LUẬN VĂN:
Hoạt động xây dựng Đảng của Chủ
tịch Hồ Chí Minh thời kỳ 1939-1945
Mở Đầu
1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta. Người
đã cùng Trung ương tổ chức lãnh đạo thắng lợi cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 đưa
nhân dân ta thoát khỏi ách nô lệ của đế quốc phong kiến, đưa nước ta trở thành một nước
độc lập, đưa Đảng ta từ một Đảng hoạt động bí mật trở thành Đảng cầm quyền trong cả
nước. Một trong những yếu tố đưa Cách mạng Tháng Tám đến thành công là nhờ có sự
lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Bởi vậy khi nghiên cứu về Cách mạng Tháng Tám chúng ta
không thể không nghiên cứu vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc xây dựng
Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Nghiên cứu những hoạt
động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng Đảng Cộng sản Đông Dương chẳng
những giúp chúng ta hiểu sâu sắc về vai trò của Người đối với toàn bộ sự nghiệp Cách
không ít những khó khăn, thử thách rất phức tạp, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam mới thắng lợi được. Văn kiện Hội nghị lần thứ 6 (lần 2) của Ban
Chấp hành Trung ương khóa VII (tháng 2/1999) đã nhấn mạnh: "Sự lãnh đạo đúng đắn
và sáng suốt của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam".
Nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ cấp thiết của toàn Đảng, toàn dân.
Những tư tưởng chỉ đạo, những bài học kinh nghiệm trong hoạt động xây dựng
Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ 1939-1945 vẫn còn nguyên giá trị thiết thực
phục vụ cho hoạt động xây dựng Đảng ta trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay.
Với những lý do trên đây, chúng tôi đã chọn đề tài "Hoạt động xây dựng Đảng
của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ 1939-1945" làm đề tài cho luận văn thạc sĩ khoa học
Lịch sử của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hoạt động xây dựng Đảng của Đảng ta nói chung và của Chủ tịch Hồ Chí Minh
nói riêng trong thời kỳ vận động cách mạng Tháng Tám 1945, đã được nhiều người quan
tâm nghiên cứu. Hiện nay đã có nhiều tác giả và các công trình nghiên cứu đề cập đến
vấn đề này. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau đây:
- Cuốn "Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam" của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng
Trung ương (1983) đã đề cập đến một số hoạt động của Nguyễn ái Quốc (Hồ Chí Minh)
và Trung ương Đảng về hoạt động xây dựng Đảng (1930-1945).
- Cuốn "Cách mạng Tháng Tám 1945" Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung
ương (1971) và cuốn "Lịch sử Cách mạng Tháng Tám 1945" Viện Nghiên cứu Lịch sử
Đảng (1995) đề cập đến một số hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng
1939 - 1945.
- Cuốn "Chủ tịch Hồ Chí Minh tiểu sử và sự nghiệp" Ban Nghiên cứu Lịch sử
Đảng Trung ương (1980) trong đó dành một số trang từ 89 - 117 nói về Chủ tịch Hồ Chí
Minh cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cuộc vận động giải phóng dân tộc và
Cách mạng Tháng Tám, cũng chỉ đề cập đến một số hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh
về xây dựng Đảng 1939 - 1945.
- Cuốn "Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử" Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin,
định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.
- Luận văn còn rút ra những tư tưởng, đường lối, phương pháp xây dựng Đảng
của Người trong thời kỳ vận động Cách mạng Tháng Tám nhằm đóng góp vào việc xây
dựng Đảng ta vững mạnh trong công cuộc cách mạng của Đảng và nhân dân ta trong giai
đoạn hiện nay.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
* Nguồn tư liệu nghiên cứu:
Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều nguồn tư liệu khác
nhau:
+ Các tác phẩm của các tác giả kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, các văn kiện
của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng Cộng sản. Nguồn tư liệu này cung cấp
cho chúng tôi những phương pháp luận nghiên cứu, những quan điểm, đường lối, nguyên
tắc xây dựng Đảng vô sản kiểu mới trong thời đại mới nói chung và trong các cuộc cách
mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa như Việt Nam nói riêng.
+ Những bài viết, bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng;
các văn kiện Đảng (1930 - 1945). Đây là nguồn tư liệu gốc để chúng tôi xây dựng luận
văn.
