ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN QUANG HÙNG
HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
GIAI ĐOẠN: TỪ THÁNG 8-1945 ĐẾN 19-12-1945 LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Hồ Chí Minh học
HÀ NỘI – 2013
LỜI CAM ĐO
ANTôi tên: Nguyễn Quang Hùng
Là học viên cao học lớp Hồ Chí Minh học, khóa 2011 - 2013 của
Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội.
Tôi xin cam đoan nghiên cứu “Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong giai đoạn: từ tháng 8 - 1945 đến 19 -12-1946” là kết quả
của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập và nghiêm túc. Các tài liệu
đƣợc trích dẫn trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy, đƣợc xử lý
trung thực và khách quan.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Học viên Nguyễn Quang Hùng 1
MC LC
MỞ ĐẦU 3
1. Tính cấp thiết của đề tài 3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 7
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu 7
6. Đóng góp của luận văn. 8
7. Kết cấu của luận văn 8
Chƣơng 1. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TƢ TƢỞNG NGOẠI GIAO
CỦA HỒ CHÍ MINH 9
1.1. Những khái niệm cơ bản. 9
1.2. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về ngoại giao 12
1.2.1. Các quyền dân tộc cơ bản. 12
1.2.2. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. 18
1.2.3. Giải quyết mọi vấn đề xung đột thông qua thƣơng lƣợng hòa bình. 20
1.2.4. Độc lập, tự chủ, tự lực, tự cƣờng gắn liền với đoàn kết và hợp tác quốc tế. 24
1.2.5. Hữu nghị và hợp tác với các nƣớc trên thế giới. 30
1.2.6. Ngoại giao là một mặt trận. 35
Chƣơng 2. HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
GIAI ĐOẠN: TỪ THÁNG 8 - 1945 ĐẾN 19 - 12 - 1946 39
2.1. Hoàn cảnh thế giới và trong nƣớc. 39
2.2. Hoạt động ngoại giao của Hồ Chí Minh đối với Chính phủ và nhân dân Pháp
(từ tháng 8 - 1945 đến 19 - 12 - 1946). 42
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, ngay từ khi nhà nƣớc Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa ra đời đã gặp muôn vàn khó khăn, ví nhƣ “Ngàn cân treo sợi tóc”. Cùng
một lúc, Chính phủ cách mạng non trẻ phải đối mặt với vô vàn những khó khăn về
kinh tế, xã hội và văn hóa do chế độ thực dân gây ra. Sự khó khăn, phức tạp và bất
lợi cho công cuộc bảo vệ chính quyền, giữ gìn độc lập cho dân tộc lại đƣợc nhân lên
bởi các thế lực thù trong, giặc ngoài đang rắp tâm phá hoại thành quả cách mạng.
Quân đội Đồng minh dồn dập kéo vào lãnh thổ Việt Nam: 20 vạn quân của Tƣởng
Giới Thạch, theo sau là các tổ chức phản động nhƣ: “Việt Nam quốc dân Đảng”,
“Việt Nam cách mạng đồng minh hội”, Đại Việt…cùng thực hiện âm mƣu “Diệt
cộng cầm Hồ”, “Triệt Hồ Chí Minh, phá Đảng Cộng sản Đông Dƣơng”. Ở miền
Nam, quân đội Anh đồng lõa và giúp thực dân Pháp quay lại xâm chiếm Việt Nam.
Trong khi đó, hơn 6 vạn lính Nhật cũng đang gây rối và tạo điều kiện có lợi cho
quân đội Pháp đánh chiếm Sài Gòn và một số vùng ở Nam Bộ. Nhân cơ hội này, 4
các lực lƣợng phản cách mạng trong nƣớc tiếp tục chống phá chính quyền cách
mạng. Chƣa có lúc nào Dân tộc Việt Nam lại có nhiều kẻ thù đến nhƣ vậy.
Đối với quốc tế, chƣa có nƣớc nào công nhận nền độc lập và đặt quan hệ
ngoại giao với Việt Nam.
Sự mất còn của vận mệnh Độc lập - Tự do dân tộc là trọng trách nặng nề mà
dân tộc đã giao phó cho Đảng, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, do Chủ
tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.
Và, trên mặt trận đấu tranh ngoại giao trong giai đoạn lịch sử đặc biệt này
đã xuất hiện một thiên tài ngoại giao - Chủ tịch Hồ Chí Minh - Ngƣời cầm lái vĩ
đại đƣa con thuyền cách mạng đến bến bờ thắng lợi.
