và rút ra kinh nghiệm về cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc của
Việt Nam trên lĩnh vực đối ngoại từ năm 1954 đến năm 1975.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc
của Việt Nam trên lĩnh vực đối ngoại trong giai đoạn chống Mỹ, cứu
của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và hệ thống
phương pháp luận sử học mácxít. Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin,
tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế. Đồng thời, luận án
còn dựa trên Cương lĩnh chính trị, đường lối đối ngoại của Đảng Lao
động Việt Nam. Luận án căn cứ trên văn kiện các đại hội, hội nghị của
Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975.
Phương pháp nghiên cứu của luận án là: Phương pháp lịch sử, phân
tích, so sánh, đối chiếu, thống kê, khái quát, tổng hợp, lôgic, quy nạp, diễn
dịch v.v...
5. Những đóng góp của luận án
Luận án phân tích làm rõ quan niệm về bảo vệ độc lập dân tộc trên
lĩnh vực đối ngoại và cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại của Việt
Nam từ năm 1954 đến năm 1975; Luận án phân tích nội dung chính sách đối
ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam để bảo vệ độc lập dân tộc từ năm
1954 đến năm 1975 bao gồm: Mục tiêu, tư tưởng chỉ đạo, nguyên tắc,
phương châm, phương hướng và nhiệm vụ đối ngoại. Trên cơ sở đó, luận án
làm rõ quá trình triển khai chính sách đối ngoại của Việt Nam để bảo vệ
độc lập dân tộc từ năm 1954 đến năm 1975. Đồng thời, luận án rút ra nhận
xét về thuận lợi, khó khăn và kinh nghiệm của quá trình đấu tranh bảo vệ
độc lập dân tộc trên lĩnh vực đối ngoại của Việt Nam từ năm 1954 đến
4
năm 1975; Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác
nghiên cứu, giảng dạy môn học liên quan.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung của luận án gồm 4 chương, 10 tiết.
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Hoàng Đức Thịnh, Đường lối tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế của Đảng giai
đoạn 1965 1975; Vũ Dương Ninh, Cách mạng Việt Nam trên bàn cờ
quốc tế, lịch sử và vấn đề v.v...
1.1.1.2. Các công trình liên quan đến quá trình triển khai đấu tranh bảo
vệ độc lập dân tộc trên lĩnh vực đối ngoại của Việt Nam từ năm 1954 đến
năm 1975
Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Hoạt động đối
ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nước Châu Á (1954 1969) ; Mai
Văn Bộ, Tấn công ngoại giao và tiếp xúc bí mật; Lưu Văn Lợi, Năm mươi
năm ngoại giao Việt Nam; Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc
Bộ Chính trị, Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 1975 thắng lợi và
bài học; Nguyễn Phúc Luân chủ biên, Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự
nghiệp giành độc lập, tự do (1945 1975); Lê Đình Chỉnh, Quan hệ đặc
biệt hợp tác toàn diện Việt Nam Lào trong giai đoạn 1954 2000 ; Đảng
Nhân dân Cách mạng Lào Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử quan hệ
đặc biệt Việt Nam Lào, Lào Việt Nam, Biên niên sự kiện I (1930
1975); Nguyễn Duy Trinh, Mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu
nước (1965 1975); Nguyễn Thị Mai Hoa, Các nước xã hội chủ nghĩa ủng
hộ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 1975) ; Bộ Ngoại
giao Việt Nam, Sự thật về quan hệ Việt Nam Trung Quốc trong 30 năm
qua; Trần Mai Hùng, Sự giúp đỡ của Liên Xô đối với Việt Nam trong hai
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; Nguyễn Khắc
Huỳnh, Ngoại giao Việt Nam góc nhìn và suy ngẫm; Bộ Ngoại giao chủ trì
biên soạn, Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam;
Nguyễn Đình Bin chủ biên, Ngoại giao Việt Nam 1945 2000; Vũ Dương
Ninh, Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam 1940 2010 v.v...