+ Những tài liệu, công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các cơ quan
nghiên cứu: Viện Lịch sử Đảng (Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương), Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Khoa học Xã hội nhân văn, Viện Sử học và các
Trường đại học trong nước (Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Khoa học xã hội và nhân
văn ). Những tài liệu và các công trình này là cơ sở để chúng tôi so sánh đối chiếu
những kết quả nghiên cứu của mình.
+ Một số tài liệu, công trình nghiên cứu của người nước ngoài có đề cập đến Hồ
Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ 1939-1945. Đối với nguồn tài liệu này
chúng tôi tiếp thu có chọn lọc, đồng thời cũng phê phán những ý kiến xuyên tạc, không
đúng sự thật về vai trò của Hồ Chí Minh, của Đảng và nhân dân ta trong Cách mạng
Tháng Tám.
+ Các cuốn Hồi ký của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; Hồi ký của các cán bộ, đảng
học vào sự lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp cách mạng hiện nay cho thế hệ trẻ và nhân
dân ta.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tham khảo, phụ lục, mục lục, luận văn có
2 chương:
Chương 1: Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương xây dựng Đảng của Chủ tịch Hồ
Chí Minh và Trung ương Đảng (1939 - 1945).
Chương 2: Hoạt động xây dựng Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ 1939
-1945.
Chương 1
Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương xây dựng Đảng
của Chủ tịch Hồ Chí Minh và trung ương Đảng 1939 - 1945
1.1. Sự chuyển biến mới của tình hình và yêu cầu của công tác xây dựng
Đảng trong giai đoạn cách mạng mới
1.1.1. Tình hình thế giới
Ngày 1.9.1939, Đức tấn công Ba Lan, chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, nhanh chóng
trở thành một cuộc chiến tranh đế quốc lớn nhất trong lịch sử. Loài người đang có nguy cơ
đứng trước hố diệt vong do chủ nghĩa phát xít gây ra.
Đến cuối 1940, với sự hiếu chiến và sức mạnh quân sự, chỉ trong thời gian ngắn
quân Đức đã đánh chiếm và gần như làm chủ hoàn toàn châu Âu (trừ Liên Xô) và sửa
soạn cho kế hoạch xâm lược Liên Xô. ở Viễn Đông, quân Nhật mở rộng chiến tranh xâm
lược Trung Quốc, Mông Cổ, Thái Bình Dương, Đông Dương
Thấy được mối hiểm họa của chủ nghĩa phát xít và chiến tranh phát xít, ngay từ khi
chiến tranh thế giới thứ II chưa bùng nổ, Quốc tế Cộng sản đã có sự chỉ đạo kịp thời cho
các Đảng cộng sản và nhân dân các nước thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc để đánh bại
chủ nghĩa phát xít, bảo vệ nền hòa bình, dân chủ, văn minh, tiến bộ của thế giới (Đại hội
VII Quốc tế cộng sản 1935).
Dưới sự lãnh đạo của Quốc tế cộng sản, những năm 1935-1939 phong trào đấu
nổ ra. Các cuộc khởi nghĩa vũ trang của nhân dân Bắc Sơn (9/1940), Nam Kỳ (11/1940) và
anh em binh lính ở Đô Lương (1/1941) đã bùng nổ báo hiệu cách mạng Việt Nam chuyển
qua thời kỳ mới, thời kỳ đấu tranh võ trang khởi nghĩa giành chính quyền, giành độc lập của
các dân tộc Việt Nam, Đông Dương bắt đầu [23. 108-109].
Rõ ràng chiến tranh thế giới II do bọn đế quốc phát xít hiếu chiến gây ra đang xô
đẩy nhân loại vào cuộc chém giết lẫn nhau. Dù trực tiếp hay gián tiếp thì hầu hết các
nước trên thế giới đã bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh.
1.1.2. Tình hình Đông Dương
Tháng 6.1940, nước Pháp bị Đức chiếm đóng. Mặt trận nhân dân Pháp bị thất bại. ở
Pháp đã thành lập chính phủ thân phát xít. Nhân cơ hội đó bọn phát xít ở Pháp và ở thuộc
địa ngóc đầu dậy chống phá.