Từ ý nghĩa và tầm quan trọng trên, để hiểu rõ hơn hoạt động ngoại giao của
Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1945-1946, chúng tôi chọn chủ đề: “Hoạt động
ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn: từ tháng 8 - 1945 đến
19 -12-1946” làm đề tài Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Hồ Chí Minh học.
hoạt động ngoại giao: một vài kỷ niệm về Bác, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2008; Vũ Dƣơng Huân (chủ biên): Góp phần tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về
ngoại giao, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2001 . . . Các công trình này đề cập đến một
số nội dung nhƣ: phân tích tình hình thế giới, khó khăn của Việt Nam sau Cách
mạng tháng Tám, đó là phải đối mặt với thù trong giặc ngoài, bị các nƣớc đế
quốc bao vây cấm vận; sự lãnh đạo tài tình của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã làm thất bại âm mƣu của các thế lực đế quốc, phản động muốn tiêu
diệt Đảng cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ dân chủ nhân dân non trẻ mới giành
đƣợc; sự nhạy bén về những biến đổi tình hình thế giới và trong nƣớc có lợi cho 6
cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh; tài ngoại giao của Ngƣời với sách lƣợc
hòa hoãn với Tƣởng, quyết định ký Hiệp định sơ bộ 6 - 3 - 1946 và Tạm ƣớc
14 - 9 - 1946 với thực dân Pháp để có thêm thời gian xây dựng lực lƣợng và tìm
cơ hội tranh thủ sự ủng hộ của các nƣớc trên thế giới. . . . Các kết quả nghiên cứu
trên là cơ sở quan trọng, là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị để chúng tôi kế
thừa và phát triển nội dung nghiên cứu trong khi thực hiện luận văn.
Tuy nhiên, đây là một chủ đề cần tiếp tục nghiên cứu, khảo sát, thu thập và
hệ thống tài liệu để bổ sung vào kho tàng tƣ liệu quý về hoạt động ngoại giao của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là trong giai đoạn từ tháng 8 - 1945 đến tháng 12 -
1946 để góp phần làm sáng tỏ thêm tƣ tƣởng, nghệ thuật tài ba trong đấu tranh
ngoại giao của Ngƣời.
Từ những kết quả nghiên cứu của các công trình trên, với những tài liệu thu
thập đƣợc, Luận văn cố gắng hệ thống tài liệu, phân tích về tƣ tƣởng và hoạt
động ngoại giao của Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1945-1946, rút ra bài học kinh
nghiệm cho hoạt động ngoại giao giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: làm rõ khái niệm về ngoại giao, hoạt động ngoại
giao; tƣ tƣởng và hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn từ
giao của Hồ Chí Minh theo trình tự thời gian, theo tiến trình lịch sử cách mạng Việt
Nam và thế giới.
+ Phƣơng pháp xử lý, thống kê và so sánh tƣ liệu. 8
6. Đóng góp của luận văn.
Góp phần bổ sung tài liệu, hệ thống tƣ liệu về hoạt động ngoại giao của Hồ
Chí Minh trong giai đoạn lịch sử 1945-1946; trên cơ sở đó làm sáng rõ thêm tƣ
tƣởng và các hoạt động ngoại giao của Ngƣời; đồng thời, kết quả nghiên cứu của
luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho những ngƣời quan tâm đến hoạt động ngoại
giao của Hồ Chí Minh, phục vụ giảng dạy về Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, về Đƣờng
lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm hai chƣơng, bảy tiết và danh
mục tài liệu tham khảo.
9
Chƣơng 1
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TƢ TƢỞNG
NGOẠI GIAO CỦA HỒ CHÍ MINH
1.1. Những khái niệm cơ bản
Từ “Ngoại giao” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, nghĩa là “diploma”. Ở Hy
Lạp cổ đại, ngƣời ta trao cho sứ giả đi đàm phán với quốc gia khác giấy chứng
nhận, giấy ủy quyền. Khi đến nƣớc tiếp nhận, các sứ giả trao giấy ủy quyền hay
giấy chứng nhận đó cho ngƣời phụ trách công tác đàm phán của quốc gia đó.
Văn bản này đƣợc gọi là “diploma”. Từ đây xuất hiện từ “dilopmacy”, nghĩa là
tiện quan trọng nhất thực hiện chính sách đối ngoại . . . Đặc thù của ngoại giao là
giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng phƣơng pháp hòa bình, bằng cách đàm phán.
. . . Ngoại giao là thực hiện quan hệ quốc tế bằng đàm phán và phƣơng pháp mà các
đại sứ, công sứ sử dụng . . . , là công tác, nghệ thuật của nhà ngoại giao . . ., là khoa
học quan hệ quốc tế, là nghệ thuật đàm phán. . . ” [48, tr. 15].