1.1.2. Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Richard Reeves, Một nhiệm kỳ Tổng thống dở dang ; Richard Nixon,
CỦA VIỆT NAM NHẰM ĐẤU TRANH BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN
TỘC
7
TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1975
2.1. Cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam từ năm
1954 đến năm 1975
2.1.1. Một số quan niệm
2.1.1.1. Quan niệm về độc lập, dân tộc và độc lập dân tộc
* Quan niệm về độc lập: Trong Đại Từ điển Tiếng Việt, nêu ra thuật
ngữ "độc lập" của một (nước) dân tộc là: Nước, dân tộc có chủ quyền
không phụ thuộc vào nước khác, dân tộc khác.
* Quan niệm về dân tộc: Theo Đại Từ điển tiếng Việt thì "dân tộc"
là: Cộng đồng người ổn định hình thành trong quá trình lịch sử của xã hội,
có chung tiếng nói, lãnh thổ, đời sống kinh tế và tâm lý.
* Quan niệm về độc lập dân tộc: Phan Văn Rân, Nguyễn Hoàng
Giáp trong cuốn sách "Chủ quyền quốc gia dân tộc trong xu thế toàn cầu
hóa và vấn đề đặt ra với Việt Nam " đưa ra quan niệm: Độc lập dân tộc
thể hiện ở quyền độc lập tự chủ trong việc lựa ch ọn con đườ ng phát
triển của dân tộc mình, thể hiện qua việc quy ết định mọi vấn đề chính
trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, trong việc thiết l ập và thực thi quyền lực
thông qua các hoạt động lập pháp, tư pháp, tiến hành mà không có sự
can thiệp từ phía các quốc gia khác.
Quan niệm của tác giả luận án: Độc lập dân tộc của một quốc gia ,
dùng để chỉ một thực thể quốc gia toàn vẹn lãnh thổ, thực sự làm chủ
được tất cả các quyền và lợi ích chính đáng của mình, trên các lĩnh vực:
thể chế chính trị (lập pháp, hành pháp, tư pháp), kinh tế, văn hóa, xã hội,
quốc phòng, an ninh, đối nội và đối ngoại, phù hợp với Hiến chương Liên
hợp quốc và luật pháp quốc tế.
phát triển của một quốc gia.
* Quan niệm về bảo vệ độc lập dân tộc trên lĩnh vực đối ngoại
C. Mác và Ph. Ăngghen cho rằng: Ngoại giao của những chính phủ hoạt
động theo lối cũ, sẽ không bao giờ giải quyết được khó khăn.
Quan điểm của V.I. Lênin cho rằng: Đấu tranh bảo vệ độc lập dân
tộc trên lĩnh vực đối ngoại đối với các nước thuộc địa, phụ thuộc cần
phải đấu tranh đánh đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế
quốc và các thế lực phản động để giành , bảo vệ độc lập, chủ quyền và
9
toàn vẹn lãnh thổ của mình.
Quan niệm của Hồ Chí Minh: Bảo vệ độc lập dân tộc trên lĩnh vực
đối ngoại là chính sách đối ngoại rộng mở, hòa hiếu với các dân tộc, đoàn
kết quốc tế rộng rãi theo phương châm "thêm bạn, bớt thù". Tư duy biện
chứng "dĩ bất biến, ứng vạn biến" trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
vừa là nguyên tắc vừa là phương châm, phương pháp chỉ đạo hoạt động
đối ngoại và xử lý các vấn đề quốc tế.
Quan niệm của tác giả luận án về bảo vệ độc lập dân tộc trên lĩnh
vực đối ngoại là: Bảo vệ quyền tự quyết về đường lối, chính sách,
chiến lược, sách lược đối ngoại của quốc gia, thể hiện quyền chủ động
trong triển khai chính sách đối ngoại, để góp phần bảo vệ độc lập, chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia và không để bất kỳ quốc gia, hay
thế lực bên ngoài nào chi phối.