Tháng 9.1940, quân Nhật tràn vào Đông Dương qua đường Lạng Sơn. Bịn Pháp ở
Đông Dương chống cự yếu ớt rồi hèn nhát đầu hàng dâng Đông Dương cho Nhật,
nhượng cho Nhật vô số những quyền lợi kinh tế, chính trị ở Đông Dương. Từ đó hai tên
đế quốc phát xít Pháp - Nhật đã cấu kết chặt chẽ với nhau, bóc lột dân ta đến tận xương
tủy.
Với Pháp:
Về chính trị: Chúng phát xít hóa bộ máy chính quyền thuộc địa, xóa bỏ tất cả các
quyền tự do dân chủ mà nhân dân ta đã giành được qua cao trào đấu tranh dân chủ 1936 -
1939. “ở Đông Dương những cải cách vụn vặt nhân dân Đông Dương chiếm được dưới
thời kỳ chính phủ mặt trận bình dân bị Catơru phá phách hết. Luật lao động bị bỏ rơi. Các
ái hữu thợ thuyền bị giải tán. Những báo chí tiến bộ bị đóng cửa, chế độ kiểm duyệt thì
được thi hành rất ngặt. Những người bản xứ nhập Pháp tịch trong hồi bình dân bị đuổi ra
khỏi “Làng Tây”. Những người cộng sản, những chiến sĩ tranh đấu cho hòa bình, tự do,
dân chủ bị bắt bớ. Những trại giam tập trung theo kiểu phát xít thành lập khắp nơi.
Không những các phần tử cách mạng hay “tình nghi can” bị giam trong đó, mà cả những
người bị coi là “thành tích bất hảo” cũng bị nhốt vào đó. Tất cả họ là những người tù
không có thời hạn. Họ bị bắt buộc làm đường, xẻ núi, dưới ngọn roi, báng súng của bọn
lính canh” [22.41]. Chúng tăng cường hơn nữa chính sách khủng bố, đàn áp, bắt bớ giam
Tanh. Chúng khuấy lên một phong trào thanh niên giả tạo với những cuộc đại hội điền
kinh, biểu diễn thể thao - thể dục toàn Đông Dương Nhưng tất cả những trò bịp bợm đó
của chúng đều chẳng đưa lại kết quả bao nhiêu vì bộ mặt xấu xa, tàn ác của chúng đã quá
lộ liễu, làn sóng cách mạng đã dâng lên từ những năm đầu chiến tranh thế giới và đang
sắp nhấn chìm chúng.
Chúng từng bước quỳ gối, nhân nhượng cho Nhật nhiều quyền lợi kinh tế, chính trị
ở Đông Dương (ký với Nhật Hiệp ước phòng thủ chung Đông Dương (23.7.1941) thừa
nhận cho Nhật có quyền đóng quân trên toàn cõi Đông Dương. Ngày 29.7.1941, ký tiếp
Hiệp ước với Nhật thừa nhận cho Nhật có quyền sử dụng tất cả các sân bay và cửa biển
Đông Dương vào mục đích quân sự. Đến khi Nhật phát động chiến tranh Thái Bình
Dương (7.12.1941), Pháp phải ký thêm với Nhật một Hiệp ước cam kết hợp tác về mọi
mặt, như tạo mọi sự dễ dàng cho việc hành binhh, cung cấp lương thực, bố trí doanh trại,
giữ gìn trật tự xã hội ở Đông Dương để đảm bảo hậu phương an toàn cho quân đội Nhật.
Kể từ đây, trong thực tế, Pháp và Nhật đã cấu kết chặt chẽ với nhau trong việc áp bức,
bóc lột nhân dân Đông Dương, chống lại phong trào cách mạng phục vụ cho chiến tranh
đế quốc. [21.518].
Về kinh tế: Để có đủ số thóc gạo cung cấp cho Nhật, thực dân Pháp bắt nhân dân ta
phải bán thóc theo diện tích đất cày cấy. Tàn ác và dã man hơn nữa, chúng còn bắt nhân
dân ta phải nhổ lúa, phá hoa màu để trồng đay, thầu dầu lấy nguyên liệu cần thiết cho
chiến tranh. Tuy bị Nhật ức hiếp, tước đoạt mọi bề, thực dân Pháp đã có nhiều thủ đoạn
gian xảo để vẫn thu được lợi nhuận cao nhất. Trước hết, chúng thi hành chính sách “Kinh
tế chỉ huy” mà thực chất là một thủ đoạn lợi dụng kinh tế thời chiến để nắm độc quyền
toàn bộ nền kinh tế Đông Dương và tăng cường tệ đầu cơ tích trữ để vơ vét bóc lột nhân
dân ta được nhiều hơn.
