C
C Ấ
ÁC
ƯỢC GOẠ G AO CỦA C
TRONG C ỘC Ấ TRA
BẢO VỆ
Ă
Ầ
A CÁC
Ạ GT
VÀ
Ữ G BÀ ỌC K
G
6
ỦT C
ỒC Í
ỘC ẬP DÂ TỘC
Á G TÁ ( 945-1946)
Ệ C O Ệ
AY
. Ở Ầ
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “Tôi chỉ có một ham muốn,
ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được
hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
Ham muốn ấy của Người đã trở thành sự thật khi cách mạng tháng Tám năm
1945 thành công đã lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước công
nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, nhà nước vừa ra đời còn
“trứng nước” ấy đã phải đối mặt với vô vàn những khó khăn: từ bên trong cũng
như bên ngoài, từ chính trị đến kinh tế, văn hóa, xã hội, tài chính… Vượt qua
toàn thế giới của Cách mạng tháng Mười. Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba
Đình lịch sử, chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lần đầu tiên, ta đã có chính quyền trong cả
nước, nhân dân khắp các miền phấn khởi, tin tưởng vào chế độ mới. Nhưng như
đồng chí Lê Duẩn sau này có tổng kết “một đặc điểm của lịch sử cách mạng
nước ta là ta không chỉ đương đầu với kẻ thù của một thời mà có thời kì ta
đương đầu với nhiều kẻ thù của nhiều thời”. Thời kì từ tháng 9/1945 đến tháng
12/1946 là một thời kì như vậy trong lịch sử Việt Nam.
Sau Cách mạng, chính quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa
được củng cố, chưa được nước nào trên thế giới công nhận và đặt quan hệ ngoại
giao. Lực lượng vũ trang của ta còn non yếu nhất là về trang bị, kinh nghiệm
chiến đấu. Nền kinh tế nông nghiệp nước ta vốn lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn
phá nặng nề… đang ở trong tình trạng đình đốn. Nạn đói đầu năm 1945 vừa
cướp đi hai triệu sinh mạng đồng bào ta, nay tiếp tục đe dọa nghiêm trọng nhiều
người khác. Nạn lụt lớn ở 9 tỉnh miền bắc, tiếp đó là hạn hán kéo dài làm cho
già nửa số ruộng đất không thể trồng cấy. Nhiều xí nghiệp còn nằm trong tay tư
bản Pháp. Hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt… Tài chính, tiền tệ của chính
quyền cách mạng hầu như trống rỗng.
Thêm vào đó, di sản văn hóa lạc hậu do chế độ thực dân phong kiến để lại
hết sức nặng nề: hơn 90% dân số không biết chữ, các tệ nạn xã hội cũ như mê
tín dị đoan, cờ bạc, rượu chè… còn phổ biến.
Không chỉ vậy, khó khăn lớn nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
thời kì này là phải đối phó với quá nhiều kẻ thù. Sau khi chính quyền cách mạng
vừa mới ra đời chưa được bao lâu, quân đội Đồng minh đã kéo vào giải giáp
quân Nhật. Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, gần 20 vạn quân Trung Hoa dân quốc kéo
vào nước ta. Âm mưu của chúng là nhằm tiêu diệt Đảng cộng sản, phá tan Mặt
trận Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ của nhân dân ta.
Trung Hoa dân quốc sử dụng những phần tử tay sai nằm trong các tổ chức phản
động như Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng đồng
2
mất công quyền và những người trí óc không bình thường. Ngày 6/1/1946, hơn
90% cử tri cả nước hăng hái đi bỏ phiếu, bầu được 333 đại biểu Bắc - Trung Nam vào Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước. Thắng lợi của
cuộc Tổng tuyển cử theo như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, là kết quả của sự hi
sinh, tranh đấu của tổ tiên ta, nó là kết quả của sự đoàn kết anh dũng phấn đấu
của toàn thể đồng bào Việt Nam ta.
Ngày 2/3/1946, Quốc hội khóa I họp phiên đầu tiên ở Hà Nội xác
nhận thành tích của Chính phủ lâm thời trong những ngày đầu xây dựng chế độ
mới, thông qua danh sách chính phủ Liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm
3
Chủ tịch. Quốc hội đã lập ra Ban dự thảo Hiến pháp và thông qua Bản Hiến
pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 9/11/1946.