2.1.2. Truyền thống ngoại giao để bảo vệ độc lập dân tộc của
Việt Nam trên lĩnh vực đối ngoại trước năm 1954
Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt
Nam, tổ tiên đã để lại cho hậu thế nhiều bài học ngoại giao, truyền thống
yêu nước, tinh thần quật khởi chống ngoại xâm, ý chí tự cường dân tộc và
bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước. Sự năng động, sáng tạo trong hoạt
mẽ của phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở châu Á, châu Phi, khu
vực Mỹ latinh, góp phần cổ vũ to lớn, tiếp thêm sức mạnh cho Việt Nam
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
* Bối cảnh khu vực Đông Nam Á
Trong khoảng thời gian từ năm 1954 đến năm 1975 tình hình Đông
Nam Á diễn biến phức tạp, lợi dụng sự mất đoàn kết, Mỹ đẩy mạnh xâm
nhập, can thiệp, nhằm chi phối khu vực Đông Nam Á. Vấn đề này, thực tế
đã ảnh hưởng không tốt đến cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của Việt
Nam, gây khó khăn cho Việt Nam trong việc tập hợp lực lượng trong khu
vực. Việc thúc đẩy quan hệ với ASEAN là một bài toán khó giải đối với
Việt Nam lúc bấy giờ, ngoài sự khác biệt về hệ tư tưởng, thì sự cấu kết,
đồng thuận, thống nhất của khối lúc bấy giờ còn nhiều hạn chế. Trong
khi các nước chủ chốt trong khối như Thái Lan, Singapore, Malaysia,
Philippines đều là những đồng minh thân thiết với Mỹ.
11
2.1.4. Bối cảnh trong nước
Sau Hiệp định Giơnevơ, Mỹ dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm
âm mưu chia cắt Việt Nam lâu dài . Tại Đại hội đại biểu Đảng Lao động
Việt Nam toàn quốc lần thứ III (9/1960), căn cứ phân tích tình hình cụ
thể của cách mạng hai miền, khẳng định: Tiến hành cuộc cách mạng xã
hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát
triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đối với sự nghiệp thống nhất
nước nhà". Miền Nam " có nhiệm vụ trực tiếp đánh đổ ách thống trị của
đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng để giải phóng miền Nam . Với
những thắng lợi trên mặt trận quân sự của qu ân dân miền Nam, sự thắng
lợi trong chống chiến tranh phá hoại của nhân dân miền Bắc trong trận
Điện Biên Phủ trên không, kết hợp với những thành quả đấu tranh trên
mặt trận ngoại giao tại bàn đàm phán Paris đã buộc Mỹ ký vào bản Hiệp
thực hiện quyết tâm: Giương cao ngọn cờ độc lập, hòa bình, đề cao chính
nghĩa, thế tất thắng của ta, khoét sâu vào chỗ yếu của địch về chính trị,
tập hợp lực lượng và hình thành mặt trận nhân dân thế giới rộng rãi ủng
hộ, chi viện cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta.
2.2.2. Phương hướng và nhiệm vụ hoạt động đối ngoại
Phương hướng đối ngoại: Việt Nam phải tập hợp được lực lượng
dân chủ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới ủng hộ ngày càng mạnh cuộc
kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam. Đẩy mạnh quan hệ với Liên Xô,
Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, thắt chặt quan hệ với các nước
láng giềng. Mặt trận đối ngoại phải đẩy mạnh tuyên truyền, giải thích,
vận động để thế giới hiểu được sự chính nghĩa của Việt Nam trong cuộc
chiến với Mỹ.
Nhiệm vụ đối ngoại: Phân tích sâu sắc tình hình thế giới, khu vực,
tình hình trong nước, kết hợp lý luận với thực tiễn để hoạch định chiến
lược, sách lược, phát huy thế chủ động, hiệu quả trong đối ngoại ở từng
thời điểm cụ thể để tập hợp lực lượng. Nhiệm vụ mặt trận đối ngoại
phải tích cực, chủ động, phối hợp chặt chẽ với mặt trận chính trị, quân
sự, kiên quyết đấu tranh, có chiến lược lâu dài và sách lược cụ thể trong
từng giai đoạn, chủ động đấu tranh buộc Mỹ sớm rút quân khỏi Việt Nam.