Thủ đoạn thứ hai là tăng thuế, đặc biệt là các thứ thuế gián thu, riêng với khoản thuế
rượu, muối và thuốc phiện từ 1939 - 1945 đã tăng lên gấp 3 lần. “Ngoài thuế má nặng nề,
tăng cường vơ vét tài nguyên và các hình thức cướp đoạt khác khiến dân chúng hết
đường sống, lòng dân sôi sục căm hờn” [46.170-171].
Một thủ đoạn tàn ác nữa là chúng "thu mua" thực phẩm, chủ yếu là lúa gạo theo lối
nhất của Đông Dương, Nhật bán ít mà chủ yếu là mua. Trị giá hàng nhập từ Đông Dương
sang Nhật lớn gấp nhiều lần hàng Nhật xuất sang Đông Dương. Năm 1944, Nhật xuất sang
Đông Dương 25.000 tấn hàng và nhập của Đông Dương 1.400.000 tấn quặng thực phẩm.
Đúng như Hồ Chí Minh viết: “Mùa thu 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông
Dương để mở thêm căn cứ đánh đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở
cửa nước ta rước Nhật. Từ đó nhân dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật”
[46.556].
Dưới hai tầng áp bức bóc lột nặng nề của Pháp - Nhật, các tầng lớp nhân dân ta nói
chung, nhất là nông dân, bị đầy đến tình trạng cực khổ, điêu đứng.
Với nông dân, cuộc sống của người nông dân lúc đó thật sự khốn quẫn. Họ bị tước
đoạt đến hạt gạo cuối cùng mà họ phải nắm nắng, mười sương mới kiếm được, hay mảnh
vải mà họ phải thức khuya dậy sớm để dệt thành. Họ phải sống cầm hơi qua ngày với hớp
cháo cám nhạt và trần mình chịu rét lúc đêm đông. Theo thống kê “Số chi thu của những
gia đình dân cày bị hao hụt. Giá hàng kỹ nghệ tăng, tiền sắm sửa nông cụ, mua phân bón
nhất nhất cái gì cũng đắt mà nông sản bán không chạy và sưu thuế ngày một tăng cao”
[22.53].
Trong tổng số gần 2 triệu đồng bào ta bị chết đói cuối 1944, đầu 1945 thì đa số là
người nông dân, thiết nghĩ đó cũng là điều dễ hiểu.
Với công nhân và kể cả thợ thủ công đời sống của họ cũng điêu đứng nhiều bề. Giá
cả đắt đỏ làm cho cuộc sống của họ càng trở nên khó khăn. Các tệ nạn cúp phạt, giảm
lương, tăng giờ làm, đánh đập , thậm chí dãn thợ, sa thải thường xuyên đe dọa, uy hiếp
họ. “Tình cảnh thợ thuyền hết sức khổ sở. Đồng lương thực của thầy thợ bị giảm. Giờ
làm của thợ thuyền công chức tăng gia. Từ khi Pháp thu, sức sinh sản ở Đông Dương bị
rút hẹp lại. Nhiều thợ bị giảm, nhiều thợ khác chỉ làm ba, bốn ngày trong một tuần. Tiền
nhà, tiền cơm, đắt đỏ đến nỗi có nhiều anh em thợ không dám trọ ở tỉnh, phải quốc bộ
hàng 10 cây số từ nhà quê ra tỉnh làm. Nhiều gia đình thợ bị tan nát. Chồng làm không đủ
nuôi vợ, vợ phải về quê làm mướn hoặc bán lá rau, cái bánh lần hồi cho qua ngày”
[22.53].
Với tiểu tư sản, đời sống của họ cũng hết sức bấp bênh. Đối với bộ phận công chức
Do sớm dự báo được chiến tranh thế giới thứ hai sẽ nổ ra, nên Đảng ta hoàn toàn
không bị bất ngờ về cuộc chiến tranh này. Trong thời kỳ 1936 - 1939 Đảng ta đã có một
số chủ trương hoạt động thích hợp khi chiến tranh bùng nổ (Thông báo khẩn cấp
10.3.1938, Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương ngày 29.3.1938 và Tuyên ngôn Đảng
Cộng sản Đông Dương với thời cuộc ngày 29.3.1938 đã nói rõ chiến tranh sẽ nổ ra, cần
tập trung mũi nhọn chống phát xít gây chiến).