Đất nước được độc lập mà nhân dân không được hưởng tự do, hạnh
phúc thì độc lập không có ý nghĩa gì. Đứng trước những khó khăn về kinh tế tài chính, chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa đề ra nhiều biện pháp khắc phục tình hình. Người nói “Lúc chúng ta nâng
bát cơm ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi đề nghị
với đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước, cứ mười ngày nhịn ăn một
bữa, mỗi tháng nhịn ăn ba bữa, đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân
nghèo” [6, tr 119-120). Nghe theo lời Hồ Chủ tịch và noi gương Người, để giải
quyết nạn đói, nhân dân ta trên khắp cả nước đã lập “hũ gạo cứu đói”, tổ chức
“ngày đồng tâm” với tinh thần “một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Một
phong trào thi đua tăng gia sản xuất với khẩu hiệu “tấc đất tấc vàng” được dấy
lên khắp các địa phương trong cả nước. Tờ báo “Tấc đất” cũng ra đời nhằm
tuyên truyền, vận động, hướng dẫn nhân dân tăng gia sản xuất… Các ngành kinh
tế công thương nghiệp, giao thông vận tải cũng dần được khôi phục. Về tài
chính, Chính phủ đã ra sắc lệnh 4- SL kêu gọi tinh thần đóng góp của nhân dân
cả nước với “Quỹ độc lập” và phong trào “Tuần lễ vàng”. Trong thời gian ngắn,
nhân dân đã tự nguyện đóng góp 370 kilôgam vàng, 20 triệu đồng vào “Quỹ độc
lập” và 40 triệu đồng vào “Quỹ đảm phụ quốc phòng”. Ngày 23/11/1946, Quốc
Minh lại được thể hiện với tư cách là linh hồn của cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập
dân tộc từ tháng 9/1945 đến tháng 12/1946.
Với dã tâm xâm lược Việt Nam một lần nữa, ngay sau khi Nhật đầu hàng
Đồng minh, Chính phủ Đờ Gôn đã quyết định thành lập một đạo quân dưới
quyền chỉ huy của tướng Lơcơlec và cử Đô đốc Đacgiăngliơ làm Cao ủy sang
Đông Dương. Đêm 22 rạng sáng 23/9/1945, được sự giúp đỡ của quân Anh,
thực dân Pháp đã cho quân đánh úp trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ và cơ quan
tự vệ thành phố Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai.
Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ “bọn thực dân Pháp phải
biết rằng, nhân dân Việt Nam không muốn đổ máu, dân Việt Nam yêu chuộng
hòa bình, nhưng nếu cần phải hy sinh mấy triệu chiến sĩ, nếu cần phải kháng
chiến bao nhiêu năm để giữ gìn độc lập của Việt Nam , để cho con cháu Việt
Nam khỏi kiếp nô lệ thì thế nào chúng ta cũng vẫn kiên quyết hy sinh” [6; tr226].
Bác đã cùng Trung ương Đảng phát động phong trào ủng hộ “Nam Bộ kháng
chiến”. Hàng vạn thanh niên đã hăng hái gia nhập quân đội, sung vào các đoàn
quân “Nam tiến” sát cánh cùng với nhân dân Nam Bộ, Nam Trung Bộ chiến
đấu. Nhân dân còn thường xuyên tổ chức quyên góp tiền bạc, quần áo, thuốc
men… ủng hộ đồng bào Nam Bộ. Chính Hồ Chủ tịch đã nhen lên ngọn lửa của
tinh thần đoàn kết dân tộc. Không chỉ vậy, Người còn kiến tạo những sách lược
ngoại giao tuyệt vời để giữ vững nền độc lập dân tộc.
2.1. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhân nhượng có nguyên tắc với quân Trung
Hoa dân quốc và bọn phản cách mạng ở miền Bắc
Sự nhân nhượng có nguyên tắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đấu tranh
ngoại giao thể hiện ở chỗ Người biết thỏa hiệp “cái ít có hại nhất” đúng chỗ,
đúng lúc trong hoàn cảnh cần phải thoả hiệp để phá thế bế tắc, vượt qua khó
khăn và tạo điều kiện đạt tới mục tiêu đã định. Trên cơ sở giữ vững độc lập tự
5
chủ, chủ động linh hoạt, đấu tranh kiên quyết và khôn khéo bảo vệ lợi ích chính
Bản Hiệp ước đã đặt nhân dân ta trước hai sự lựa chọn: hoặc là cầm vũ khí chiến
đấu chống thực dân Pháp; hoặc là nhân nhượng với Pháp. Trong tình hình ấy,
chỉ thị của Ban thường vụ Trung ương Đảng ngày 3/3/1946 đã chỉ rõ: “vấn đề
lúc này không phải là muốn hay không muốn đánh. Vấn đề là biết mình, biết
người, nhận định một cách khách quan những điều kiện có hại trong nước và
ngoài nước mà chủ trương cho đúng”[5; tr 40].
