6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
Do vị trí và tầm quan trọng của vấn đề nên việc nghiên cứu về đấu
tranh bảo vệ độc lập dân tộc, về ANPTT, cũng như mối đe dọa của ANPTT
đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, khu vực và trên thế giới là
chủ đề thu hút sự chú ý của nhiều nhà chính trị, nhiều nhà khoa học trong và
ngoài nước. Mặc dù các cách tiếp cận và góc độ nghiên cứu khác nhau, song
các công trình nghiên cứu đã phác họa được bức tranh tổng thể về vấn đề
quan trọng và phức tạp này. Các kết quả nghiên cứu đó là cơ sở cứ liệu, căn
cứ quan trọng để tác giả tập hợp nguồn tư liệu, kế thừa và tiếp tục nghiên cứu
làm rõ nội dung của luận án.
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC NGHIÊN CỨU
1.1.1. Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước
- Về sách:
+ Cuốn sách: "Xu hướng phát triển kinh tế thế giới hiện nay và tác động
đối với an ninh trật tự ở Việt Nam" của Nguyễn Văn Ngừng [111] đã tập trung
nghiên cứu, tìm hiểu đặc điểm chủ yếu của nền kinh tế thế giới và xu hướng vận
động trong thời gian tới; từ đó đánh giá những tác động của nó đối với kinh tế
Việt Nam và những ảnh hưởng đối với an ninh ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác
giả đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế, bảo vệ an ninh quốc gia và
giữ gìn trật tự an toàn xã hội dưới tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa.
+ Cuốn sách: "Chủ nghĩa khủng bố và chính sách đối ngoại của Mỹ" của
PaulPillar [114] đã đưa ra một số quan điểm về chủ nghĩa khủng bố, phân
tích, đánh gia chính sách đối ngoại hai mặt của Mỹ và việc chính quyền Mỹ lợi
dụng chống khủng bố để lôi kéo đồng minh, thực hiện âm mưu bá chủ thế giới.
+ Cuốn sách: "Chiến lược phòng thủ quốc gia chống vũ khí sinh học"
của Anthony H.Cordosman [34] đã phân tích việc sản xuất vũ khí sinh học và
8
+ Cuốn sách: "Chủ quyền quốc gia dân tộc trong xu thế toàn cầu hoá và
vấn đề đặt ra với Việt Nam" của Phan Văn Rân - Nguyễn Hoàng Giáp [121] đã
đưa ra quan niệm về chủ quyền quốc gia dân tộc, những nội dung đảm bảo chủ
quyền quốc gia dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa và rút ra những vấn đề mang
tính định hướng trong đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
+ Cuốn sách: "Hội nhập quốc tế và những vẩn đề đặt ra cho công tác
bảo vệ an ninh quốc gia" của Nguyễn Văn Hưởng [85] đã cho rằng, nội dung
của ANQG sẽ phải mang tính tổng hợp cao, không chỉ là ANTT (an ninh
chính trị và an ninh quân sự) mà cả ANPTT (an ninh kinh tế, văn hóa, xã hội,
thông tin, môi trường...). Ranh giới giữa ANTT và ANPTT không phải là
tuyệt đối mà có thể tác động lẫn nhau.
+ Cuốn sách: "Quốc phòng an ninh trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam" của Nguyễn Vĩnh Thắng [131] đã tập trung làm rõ cơ sở
lý luận và thực tiễn, trình bày có hệ thống quan điểm cơ bản của Đảng Cộng
sản Việt Nam về quốc phòng, an ninh trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
+ Cuốn sách "Hội nhập kinh tế quốc tế: Những vấn đề đặt ra đối với
công tác công an" của Phạm Ngọc Hiền [64] đã trình bày khá nhiều nghiên
cứu ở một số nước trên thế giới về ANPTT, đặc biệt là ở Mỹ, Nhật Bản và
Trung Quốc; nêu lên những vấn đề đặt ra đối với công tác công an trong đối
phó với các mối đe dọa ANPTT và hợp tác quốc tế về vấn đề này.
+ Cuốn sách "Độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong bối
cảnh mới" của Nguyễn Xuân Thắng [132] đã làm rõ mối quan hệ giữa độc lập,
tự chủ và hội nhập quốc tế; kinh nghiệm xử lý mối quan hệ này của một số quốc
gia trên thế giới; sự tiến triển trong nhận thức và kết quả thực tiễn xử lý mối
quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế của Việt Nam; đề xuất những
định hướng chủ yếu và các giải pháp về xử lý mối quan hệ này đến năm 2020.
