Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
1. Quan điểm về Đảng Cộng sản Việt Nam – sự đúc kết của một nhà tư
tưởng lớn
“Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, đó chính là Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam do
Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện. Xét ở khía cạnh vị thế của Hồ Chí
Minh trong việc nêu lên những quan điểm về ĐCS, chúng ta thấy nổi lên mấy
điểm đáng chú ý sau đây:
Một là, Hồ Chí Minh là một người cộng sản đầu tiên của Việt Nam.
Bởi vì, Hồ Chí
Minh là người cùng với các đồng chí phái tả của mình trong Đảng Xã hội Pháp
đứng ra thành lập Phân bộ Pháp của Quốc tế Cộng sản năm 1920 (Section
Francise de L’ Internationale Communiste, viết tắt là S.F.I.C.) – tức là ĐCS Pháp.
Như vậy, Hồ Chí Minh trở thành người cộng sản trước khi có ĐCS ở đất nước mình
10 năm.
Hai là, Hồ Chí Minh là một cán bộ của Quốc tế Cộng sản
từ năm 1924 đến năm
1943, khi Quốc tế Cộng sản tuyên bố tự giải tán.
Ba là, Hồ Chí Minh là người sáng lập ĐCS Việt Nam đầu năm 1930.
Bốn là, vì tất cả những chức trách và vai trò như trên, Hồ Chí Minh trở thành lãnh
tụ của ĐCS Việt Nam, ngay cả trước khi Người được bầu làm Chủ tịch Đảng ở Đại
hội II (2-1951).
Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo rèn luyện, lãnh đạo Đảng, chỉ rõ
những vấn đề lý luận và thực tiễnxây dựng Đảng để Đảng làm tròn nhiệm vụ
lãnh đạo toàn dân giành độc lập dân tộc, hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân và xây dựng xã hội mới, từng bước đưa nước nhà đi lên
CNXH.
Năm là, bản thân Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng lớn.
Hồ Chí Minh là nhà lý luận
trong hành động và nhà hoạt động thực tiễn trên cơ sở chỉ dẫn của một lý luận
tiên phong đã được kiểm nghiệm trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng
của mình.
Phong trào yêu nước
. Bởi vì:
a) Chủ nghĩa yêu nước vốn là giá trị văn hoá truyền thống trường tồn của dân tộc
Việt Nam.
Phong trào yêu nước đã trở thành giòng văn hoá chủ lưu của cộng
đồng người Việt Nam. Không chỉ là
tinh thần
yêu nước
, lòng
yêu nước,
tư tưởng
yêu nước mà là cái có giá trị văn hoá bền vững hơn, đó là
chủ nghĩa
yêu nước
(Patriotisme). Hồ Chí Minh đem chủ nghĩa yêu nước từ truyền thống nhập vào chủ
nghĩa cộng sản trở thành chủ nghĩa yêu nước hiện đại rồi tác động vào tiến trình
lịch sử của dân tộc Việt Nam: yêu nước gắn liền với con đường phát triển XHCN.
b) Phong trào yêu nước và phong trào công nhân kết hợp được ngay từ đầu,
tuyệt nhiên không có sự bài xích nhau, như một số phong trào yêu nước, phong
trào công nhân ở châu Âu
. Lý giải một cách hợp lý nhất cho điều này là giữa hai
phong trào này có điểm chung: độc lập, tự do cho dân tộc. Chủ nghĩa Mác – Lênin
cho rằng, chỉ có giải phóng được giai cấp thì mới giải phóng được dân tộc. Điều
đó đúng. Nhưng, ở Việt Nam, với một nước thuộc địa, khi vấn đề dân tộc nổi lên
trên hết và trước hết thì cái vế đó của chủ nghĩa Mác – Lênin được Hồ Chí Minh
đổi lại cho phù hợp hơn. Bàn đến đấu tranh giai cấp, Hồ Chí Minh cho rằng: “cuộc
đấu tranh giai cấp (ở Việt Nam – TG chú giải) không diễn ra giống như ở phương
Tây”[1]. Ngay từ năm 1924, trong
Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ
viết tại
nghiệp, con đường hình thành người công nhân Việt Nam, gốc gác của người công
nhân Việt Nam lại là trực tiếp từ người nông dân mà ra. Vì thế, việc hình thành
khối liên minh công-nông trong cách mạng Việt Nam không khó như ở phương
Tây. Bằng chứng là các cao trào cách mạng từ khi thành lập ĐCS Việt Nam trở đi,
đều ghi đậm dấu ấn khối đoàn kết liên minh công-nông, ngay cả trận “ra quân”
đầu tiên do ĐCS lãnh đạo là cao trào 1930 –1931 mà đỉnh cao là Xôviết Nghệ –
Tĩnh.
d) Nói đến phong trào yêu nước Việt Nam cũng phải nói đến phong trào của trí
thức. Họ ghi dấu ấn lớn vào tiến trình cách mạng Việt Nam.