6
Chiều 6/3/1946, tại ngôi nhà 38 Lý Thái Tổ (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với G. Xanhtơni đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định Sơ bộ đặt cơ sở cho cuộc đàm phán giữa
hai bên để đi đến một hiệp định chính thức. Việc ký Hiệp định Sơ bộ diễn ra khi
hạm đội Pháp đã tiến vào cảng Hải Phòng, nơi quân đội Trung Hoa dân quốc
đang kiểm soát; lực lượng vũ trang của Trung Hoa dân quốc và Pháp đã nổ súng
vào nhau. Tuy vậy, cả Trung Hoa dân quốc và Pháp đều không muốn xung đột
lan rộng, nên đã đề nghị Chính phủ Việt Nam đi đến giải pháp thỏa hiệp. Đó là
thời điểm thích hợp để buộc Pháp phải chấp nhận một số điều khoản có lợi cho
cuộc đấu tranh chính trị, ngoại giao của ta. Hiệp định Sơ bộ là một mẫu mực
nghệ thuật chọn đúng thời điểm và khai thác triệt để xung đột giữa những bên
đối địch để đạt giải pháp hoà bình. Hiệp định Sơ bộ đã công nhận nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có chính phủ riêng, nghị viện
riêng, quân đội riêng…là thành viên của Liên bang Đông Dương thuộc khối
Liên hiệp Pháp; đồng ý để 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay quân Trung
Hoa dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật; hai bên ngừng mọi cuộc
xung đột ở miền Nam tạo điều kiện thuận lợi đi đến đàm phán chính thức…
Ký Hiệp định Sơ bộ 6/3, điều quan trọng nhất là ta biến thoả thuận tay đôi
Hoa - Pháp thành thoả thuận tay ba Việt - Hoa - Pháp; đẩy được 20 vạn quân
Trung Hoa dân quốc và các nhóm người Việt thân Trung Hoa dân quốc ra khỏi
Việt Nam, tập trung lực lượng đối phó với thực dân Pháp trở lại xâm lược. Nhân
dân ta nhờ đó có thêm thời gian hòa bình cần thiết để củng cố chính quyền cách
Ngay khi trở về, Người đã bày tỏ “Một ngày mà Tổ Quốc chưa thống nhất, đồng
bào còn chịu khổ, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên. Tôi trân trọng
hứa với đồng bào rằng: với quyết tâm của đồng bào, với quyết tâm của toàn thể
nhân dân, Nam Bộ yêu quý nhất định trở lại trong lòng Tổ Quốc”.[1; tr126-127]
Trước những hành động trắng trợn bộc lộ mưu đồ cướp nước ta một lần nữa của
thực dân Pháp, ngày 18 và 19/12/1946, Hội nghị bất thường mở rộng Ban
Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Vạn Phúc (Hà
Đông) dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định phát động cuộc
kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược. Tối 19/12, thay mặt
Đảng và Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến. Lời kêu gọi của Người đã vạch trần dã tâm xâm lược của thực dân Pháp,
nêu lên quyết tâm kháng chiến đến cùng của nhân dân ta. Đồng thời, lời kêu gọi
cũng chỉ rõ những nét cơ bản về chủ trương kháng chiến lâu dài và đường lối
chiến tranh nhân dân của Đảng ta. Nó giống như một bản hịch kháng chiến có
sức hiệu triệu to lớn toàn thể dân tộc Việt Nam đứng lên chống thực dân Pháp
bảo vệ độc lập dân tộc.
Nhìn lại những ngày đầu của chính quyền cách mạng, chúng ta càng thấy
rõ sự lãnh đạo vô cùng sáng suốt và tài tình của Đảng ta và Hồ Chủ tịch, thấy rõ
sách lược “hòa để tiến” mà Hồ Chủ tịch khởi xướng, nhằm thêm bạn bớt thù, tập
trung mũi nhọn vào kẻ thù chủ yếu (thực dân Pháp) là vô cùng đúng đắn. Sách
lược đó đã tạo cho chúng ta có thêm thời gian, tạo được sức mạnh tinh thần, vật
chất cho cả dân tộc và lực lượng vũ trang nhân dân bước vào chiến tranh với tư
thế của người làm chủ đất nước. Điều đó càng chỉ rõ Hồ Chủ tịch là nhà chiến
lược thiên tài, là người “rất nguyên tắc về chiến lược lại rất linh hoạt về sách
lược. Vừa nhìn xa trông rộng, vừa thiết thực cụ thể”[4; tr 28]. Người đã kết hợp
8
chặt chẽ lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin với thực tiễn sinh động của cách
mạng Việt Nam vượt qua được chông gai và những phút hiểm nghèo trong thời
thực tế và phái “chủ chiến” ở Pháp và Đông Dương, giữa quân đội Nhật vừa bại
trận với lực lượng của Anh, Pháp, Trung Quốc... Ứng xử ngoại giao của Hồ Chí
Minh thời kì năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám đã tỏ rõ Người am tường
“năm cái biết”- “ngũ tri” được phương Đông đúc kết: biết mình, biết người, biết
thời thế, biết dừng và biết biến.