+ Cuốn sách "Hỏi - đáp về bảo vệ an ninh quốc gia trong bối cảnh toàn
khu vực, an ninh quốc gia, an ninh xã hội và an ninh con người.
+ Bài viết: "Tiếp cận thách thức an ninh phi truyền thống" của Nguyễn
Vũ Tùng [162] đã tiếp cận quan niệm ANPTT dưới góc độ là thách thức, cho
rằng cần được hiểu trong bối cảnh so sánh với ANTT; ANPTT nổi lên trước
hết như một sự phê phán đối với cách tiếp cận ANTT. Sự phê phán này được
11
tiến hành cả từ lý luận và thực tiễn. Đồng thời, ANTT và ANPTT không hoàn
toàn có tính loại trừ nhau, bởi xét từ góc độ chung nhất, nếu ANQG được đảm
bảo thì an ninh của người dân sống trong quốc gia đó mới được đảm bảo.
Ngược lại, nếu một nước đảm bảo được quyền sống, quyền phát triển mọi mặt
của người dân, thì sức mạnh tổng hợp của nước đó được tăng cường và ngày
càng có khả năng bảo vệ an ninh và vị thế của mình trên trường quốc tế.
+ Bài viết: "An ninh phi truyền thống và một số vấn đề Việt Nam cần
quan tâm" của Hải Minh [105] đã cho rằng, sự thay đổi nhanh với tốc độ
nhiều khi không còn kiểm soát được của thế giới hiện đại đặt tất cả các quốc
gia, trong đó có Việt Nam trước thách thức an ninh hoàn toàn mới.
+ Bài viết: "Biến đổi khí hậu toàn cầu và tác động tới an ninh, quốc
phòng" của Đỗ Quốc Tuân [155] đã cho rằng, nhân loại đang phải đối mặt với
những vấn đề thời sự toàn cầu hiện nay như phát triển bền vững, khủng hoảng
tài chính và tín dụng, chiến tranh và xung đột vũ trang, đói nghèo, biến đổi
khí hậu... Biến đổi khí hậu có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ
yếu là do tác động chủ quan của chính con người, dẫn đến những ảnh hưởng
sâu rộng tới toàn bộ hành tinh cũng như mọi mặt đời sống xã hội con người.
+ Bài viết: "Những nội dung cơ bản của công tác bảo vệ an ninh quốc gia
theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI" của Tô Lâm [92] đã khẳng
định tại Đại hội XI, Đảng Cộng sản Việt Nam bổ sung vào nghị quyết về mục
tiêu, nhiệm vụ của an ninh, quốc phòng là sẵn sàng ứng phó các mối đe dọa
ANPTT (khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ cao, vũ khí
rằng, các thách thức ANPTT mang tính toàn cầu như thảm họa môi trường,
dịch bệnh, biến đổi khí hậu, khủng bố, các loại tội phạm xuyên quốc gia; tập
đoàn kinh tế nước ngoài lợi dụng hỗ trợ nhân đạo, liên kết, liên doanh, đầu tư
kinh tế, để chi phối, khống chế nền kinh tế, làm tổn hại đến định hướng
XHCN của nền kinh tế thị trường, phá hoại tài nguyên, môi trường gây mất
ổn định ở nước ta.
+ Bài viết: "Ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang
tính toàn cầu" của Tô Lâm [93] đã phân tích quan điểm, chủ trương của
Đảng, Nhà nước ta về phòng, chống nguy cơ đe dọa ANPTT; nêu ra các giải
pháp phòng ngừa, đối phó.
13
+ Bài viết: "Quan điểm của Việt Nam về một số thách thức ANPTT hiện
nay" của Nguyễn Thị Thúy Hà [61] đã trình bày những quan điểm của Đảng
và Nhà nước Việt Nam về ANPTT cũng như những giải pháp nhằm ứng phó
hiệu quả với các nguy cơ này.
+ Bài viết: "Tư duy mới về an ninh quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa
và hội nhập quốc tế" của Đặng Văn Hiếu [69] đã cho rằng, cần phải đổi mới
tư duy về ANQG nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, trong đó đánh giá
đúng tính chất phức tạp của ANPTT đối với nước ta; trên cơ sở đó, nêu ra một
số nhiệm vụ trọng tâm đối với Đảng, Nhà nước và lực lượng Công an nhân
dân trong giai đoạn hiện nay.