Ngoại giao vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, song các học giả phƣơng
Tây thƣờng chú ý khía cạnh nghệ thuật hơn góc độ khoa học. Mặt khác, các học
giả phƣơng Tây nhấn mạnh vai trò, tài năng của các nhà ngoại giao, các nhà
đàm phán.
Ở Việt Nam, nhận thức về ngoại giao cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Từ
điển tiếng Việt xuất bản năm 2001 viết: “Ngoại giao là sự giao thiệp với nƣớc
ngoài để bảo vệ quyền lợi của quốc gia mình và để góp phần giải quyết những
vấn đề quốc tế chung”. 11
Về ngoại giao chính thức, từ điển Bách khoa Việt Nam xuất bản năm
2003 viết: “Ngành khoa học mang tính tổng hợp, một nghệ thuật của các khả
năng; là hoạt động chính thức của các cơ quan làm công tác đối ngoại và các
đại diện có thẩm quyền thực hiện các nhiệm vụ chính sách đối ngoại của nhà
nƣớc nhằm bảo vệ các quyền lợi và lợi ích của nƣớc mình, của các cơ quan, tổ
chức và công dân mình ở nƣớc ngoài; góp phần giải quyết các vấn đề quốc tế
bằng con đƣờng đàm phán và các hình thức hòa bình khác. Ngày nay, bên
cạnh ngoại giao nhà nƣớc còn có ngoại giao nhân dân. Đàm phán là nghệ
thuật nhằm ngăn chặn hoặc giải quyết các xung đột quốc tế, tìm kiếm thỏa
hiệp hoặc giải pháp mà các bên cùng chấp nhận đƣợc, phát triển sâu rộng hợp
tác quốc tế. Trƣớc kia ngoại giao là công việc của các bộ trƣởng ngoại giao,
các đại sứ hoặc các phái viên đặc biệt. Trong những thập niên gần đây, các vị
đứng đầu quốc gia, đứng đầu chính phủ cũng làm công việc ngoại giao thông
qua những cuộc gặp thƣợng đỉnh, những chuyến thăm chính thức, viếng thăm
Trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, các quyền dân tộc cơ bản có một vị trí đặc biệt
quan trọng. Các quyền dân tộc cơ bản đó bao gồm độc lập dân tộc, chủ quyền
quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nƣớc. Đối với các dân tộc thuộc địa bị
ách thống trị, áp bức của thực dân thì cuộc đấu tranh để giải phóng khỏi ách đô hộ
thực dân, đòi quyền dân tộc tự quyết là một trong những nội dung cơ bản nhất của
các quyền dân tộc cơ bản. Ý chí đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, mang lại tự
do cho nhân dân là điểm xuất phát của tƣ tƣởng ngoại giao Hồ Chí Minh.
Đƣợc nuôi dƣỡng bởi những giá trị truyền thống văn hóa tinh hoa của dân tộc
qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nƣớc và giữ nƣớc, Hồ Chí Minh chứng kiến cảnh 13
đồng bào ta bị thực dân Pháp và bọn phong kiến áp bức, bóc lột dẫn đến lầm than,
cơ cực; thấu hiểu sự thất bại và bị đàn áp trong biển máu của các phong trào yêu
nƣớc nên Ngƣời quyết định ra đi tìm đƣờng cứu nƣớc, cứu dân.
Trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã đấu tranh
không khoan nhƣợng để giành lại các quyền dân tộc cơ bản cho dân tộc Việt
Nam, để bảo vệ và thực hiện các quyền đó.
Trong cuộc trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Yi Chê Pao năm 1919:
“Ông đến Pháp với mục đích gì?” [17, tr. 457], Nguyễn Ái Quốc trả lời: “Để đòi
những quyền tự do mà chúng tôi phải đƣợc hƣởng” [17, tr. 457]. Và, công cuộc
đấu tranh vĩ đại đó đƣợc mở đầu bằng bản “Yêu sách của nhân dân An Nam”,
gửi lên Hội nghị Vecxây khi Nguyễn Ái Quốc đặt chân đến nƣớc Pháp chƣa lâu:
“1. Tổng ân xá cho tất cả những ngƣời bản xứ bị án tù chính trị;
2. Cải cách nền pháp lý Đông Dƣơng bằng cách cho ngƣời bản xứ cũng
đƣợc quyền hƣởng những đảm bảo về mặt pháp luật nhƣ ngƣời Âu châu; xóa bỏ
hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận
trung thực nhất trong nhân dân An Nam;
3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận;
4. Tự do lập hội và hội họp;
do và độc lập, và sự thực đã trở thành một nƣớc tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt
Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lƣợng, tính mệnh và của cải để giữ vững
quyền tự do và độc lập ấy” [20, tr.1, 3]. Và, bắt đầu từ “Tuyên ngôn độc lập” lịch
sử này, ngoại giao của Dân tộc Việt Nam, của Nhà nƣớc Việt Nam Dân chủ cộng
hòa, ngoại giao Hồ Chí Minh đƣợc khẳng định chính thức và mở rộng trên 15
trƣờng quốc tế, mà nền tảng vững chắc của nền ngoại giao đó là “Quyền dân tộc
cơ bản” của nhân dân Việt Nam.