Một tháng sau khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, ngày 29.9.1939, Trung ương
Đảng gửi thông báo cho các cấp bộ Đảng vạch rõ cách mạng Đông Dương sẽ tiến đến
mục tiêu giải phóng dân tộc, chỉ thị cho toàn Đảng kịp thời rút vào bí mật và chuyển
hướng hoạt động.
Tuy nhiên tình hình Đảng ta lúc này cũng gặp nhiều khó khăn tổn thất lớn. Số lượng
đảng viên ở Trung, Nam, Bắc kỳ còn quá ít ỏi. Đảng bộ 3 xứ bị thiệt hại rất nhiều do
chính sách khủng bố của thực dân Pháp từ tháng 9.1939. Mặc dù vậy nhiều Đảng viên
mới cũng được kết nạp vào Đảng, phần nào bù đắp được sự thiệt hại và mở rộng ra là
khác. Ai Lao và Cao Miên vẫn giữ được tổ chức Đảng. Về chất lượng Đảng viên chưa
cao, thành phần chủ yếu là dân cày và tiểu tư sản. Do chính sách khủng bố của Pháp
nhiều chi bộ xí nghiệp của Đảng ở Ba Son, Xe lửa Sài Gòn, Sợi Nam Định, Xi măng Hải
Phòng, các mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả, Xe lửa Vinh bị phá. Do đó làm cho “thành phần
công nhân của Đảng đã kém lại kém thêm” [22.59]. Vì trình độ Đảng viên nhìn chung
đều biết chữ. Tuy nhiên trình độ hiểu biết phổ thông lại rất kém do đó việc nghiên cứu và
tự rèn luyện của đảng viên có phần chậm chạp. Nhưng điều đáng mừng là các đồng chí
đảng viên lại rất hăng hái. Có nhiều đồng chí khi bị tra tấn rất dã man mà vẫn giữ được
tinh thần. Có nhiều đồng chí chuyên môn bị truy tìm rất gay gắt, hoạt động trong những
điều kiện rất khó khăn vẫn cương quyết tranh đấu không nản chí” [22.59]. Về mặt tổ
chức, mặc dù bị đế quốc khủng bố gắt gao, Đảng vẫn luôn phát triển. Tuy nhiên Đảng
vẫn chưa khôi phục được những chi bộ ở những nơi công nhân tập trung như những đồn
điền ở Nam kỳ, những mỏ ở Bắc kỳ và những tỉnh thành kỹ nghệ phát triển ở Nam Định,
Hải Phòng, Sài Gòn Về chỉ huy toàn Đảng lúc này không được thống nhất, lý do là do
Ban chấp hành Trung ương bị thất bại gần hết. Việc chỉ huy toàn Đảng lúc này là xứ nào
Đông Dương. Đầu 1940, Hồ Chí Minh đến Côn Minh (Vân Nam - Trung Quốc) chắp
nối liên lạc với Trung ương Đảng Cộng sản. Qua Ban hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông
Dương, Người đã đóng góp nhiều ý kiến chỉ đạo cho công tác xây dựng Đảng, lãnh đạo
cách mạng thời kỳ mới.
Tháng 11.1939, Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 6 tại Bà Điểm - Gia Định
(gồm Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu ). Sau khi phân tích kỹ
lưỡng tình hình, thấm nhuần những tư tưởng, chỉ đạo của Nguyễn ái Quốc từ trước, Hội
nghị đã nhận định: trong điều kiện lịch sử mới "bước đường sinh tồn của các dân tộc
Đông Dương không phải con đường nào khác hơn là con đường đánh đuổi đế quốc Pháp,
chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc
lập". Từ đó Hội nghị đặt vấn đề giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, cấp bách nhất
của cách mạng Đông Dương. Để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, lập Chính phủ
Liên bang cộng hòa dân chủ Đông Dương, Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận thống
nhất dân tộc phản đế Đông Dương, đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng yêu nước dân tộc,
nhất là phải chăm lo xây dựng Đảng Cộng sản Đông Dương vững mạnh, thống nhất.