Tiểu kết chương 2
Đảng và Nhà nước Việt Nam trên cơ sở phân tích những thuận lợi,
khó khăn của tình hình thế giới, tình hình khu vực , tình hình trong nước
đồng thời căn cứ trên quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ
13
Chí Minh và truyền thống ngoại giao Việt Nam , để hoạch định chính sách đối
ngoại bao gồm mục tiêu, tư tưởng chỉ đạo, nguyên tắc, phương châm,
phương hướng và nhiệm vụ nhằm đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc.
Trong đó thể hiện sự chủ động, tích cực, linh hoạt, phát huy sức mạnh dân
cung cấp hàng hóa, mậu dịch dài hạn, cử các chuyên gia sang giúp đỡ và đào
tạo nhân lực cho Việt Nam. Bên cạnh sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô, Trung
Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác trong khối cũng có nhiều
hành động thiết thực đã giúp đỡ Việt Nam v.v...
* Giai đoạn 1964 1975
Sự giúp đỡ của Liên Xô giành cho Việt Nam từ năm 1964 1975 là hết
sức to lớn trên tất cả nhiều mặt, đặc biệt trong lĩnh vực quân sự, giúp
quân đội Việt Nam có đủ trình độ tác chiến và vũ khí hiện đại để đương
đầu với Mỹ. Chuyến thăm của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô,
A.N.Cosygin (2/1965) đến Việt Nam là dấu mốc quan trọng đánh dấu quan
hệ Liên Xô với Việt Nam được thắt chặt . Đặc biệt, trong giai đoạn quan
trọng quyết định sự thành công của cuộc kháng chiến chống Mỹ từ 1972
1975, theo thống kê của Việt Nam, Liên Xô đã viện trợ cho Việt Nam 754
triệu Rúp sự giúp đỡ này là hết sức thiết thực tiếp thêm sức mạnh cho
Việt Nam đi đến giành thắng lợi cuối cùng. Sự giúp đỡ của Trung Quốc
cho Việt Nam trong suốt thời kỳ chống Mỹ là rất to lớn, với số hàng hóa
viện trợ lên đến 1.594.724 tấn, trong đó chủ yếu viện trợ không hoàn lại
cho Việt Nam, chỉ tính riêng từ năm 1972 đến 1975 Trung Quốc đã viện
trợ cho Việt Nam 325 triệu nhân dân tệ. Ngoài ra, Trung Quốc còn tổ
chức nhiều cuộc mít tinh lớn, thu hút hàng triệu người tham gia lên án
Mỹ, ủng hộ Việt Nam. Trung Qu ốc c ử hàng ngàn chuyên gia sang giúp
Việt Nam xây dựng các công trình quân sự, dân sự, giúp Việt Nam đào
tạo nhiều học viên có chuyên môn, kĩ thuật để trở về xây dựng đất nước,
phục vụ kháng chiến. Hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa đều giành cho
Việt Nam sự ủng hộ nhiệt tình cả về vật chất lẫn tinh thần. Theo tổng
kết của Việt Nam, từ năm 1955 đến năm 1975 viện trợ của các nước xã
hội chủ nghĩa anh em dành cho Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là
2.362.491 tấn v.v...
3.2. Quan hệ với Lào và Campuchia
3.2.1. Củng cố và phát triển liên minh Việt Lào
hai chính phủ. Để thắt chặt tình đoàn kết giữa ba nước Đông Dương, theo
sáng kiến của Campuchia, ngày 24 đến 25/4/1970 Hội nghị nhân dân ba
nước Đông Dương diễn ra tại Bắc Kinh có sự tham dự của Thủ tướng
Phạm Văn Đồng, Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, Quốc trưởng N.Sihanouk,
Hoàng thân Suphanuvong. Hội nghị đã ra tuyên bố, thể hiện quyết tâm,
tăng cường tình đoàn kết, ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau cùng chống kẻ thù
chung là Mỹ. Sự giúp đỡ của Việt Nam cho Campuchia, giúp bạn cũng là
16
giúp chính mình, một mặt giúp cách mạng Campuchia phát triển, mặt khác
giúp Việt Nam trong việc bảo vệ con đường mòn Trường Sơn huyết
mạch để đảm bảo việc miền Bắc chi viện cho miền Nam không bị gián
đoạn.