Sau cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa
đứng trƣớc muôn vàn khó khăn, đƣợc ví nhƣ “ngàn cân treo sợi tóc”. Đó là giặc đói,
giặc dốt và giặc ngoại xâm.
Ngay sau Lễ tuyên bố độc lập, một trong những nhiệm vụ cấp bách của Nhà
nƣớc Việt Nam Dân chủ cộng hòa đƣợc Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra là: “Trƣớc
chúng ta bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không
kém phần chuyên chế, nên nƣớc ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không đƣợc
hƣởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề
nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ
thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mƣời tám tuổi đều có quyền ứng cử và
bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v.” [20, tr. 7].
Thông qua các văn kiện quan trọng, các hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của
Chủ tịch Hồ Chí Minh với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ngay trong
những ngày đầu thành lập đã khẳng định nguyên tắc bất di, bất dịch trong tƣ
tƣởng ngoại giao của Ngƣời: Độc lập - Tự do là quyền bất khả xâm phạm của
dân tộc Việt Nam. Đồng thời, thông qua đó để công khai tuyên bố và yêu cầu
quốc tế, cũng nhƣ các nƣớc có liên quan tới các cuộc xung đột ở Đông Dƣơng
thừa nhận và thực hiện các quyền lợi của dân tộc Việt Nam theo nguyên tắc đã
đƣợc các hiệp định ghi nhận, dựa trên pháp lý quốc tế.
Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 là văn bản pháp lý quốc tế đầu
quốc gia do Trung Quốc và Ấn Độ đề xƣớng từ tháng 4 năm 1954. Năm 1955, 17
khi thăm Trung Quốc, Ngƣời khẳng định: Nƣớc Việt Nam Dân chủ cộng hòa sẵn
sàng đặt mọi quan hệ thân thiện hợp tác với bất cứ một nƣớc nào trên nguyên
tắc: tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm
phạm lẫn nhau, không can thiệp nội trị của nhau, bình đẳng cùng có lợi và cùng
chung sống hòa bình.
Nhƣ vậy, đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, rõ ràng quyền bình đẳng giữa các
quốc gia dân tộc là một tất yếu mà các nƣớc trên thế giới phải thừa nhận. So với
các nhà cách mạng quốc tế cùng thời, điểm mới trong tƣ tƣởng ngoại giao của
Ngƣời là không phân biệt về chế độ chính trị, kinh tế; nƣớc giàu và nƣớc nghèo
hay nƣớc lớn với nƣớc nhỏ, mà điều cơ bản là công nhận và tôn trọng quyền
bình đẳng giữa các dân tộc trên thế giới.
Trong hoạt động ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ chú trọng
phát huy pháp lý quốc tế, mà còn đề cao chính nghĩa, vận dụng những giá trị
văn hóa truyền thống của ngoại giao Việt Nam, cũng nhƣ các tƣ tƣởng phổ
biến, tiến bộ của nhân loại từ đó để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân
dân các nƣớc trên thế giới, ngay cả nhân dân tiến bộ của chính nƣớc đi xâm
lƣợc. Ngƣời luôn khẳng định cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt
Nam, kêu gọi chính phủ nƣớc đi xâm lƣợc trả lại các quyền dân tộc cơ bản
cho nhân dân một cách hòa bình, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân
các nƣớc đó đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta.