Trong công tác xây dựng Đảng, căn cứ vào tình hình mới đang diễn ra, phân tích một
cách hết sức khách quan, khoa học, Trung ương Đảng chủ trương:
-“Đảng phải thống nhất ý chí và hành động”. Lúc này sự liên lạc giữa các đảng bộ
từ Trung ương đến các xứ ủy, tỉnh ủy, các chi bộ không được mật thiết, địa phương nào
chỉ biết lo cho địa phương ấy, ý chí và hành động của Đảng chưa được thống nhất, sự chỉ
huy của Đảng không thống nhất cho nên trong lúc phong trào cách mạng đang sắp phát
triển hết sức to lớn quyết liệt thì Đảng ta nhất định phải thống nhất ý chí lại thành một ý
chí duy nhất. Hành động nhất định phải thống nhất, trên dưới khăng khít như một, phải
theo nguyên tắc, phải có kỷ luật, các đồng chí từ Trung ương đến chi bộ phải liên lạc mật
thiết, kết chặt lại như một người, như một tảng đá [21. 555].
- “Đảng phải mật thiết liên lạc với quần chúng”. Trong lúc này Đảng phải mật thiết
liên lạc với quần chúng, phải lắp tai nghe tiếng nói của quần chúng, hiểu rõ nguyện vọng
của quần chúng, đề ra những yêu cầu thiết thực với họ Đảng không những chỉ đạo quần
chúng mà còn phải học hỏi trong quần chúng nữa. Đảng phải xem xét coi những khẩu
chúng sẽ vì đó mà yếu ớt đi, cách mạng không thực hiện được thắng lợi [21.560].
- Đảng phải “Khuyếch trương và củng cố cơ sở Đảng ở các thành thị, các trung tâm
điểm kỹ nghệ và các hầm mỏ, đồn điền”. Đảng phải coi đây là nhiệm vụ rất quan trọng.
Mấy thành phố lớn có công nghiệp tập trung nhiều như Sài Gòn, chợ Lớn, Hà Nội, Hải
Phòng, Nam Định, Vinh nhìn chung Đảng ta chưa có cơ sở. Nếu có cũng rất nhỏ yếu. Do
đó, nếu không gây dựng được cơ sở rộng rãi, vững vàng ở những nơi công nhân tập trung thì
không thể nói đến vai trò lãnh đạo thực tế của giai cấp vô sản trong cuộc cách mạng
[21.560].
- Đảng “phải chú ý gây dựng cơ sở Miên, Lào và tổ chức những đảng bộ tự trị của
các dân tộc thiểu số”. Cách mạng Đông Dương có mối liên hệ mật thiết với nhau, do đó
Đảng phải đặc biệt chú ý sự vận động các dân tộc Miên, Lào và các dân tộc thiểu số.
Trung ương Đảng cũng như các xứ ủy phải tổ chức ban chuyên môn về vấn đề dân tộc
thiểu số, phải cho người học chữ, học tiếng nói của các dân tộc ấy để tuyên truyền vận
động họ, gây dựng cơ sở đối với Miên, Lào phải tổ chức cho được những phần tử hăng
hái của các dân tộc thiểu số vào Đảng và các đảng bộ miên, Lào cũng như Thổ, Thượng
vẫn nằm trong hệ thống duy nhất toàn Đảng, theo đúng tinh thần chủ nghĩa quốc tế,
nhưng được tổ chức thành những Đảng bộ tự trị để chỉ huy cho sát với những đồng chí
đặc biệt của các dân tộc họ và lôi kéo được đông đảo quần chúng trong các dân tộc ấy
đứng lên đấu tranh đánh đổ đế quốc Pháp, giải phóng dân tộc [21.561].