3.3. Quan hệ với các nước dân chủ, các tổ chức tiến bộ và nhân
dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ, cứu nước, bảo vệ độc lập
dân tộc
Thứ nhất, Đảng Cộng sản các nước, các tổ chức, ủy ban, các hội
khắp nơi trên thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam .
Có thể khẳng định, chưa có cuộc chiến tranh nào được khắp nơi trên thế
giới có nhiều ủy ban, nhiều hội, nhiều tổ chức lên án mạnh mẽ như cuộc
chiến tranh Việt Nam. Sự ủng hộ này đã tạo nên một làn sóng mạnh mẽ
trên thế giới, tác động đến chính phủ, nhân dân nhiều nước, tạo nên phong
trào phản đối mạnh mẽ chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Không chỉ giúp
đỡ về mặt tinh thần, các tổ chức này còn có nhiều giúp đỡ thiết thực cho
Việt Nam về mặt vật chất như ủng hộ Việt Nam các dụng cụ y tế, hiến
máu tặng Việt Nam, quyên góp tiền, cung cấp các nhu yếu phẩm cần thiết
cho Việt Nam.
Thứ hai, chính phủ các nước dân chủ tiến bộ và nhân dân yêu chuộng
hòa bình thế giới ủng hộ Việt Nam. Trong cuộc chiến tranh Việt Nam,
Mỹ, ngày 31/3/1968 Tổng thống Johnson tuyên bố ném bom hạn chế miền
Bắc và chấp nhận ngồi vào bàn thương lượng với Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa. Trên bàn đàm phán, việc thảo luận những vấn đề chính vẫn
chưa có nhiều chuyển biến thì những thắng lợi liên tiếp trên mặt trận
quân sự đã có những tác động lớn đến bàn đàm phán, đặc biệt là chiến
thắng trong trận Điện Biên Phủ trên không, buộc Mỹ phải ký vào bản
Hiệp định Paris (27/1/1973) và rút quân về nước. Điều đó, tạo điều kiện
thuận lợi để Việt Nam giải phóng miền Nam (30/4/1975), thống nhất đất
nước.
Tiểu kết chương 3
Việc triển khai chính sách đối ngoại khôn khéo giúp Việt Nam tập
hợp lực lượng, nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc,
các nước xã hội chủ nghĩa, hai nước láng giềng Lào và Campuchia, các
nước dân chủ, các tổ chức tiến bộ và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế
giới. Trên tinh thần phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại,
phát huy nội lực, thể hiện sự độc lập, sáng tạo trong chính sách đối ngoại
của Việt Nam đã tranh thủ sự giúp đỡ của các nước cả vật chất lẫn tinh
18
thần. Qua đó, giúp xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc
và tăng thêm sức mạnh cho tiền tuyến miền Nam trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước. Sự sáng tạo trong chính sách đối ngoại còn được
thể hiện qua chiến lược đánh đàm, kế hợp hiệu quả giữa quân sự với
ngoại giao để giành thắng lợi cuối cùng.
Chương 4
NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM VỀ CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ
ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA VIỆT NAM TRÊN LĨNH VỰC ĐỐI NGOẠI
TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1975
4.1. Nhận xét về cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc của Việt
1954 1964, với "Chính sách hòa hoãn" dưới thời Khrushchev, Liên Xô
chưa quan tâm nhiều đến cuộc chiến tranh Việt Nam. Điều đó, gây khó
khăn cho Việt Nam trong việc tri ển khai nh ững b ước đi ngoại giao để
thu hút sự chú ý và tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô. Mặt khác, từ năm
1967 trở đi, Việt Nam triển khai chiến l ược "đánh đàm", thu được
những kết quả tích cực thì Liên Xô lại thúc giục Việt Nam phải sớm
đàm phán với Mỹ trong thời điểm "chưa chín muồi" gây không ít khó
khăn cho Việt Nam trong triển khai chính sách đối ngoại và chiến lược
"đánh đàm".