9
Thứ hai, sử dụng những phương pháp ngoại giao khôn khéo. “Dĩ bất biến,
ứng vạn biến” - lấy cái không thể thay đổi để ứng phó với muôn sự thay đổi - là
một phương pháp bắt nguồn từ triết lý phương Đông, được Hồ Chí Minh vận
dụng hiệu quả trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc thời kì 1945-1946.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Mục đích bất di bất dịch của chúng ta vẫn là hoà
bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng
sách lược của ta thì linh hoạt”. Sự linh hoạt phải trên cơ sở giữ vững nguyên tắc.
Nói cách khác, phải biết nhân nhượng để giữ vững hòa bình nhưng nhân nhượng
phải có nguyên tắc. Trong hoạt động ngoại giao, Hồ Chí Minh căn dặn: người ta
cương thì mình phải nhu, phải khôn khéo lấy nhu thắng cương thì mới là biết
mình biết người và “phải hiểu cả hai bên mới có thể làm tròn nhiệm vụ”… Sách
lược “hòa để tiến” với thực dân Pháp cũng chính thể hiện sự cương - nhu trong
đối ngoại của Hồ Chủ tịch.
Thứ ba, biết dựa vào sức mạnh của quần chúng nhân dân, đoàn kết nhân
dân, không phân biệt thành phần giai cấp, dân tộc, đảng phái, tôn giáo. Chính
sau này, Hồ Chủ Tịch đã chỉ rõ “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công,
thành công, đại thành công”. Chiến tranh cách mạng Việt Nam là chiến tranh
nhân dân dựa vào sức mạnh đoàn kết toàn dân, mở rộng các mối liên hệ với
nhân dân thế giới. Nên những biện pháp ngoại giao mà Hồ Chủ Tịch thực hiện
trong năm đầu sau Cách mạng tháng Tám cũng chính là sự thể hiện cho một nền
ngoại giao nhân dân độc đáo và sáng tạo của Việt Nam. Trong đó, thời kỳ bảo
vệ và củng cố chính quyền cách mạng 1945-1946, điều này được thể hiện chủ
để hội nhập với thế giới, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Tuy nhiên, đi
đôi với việc phát triển về kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc thì việc bảo vệ
những quyền dân tộc cơ bản cũng trở nên hết sức cần thiết. Vấn đề tranh chấp
chủ quyền biển đảo không phải mới nổi lên hiện nay mà là vấn đề đã từng tồn tại
trong lịch sử. Vùng Biển Đông của Việt Nam là một ví dụ. Sự kiện Hải Dương 981 xảy ra năm 2014 đã cho thấy việc bảo vệ chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ trở nên hết sức thiêng liêng với mỗi người dân Việt Nam.
Kế thừa và phát huy những bài học trong cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước
thời kì 1945-1946, quan điểm xuyên suốt của Đảng ta hiện nay cần phải tăng
cường hơn nữa tiềm lực kinh tế, quốc phòng, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc,
phấn đấu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong xử
lý các mối quan hệ quốc tế và khu vực, đường lối của Đảng chỉ rõ phải luôn tỉnh
táo, bình tĩnh, khôn khéo, không bị kích động, xúi giục gây xung đột vũ trang,
chiến tranh; giải quyết mọi vấn đề bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở các
nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử của khu vực. Phát
huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. Mở rộng và tăng cường hợp tác hữu nghị với các quốc gia trong
khu vực và trên thế giới cũng như với các tổ chức quốc tế trong các vấn đề kinh
tế, chính trị, xã hội (nhất là những vấn đề có liên quan đến biển, đảo hiện nay)
trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, lợi ích quốc gia và pháp luật quốc tế; cùng nhau
xây dựng khu vực hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển.
Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam.
Xưa, ông cha ta dựng nước và giữ nước thì nay, nhân dân Việt Nam đang ra sức
xây dựng, bảo vệ và làm đẹp thêm đất nước của mình. Trên hành trình ấy, ôn lại
11
những giá trị của thời kì lịch sử 1945-1946 với những đóng góp của Hồ Chủ
Tịch trong chính sách đối ngoại để giữ vững độc lập dân tộc cũng là góp phần
đưa những bài học của Người vào sự nghiệp dựng xây đất nước, để thấy rằng
Hà Nội, 1990.
5. Lê Mậu Hãn (Chủ biên), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập III, NXB Giáo dục,
Hà Nội, 1999.
5. Hồ Chí Minh tuyển tập, NXB Sự thật, Hà Nội, 1960.
12