Với những nhận thức, quan điểm, tƣ tƣởng tiến bộ về các quyền cơ bản của
dân tộc, dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh
đứng đầu có thể khẳng định rằng: “Cuộc đấu tranh vì các quyền dân tộc cơ bản
của nhân dân Việt Nam đã đóng góp quan trọng vào phong trào giải phóng dân tộc
trên thế giới khẳng định các quyền cơ bản của các dân tộc” [42, tr. 34].
vấn đề thuộc địa của Lênin, Ngƣời khẳng định: muốn cứu nƣớc và giải phóng
dân tộc không có con đƣờng nào khác con đƣờng cách mạng vô sản, và “Trong
thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi,
nghĩa là dân chúng đƣợc hƣởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải
tự do và bình đẳng giả dối nhƣ đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An
Nam”[18, tr. 304] . Vì vậy, trong Bản
“Chánh cƣơng vắn tắt của Đảng” đƣợc
thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, đã xác định
cách mạng Đông Dƣơng là một cuộc cách mạng tƣ sản dân quyền, có tính chất thổ
địa và phản đế, tƣ sản dân quyền là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng, sau khi
cách mạng tƣ sản dân quyền thắng lợi sẽ tiếp tục phát triển, bỏ qua thời kỳ tƣ bản
mà đấu tranh thẳng lên con đƣờng xã hội chủ nghĩa. Đảng đề ra nhiệm vụ của
cách mạng dân tộc dân chủ là đánh đổ chủ nghĩa đế quốc, phong kiến; làm cho
nƣớc Việt Nam đƣợc hoàn toàn độc lập. Độc lập dân tộc kết hợp với chủ nghĩa xã
hội là một tƣ tƣởng kiên định, đƣợc Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn khẳng
định trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng. Luận cƣơng cách mạng Việt Nam
do Tổng bí thƣ Trƣờng Chinh trình bày tại Đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng
Cộng sản Đông Dƣơng năm 1951 nêu rõ, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là
đánh đuổi bọn đế quốc xâm lƣợc, diệt trừ bọn phản quốc, xóa bỏ tàn dƣ phong
kiến và nửa phong kiến, kiến thiết một nƣớc Việt Nam độc lập, thống nhất, dân
chủ, tự do, phú cƣờng, phát triển chế độ dân chủ, nhân dân Việt Nam lựa chọn con
đƣờng dân chủ nhân dân tiến tới chủ nghĩa xã hội. Trong Đại hội lần thứ III, năm
1960 của Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: Nhiệm vụ
của cách mạng Việt Nam hiện nay là đƣa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và
đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nƣớc nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân trong cả nƣớc. 20
Tƣ tƣởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên
nghiệm đấu tranh ngoại giao của các cuộc cách mạng nhân dân thế giới để tìm ra
nghệ thuật, phƣơng pháp đấu tranh ngoại giao dƣới hình thức đàm phán, thƣơng
lƣợng. Quan điểm của Lênin về chiến tranh và hòa bình, “hòa bình là thiêng
liêng, song nó phải gắn liền với độc lập dân tộc. Nếu chỉ hòa bình mà từ bỏ chiến
tranh giải phóng dân tộc là một thứ chủ nghĩa hòa bình vô nguyên tắc. Ngƣợc lại,
nếu chiến tranh giải phóng dân tộc ảnh hƣởng đến hòa bình thế giới thì sẽ đi
ngƣợc lại xu thế của thời đại” [36, tr. 105] là kim chỉ nam cho đấu tranh hoạt
động ngoại giao của Ngƣời.
Hồ Chí Minh đã khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa đấu tranh giành
“độc lập, tự do” với đấu tranh trên mặt trận ngoại giao để đạt đƣợc một nền hòa
bình chân chính thực sự. Theo Ngƣời, muốn có hòa bình thì phải ngăn chặn,
chống chiến tranh xâm lƣợc; muốn ngăn chặn và kết thúc chiến tranh xâm lƣợc,
trƣớc hết phải chặn bàn tay của những kẻ gây ra chiến tranh, phải chỉ rõ nguồn
gốc, phải chỉ ra đƣợc kẻ gây ra chiến tranh và đánh bại thế lực của chúng. Qua
thực tế hai cuộc chiến tranh thế giới, các cuộc đấu tranh để giành và bảo vệ độc
lập dân tộc của các nƣớc thuộc địa và phụ thuộc, Hồ Chí Minh rút ra kết luận:
“Đế quốc chủ nghĩa là nguồn gốc chiến tranh”, vì vậy để ngăn chặn và chấm dứt
chiến tranh và giữ hòa bình một cách thiết thực thì “phải ra sức chống đế quốc
chủ nghĩa” [22, tr. 123].
Quan điểm của Hồ Chí Minh hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của loài
ngƣời tiến bộ, đó là chiến đấu cho độc lập dân tộc, phản đối chiến tranh và mong
muốn đƣợc sống hòa bình. Trong “Thư gửi những người Pháp ở Đông
Dương”(tháng 10 năm 1945), Hồ Chí Minh lên án việc thực dân Pháp quay trở