- Đảng “phải củ soát thi hành nghị quyết”. Con đường chính trị và những nghị
quyết mà Đảng đứa ra có khi vì đồng chí không hiểu biết, thiếu năng lực mà làm sai, có
khi bị mật thám phá hoại, cũng có khi vì sự xung đột cá nhân giữa các đồng chí chấp
hành mà làm chậm chễ hoặc hư hỏng. Tất cả những điều ấy nếu không có sự kiểm soát
thì không sao thấy ngay được để kịp sửa đổi. Không có kiểm soát, cơ quan thượng cấp sẽ
không thấy được tính năng lực của đảng viên, sự lựa chọn cán bộ do đó sẽ không thỏa
mãn, dùng cán bộ sẽ không sát với năng lực của họ. Do đó, ở mỗi đảng bộ, mỗi cơ quan
phải kiểm soát công tác của nhau, phải tìm xem vì nguyên nhân gì mà công tác không
phát triển để kịp thời sửa đổi [21.562].
- Đảng “phải có các ban chuyên môn”. Đảng lúc này chưa có các ban chuyên môn.
Ngày 28-1-1941, sau 30 năm xa Tổ quốc, Nguyễn ái Quốc trở về Tổ quốc trên mảnh đất
Cao Bằng. Sau khi cùng Trung ương xem xét, phân tích kỹ lưỡng tình hình thế giới và
trong nước có nhiều biến chuyển lớn, từ ngày 10 đến 19-5-1941, tại Pác Pó, Cao Bằng,
Người chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8.
Hội nghị Trung ương lần thứ 8 đã hoàn thiện sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược
cách mạng của Đảng được đề ra tại Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11/1939). Hội nghị
xác định cuộc cách mạng Đông Dương hiện thời là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.
Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) mở
rộng khối đoàn kết toàn dân tộc đánh đuổi đế quốc phát xít Pháp - Nhật giành độc lập
hoàn toàn cho Tổ quốc, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Muốn hoàn thành sứ mệnh lịch sử đó trước hết phải xây dựng Đảng Cộng sản Đông
Dương vững mạnh về mọi mặt có đủ điều kiện khả năng lãnh đạo cách mạng đến thành
công.
Về vấn đề xây dựng Đảng, Người cùng Trung ương nhận thấy thực tế tình hình
Đảng ta lúc đó có một thực trạng là: Sau những cuộc khủng bố 1939 - 1940, Đảng ta bị
hao tổn rất nhiều cán bộ. Trong cấp cấp bộ Đảng bị thiếu, thiếu cán bộ chỉ đạo, lại thiếu
cán bộ chuyên môn. Các cán bộ chỉ huy đã thiếu, các cán bộ chuyên môn lại cũng không
đủ, các cấp đảng bộ ít chú trọng tổ chức ra các ban chuyên môn cần thiết như Ban công
vận, nông vận, Ban tuyên truyền làm cho các ngành công tác quan trọng ấy không được
phát triển đầy đủ. [22.132].
Tuy là Đảng của giai cấp vô sản nhưng thành phần của giai cấp vô sản ở trong
Đảng ít. Đảng viên xuất thân từ các giai cấp khác như nông dân và tiểu tư sản thì chiếm
nhiều hơn. Hiện nay Đảng chỉ có 25% là vô sản, 5% phụ nữ, còn 70% nông dân và tiểu tư
sản, vì đó lực lượng của Đảng ta trong các chỗ vô sản tập trung và các nơi thành thị, đồn
điền lại rất yếu [22.132].
Bên cạnh đó là tình hình phát triển cách mạng không đều. Xem xét các phong trào
cách mạng Đông Dương có nơi phong trào lên cao mà có nơi không có gì hết, xem như
trong lúc Nam, Bắc đã có những cuộc khởi nghĩa mà ở các xứ Lào và Cao Miên chưa có
manh mối của Đảng, lại có những tỉnh ở Trung, Bắc Kỳ cũng chưa có manh mối, các dân
những nơi thành phố, khu công nghiệp cũng như những vùng nông thôn. Đảng phải làm
sao cho cách mạng ở đô thị phong trào thợ thuyền cho có thể lên cao và tiền phong cho
các phong trào khác. Những nơi xưa nay chưa có ta, phải đưa vận động chắp nối các mối
manh làm cho phong trào khỏi cô độc”. Nói chung Đảng phải lấy việc vận động công
nhân làm công việc đầu tiên trong tổ chức quần chúng, làm cho phong trào công nhân lên
cao và tiên phong cho các phong trào khác [22.135]. Đảng bộ miền Nam, đảng bộ Mặt
trận phải giúp đỡ việc xây dựng Đảng ở Cam pu chia và Lào. Cụ thể là “Đảng bộ Nam
Kỳ tổ chức và gây dựng cơ sở Đảng ở Cao Miên, Đảng bộ Trung kỳ ở Lào, đối với các
dân tộc thiểu số phải có các ủy ban chuyên môn vận động họ, làm cho họ thành một lực
lượng hậu thuẫn của cuộc cách mạng Đông Dương, đừng để họ luôn là một khí cụ đế
quốc lợi dụng mà đàn áp cách mạng”.