Chính tầng lớp trí
thức chứ không phải ai khác, tuy số lượng không nhiều so với tổng số dân cư ở
một nước thuộc địa, nhưng lại là những “ngòi nổ” cho các phong trào yêu nước.
Trong những năm 20 của thế kỷ XX, những trí thức Việt Nam nhạy cảm với thời
cuộc, nặng lòng với non sông, đứng ra tổ chức hoặc đi theo những tổ chức yêu
nước rộ lên một thời trước khi ĐCS hình thành. Những người lãnh đạo các tổ chức
yêu nước đó không ai khác là những giáo viên, học sinh con nhà giàu bỏ học giữa
chừng để đi theo tiếng gọi của hồn thiêng sông núi.
Với đặc tính của mình, họ có điều kiện và nhanh nhạy đón nhận những “luồng gió
mới”, những trào lưu tư tưởng tư sản và vô sản qua các sách báo và qua môi
trường học đường. Có thể những quan điểm, tư tưởng đó đối với nhiều nước là
không mới, nhưng đối với thuộc địa bị nô dịch hà khắc dưới chế độ cai trị của
thực dân Pháp, thì là mới. Sức hấp dẫn của những luồng tư tưởng ấy đã thôi thúc
họ, người thì xuất dương, người thì chờ thời cơ, người thì đi tìm minh chủ, người
thì kết nối bạn bè đứng ra tổ chức riêng một nhóm, lúc đầu còn nhỏ bé, sau lớn
dần lên. Rồi mục tiêu, khẩu hiệu, phương pháp, tôn chỉ…phải thay đi đổi lại mấy
lần. Những năm 20 của thế kỷ XX này, đúng là các tổ chức yêu nước ken dày,
mọc lên như nấm sau cơn mưa mùa hạ mà những yếu nhân của các tổ chức đó là
những trí thức, tiểu tư sản, trong đó có cả những con nhà tư sản, địa chủ có
tiếng.
Phong trào yêu nước của tầng lớp trí thức có dịp hoà nhịp với phong trào công
đúng đắn với mốc Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tua (12-
1920) – con đường giải phóng dân tộc theo cách mạng vô sản, theo chủ nghĩa
Mác – Lênin; xét cả quá trình Hồ Chí Minh truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào
Việt Nam, chuẩn bị cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của ĐCS Việt
Nam; xét cả hoạt động của Người khi trực tiếp đứng ra chủ trì thống nhất các tổ
chức cộng sản để cho ra đời một ĐCS Việt Nam duy nhất, đưa giai cấp công nhân
bước lên vũ đài chính trị và nắm chắc vai trò lãnh đạo cách mạng; xét cả quá trình
lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, kể cả giai đoạn Đảng cầm quyền, thì tư tưởng Hồ
Chí Minh
rất xứng đáng được trở thành một yếu tố không thể tách rời (yếu tố thứ
tư) trong một tổ hợp các yếu tố cho sự ra đời và phát triển của ĐCS Việt Nam
.
Học theo cách diễn đạt của Hồ Chí Minh, chúng ta có thể trình bày điều trên đây
như sau:
Chủ nghĩa Mác – Lênin, phong trào công nhân, phong trào yêu nước, tư
tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với nhau là quy luật hình thành và phát triển của ĐCS
Việt Nam
.
2.2. Đảng là đạo đức, là văn minh
Hồ Chí Minh coi đạo đức là gốc, là nền tảng của người cộng sản. Hồ Chí Minh đã
lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện cho toàn Đảng về đạo đức cộng sản. Đó là một
nhân tố cực kỳ quan trọng để tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, là
yếu tố vững bền tạo nên truyền thống của Đảng ta. Trong quan niệm của Hồ Chí
Minh, đạo đức đã bao hàm cả các yếu tố về năng lực, phẩm chất của người cán
bộ, đảng viên.
Một trong những biểu hiện rõ nhất của Hồ Chí Minh về rèn luyện ĐCS Việt Nam để
cho Đảng trở thành Đảng của đạo đức, của văn minh là Người “rèn” đạo đức cán
bộ, đảng viên trong thực tế.
Hồ Chí Minh coi trung với nước, hiếu với dân là một trong những tiêu chuẩn quan
trọng nhất của đạo đức cách mạng và là một yếu tố cơ bản của nhân cách người
Việt Nam còn biểu hiện ở đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư của đội
ngũ cán bộ, đảng viên.
2.3. Về bản chất giai cấp và cơ sở xã hội của Đảng
Hồ Chí Minh hiểu rõ lý luận Mác – Lênin, cho rằng bản chất giai cấp của ĐCS Việt
Nam là bản chất giai cấp công nhân. Đây là vấn đề mấu chốt trong quan niệm về
bản chất giai cấp và cơ sở xã hội của Đảng ở Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh khẳng
định một quan điểm rằng, ĐCS Việt Nam không chỉ là Đảng của giai cấp công