Thứ hai, trong quan hệ với Trung Quốc : Trong quan hệ với Trung
Quốc, Việt Nam gặp khó khăn trong việc đoán định ý nghĩ sâu xa đằng sau
sự giúp đỡ của Trung Quốc. Trung Quốc đã giành cho Việt Nam những
khoản viện trợ lớn để đóng một vai trò quan trọng trong cuộc chiến tranh
Việt Nam, tranh giành ảnh hưởng với Liên Xô, buộc Việt Nam phụ thuộc
vào mình và thông qua cuộc chiến này làm cho Mỹ suy yếu. Điều đó, gây
nhiều khó khăn cho Việt Nam trong triển khai chính sách đối ngoại độc
lập, tự chủ, bởi sự tác động và can thiệp có chủ ý của Trung Quốc.
Thứ ba, mâu thuẫn Xô Trung đã ảnh hưởng không tốt đến sự ủng hộ
đối với Việt Nam: Mâu thuẫn Xô Trung là bất lợi rất lớn cho Việt Nam
trong việc tập hợp, tranh thủ sự ủng hộ, bởi thực tế Việt Nam rất c ần s ự
giúp đỡ của cả Liên Xô và Trung Quốc trong công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống Mỹ để giải phóng miền Nam.
Mâu thuẫn Xô Trung, đã đẩy Việt Nam rơi vào hoàn cảnh khó khăn, vừa
phải đối đầu với Mỹ, vừa phải đương đầu với những vấn đề khó phát
sinh tác động xuất phát từ sự bất hòa của hai nước. Điều đó, gây ra những
20
ảnh hưởng không tốt, tạo ra những khó khăn cho Việt Nam trong triển
khai chính sách đối ngoại để đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc.
21
như Việt Nam mong muốn và vẫn chưa lường trước hết được những hệ
lụy xấu trong quan hệ với Trung Quốc. Tuy vậy, cuộc đấu tranh bảo vệ
độc lập của Việt Nam trên lĩnh vực đối ngoại từ năm 1954 đến năm 1975
đã để lại những kinh nghiệm quý báu. Đó là sự kết hợp sáng tạo lý luận
với thực tiễn để xây dựng chính sách đối ngoại phù hợp, căn cứ tình hình
cụ thể để triển khai có hiệu quả. Giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập
dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ và phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh
thời đại để giành thắng lợi. Trong bất cứ hoàn cảnh nào đều cần phải
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu đã định, dĩ bất biến
ứng vạn biến trong thực hiện sách lược, chiến lược để đem đến thắng
lợi cuối cùng.
KẾT LUẬN
Thứ nhất, Đảng Lao động Việt Nam và Nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa đã kế thừa và phát huy hiệu quả những giá trị ngoại giao của
ông cha vào trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, bảo vệ độc lập dân
tộc. Lịch sử ngoại giao của các thế hệ ông cha người Việt đã để lại cho
hậu bối bài học "ngoại giao tâm công", "vừa đánh, vừa đàm", biết người,
biết ta, phân tích sâu sắc điểm mạnh, điểm yếu để giành thắng lợi. Với
nguyên tắc luôn giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, được
thực hiện bằng phương châm "dĩ bất biến, ứng vạn biến". Vận dụng
"ngoại giao tâm công" trong đối ngoại, một mặt chứng minh Việt Nam là
dân tộc yêu chuộng hòa bình, nêu cao tinh thần chính nghĩa trong cuộc đấu
tranh bảo vệ độc lập dân tộc. Mặt khác, đối ngoại thể hiện sự sắc sảo
trong vạch trần bản chất, tội ác của đế quốc Mỹ đối với nhân dân Việt
Nam và thức tỉnh lương tri của nhân loại. Từ 1967 trở đi, Việt Nam đưa ra
chiến lược "đánh đàm", phối hợp chặt chẽ giữa mặt trận quân sự ngoại
giao. Theo đó, những thắng lợi trên mặt trận quân sự sẽ giúp thế đàm phán
miền. Mục tiêu đối ngoại của Việt Nam góp phần xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc, giải phóng miền Nam
khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước và xây dựng một
nước Việt Nam giàu mạnh. Với tư tưởng chỉ đạo, kiên định chủ nghĩa
Mác Lênin, đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng Lao động Việt Nam
và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết tâm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ của mặt trận đối ngoại là xây
dựng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và kiên quyết đấu tranh đến