- Về mặt giao thông liên lạc, Đảng cần phải đảm bảo sự thống nhất chặt chẽ về giao
thông liên lạc, đảm bảo sự chỉ đạo thông suốt từ Trung ương đến các chi bộ Đảng, tránh
để bị gián đoạn. Sự liên lạc giữa cấp bộ này với cấp bộ khác phải có ngành dự bị.
Tóm lại, lúc này “Đảng ta phải làm những công việc mà từ trước đến nay chưa làm
xong. Nhiệm vụ ấy đặt thêm cho Đảng ta một gánh nặng, vì trong khi đương tiến lên
trước tình thế khó khăn để làm xong những nhiệm vụ mới của lịch sử, thì giờ rất cấp tốc,
nhưng cũng chưa phải hết. Ta phải biết nhằm vào các công tác trung tâm mà tiến tới, phải
nắm lấy thời cơ thuận lợi mà làm việc. Làm sao cho đủ năng lực lãnh đạo cuộc cách
mạng Đông Dương đi đến toàn thắng [22.136].
Chương 2
Hoạt động xây dựng đảng của hồ chí minh
thời kỳ 1939 - 1945 2.1. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra quan điểm, đường lối, nguyên tắc xây dựng Đảng
thời kỳ 1939-1945
2.1.1. Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố đầu
tiên quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam
thế, phải có cột mới vững được, nghĩa là phải có Đảng lãnh đạo” [15.376]; “Muôn việc
lấy Đảng làm gốc. Đảng là gia đình của người Cộng sản”. [30.82].
Người thường tuyên truyền giác ngộ làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng hiểu
rõ: vì sao chỉ có Đảng Cộng sản Đông Dương mới lãnh đạo được sự nghiệp cách mạng
đánh đuổi đế quốc phát xít Pháp - Nhật giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, giành chính quyền
về tay nhân dân, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến thắng lợi hoàn thành. Đảng
Cộng sản Đông Dương không chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin, hệ tư tưởng khoa học tiên tiến
của thời đại soi đường chỉ lối mà Đảng còn là một tổ chức tiên phong của giai cấp công nhân
Việt Nam, vừa đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân Việt Nam, vừa đại biểu lợi ích của
toàn thể dân tộc và nhân dân Việt Nam. Chỉ có Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam mới
đấu tranh chống đế quốc, phong kiến triệt để và tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp
công nhân và dân tộc Việt Nam.
2.1.2. Quan điểm, đường lối, nguyên tắc xây dựng Đảng của Chủ tịch Hồ Chí
Minh
2.1.2.1. Trước hết phải xây dựng cương lĩnh chính trị đúng đắn cho Đảng
Vai trò lãnh đạo và sức mạnh của Đảng trước hết được khẳng định ở cương lĩnh
chính trị đúng đắn của Đảng.
Để lãnh đạo được cách mạng Việt Nam đến thắng lợi, Đảng phải luôn lấy chủ nghĩa
Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng làm kim chỉ nam cho mọi hành động của mình. Đảng
phải vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh điều kiện cụ thể của cách
mạng Việt Nam vạch ra được đường lối, chính sách đúng, lại luôn bổ sung, hoàn chỉnh để
đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của từng giai đoạn cách mạng.
Cương lĩnh chính trị - đường lối chính sách của Đảng phải đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ của cách mạng, phù hợp với quyền lợi, nguyện vọng thiết thân của đông đảo quần
chúng nhân dân thì mới được nhân dân tin theo, hưởng ứng tham gia, đóng góp cho cách
mạng, đưa cách mạng đến thành công.
Trong "vấn đề Đảng", văn kiện kèm theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8
(5/1941) đã ghi "Đảng Cộng sản là đội tiền phong", "bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp
vô sản". Đảng "có một lý luận tiền phong cách mạng, hiểu luật tiến hóa của lịch sử, luật