- Bài báo:
+ Bài viết: "Tội phạm mạng đe dọa an ninh năng lượng toàn cầu" của
Thủy Hoàng [74] đã thông tin về việc các chuyên gia Liên hợp quốc và nhiều
công ty năng lượng hàng đầu thế giới cảnh báo tội phạm mạng đã trở thành
mối đe dọa mới và lớn nhất đối với ngành công nghiệp năng lượng và an ninh
năng lượng toàn cầu.
+ Bài viết: "Châu Á trước những thách thức an ninh năng lượng và
bảo vệ môi trường, phát triển tài nguyên, môi trường sinh thái toàn cầu và kiểm
soát phòng chống dịch bệnh; Hai là, mối đe dọa đến sự ổn định an ninh khu
vực và quốc tế, bao gồm an ninh kinh tế, an sinh xã hội, quyền con người và
người tị nạn; Ba là, tổ chức tội phạm xuyên quốc gia, bao gồm cả buôn người
và buôn bán ma túy; Bốn là, tổ chức tồn tại ngoài nhà nước thách thức trật tự
quốc tế, lớn nhất là sự đe dọa của chủ nghĩa khủng bố quốc tế; Năm là, vấn đề
an ninh gây ra bởi phát triển công nghệ và toàn cầu hóa, bao gồm cả an ninh
mạng, an ninh thông tin và an ninh kỹ thuật di truyền. Đồng với quan điểm
trên, nhà nghiên cứu Yong đã đưa ra luận điểm của mình về ANPTT trong
công trình An ninh phi truyền thống và Trung Quốc (2007). Tác giả đã đi sâu
cắt nghĩa nguồn gốc và bản chất của ANPTT xuất phát từ chính các mâu thuẫn
trong xã hội, các mâu thuẫn giữa con người với giới tự nhiên, nhất là tình trạng
người bóc lột người vẫn chưa bị xỏa bỏ, tình trạng dân tộc này chèn ép dân tộc
khác vẫn chưa được khắc phục, bản tính tước đoạt tự nhiên vẫn chưa được loại
trừ, tính nhân bản của con người chưa được khơi dậy. Điều đó đã dẫn tới tình
trạng nghèo đói và xung đột, khai thác tài nguyên kiệt quệ, buôn bán PNTE,
17
ma túy. Do đó, tác giả cho rằng ANPTT luôn mang trong nó bản chất chính trị
- xã hội và kinh tế - xã hội mà muốn giải quyết tận gốc phải bắt đầu từ các cải
biến chính trị - xã hội và kinh tế - xã hội ở từng quốc gia, còn giải pháp hợp tác
quốc tế chỉ là ứng phó với tình huống đã xảy ra và trù liệu các kịch bản trong
tương lai. Tất nhiên, trong khi nhấn mạnh đến bản chất kinh tế - xã hội và
chính trị - xã hội, tác giả cũng không phủ nhận những biến đổi mang tính tự
nhiên của sinh giới, của xã hội đặt ra những mâu thuẫn mới mà loài người phải
giải quyết như dịch bệnh, thay đổi môi trường.
+ Cuốn: "Bàn về an ninh phi truyền thống" của Lục Trung Vĩ [187] đã
trình bày nhân tố an ninh quốc gia phi truyền thống thuộc các phạm trù: an
ninh kinh tế, an ninh chính trị và an ninh xã hội. Trong đó, những vấn đề như
đồng an ninh trên phương diện chính trị, nhà nước và quốc tế, đồng thời đặt
nó trong bối cảnh mới khi thế giới đang phải ứng phó với mối đe dọa ANPTT.
+ Cuốn: "Mối liên hệ giữa kinh tế, an ninh và quan hệ quốc tế ở Đông Á"
(The Nexus of Economics, Security, and International Relations in East Asia)
của Avery Goldstein, Edward Mansflel [192] đã cho rằng, kinh tế và an ninh có
mối liên hệ với nhau chứ không phải là tách biệt và điều này có ảnh hưởng đến
quan hệ quốc tế ở Đông Á. Hai ông cho rằng bằng nhiều cách tiếp cận khác
nhau có thể giải thích sự năng động của khu vực Đông Á đã tác động đến kinh
tế chính trị và an ninh quốc tế và đánh giá độ bền vững của hòa bình và thịnh
vượng ở Đông Á.
- Bài viết trên tạp chí, báo mạng:
+ Bài: "Hội nghị Thượng đỉnh G7 là một tổ chức an ninh mới" của John
Kirton [89] đã cho rằng, sau chiến tranh thế giới thứ hai, đối với an ninh về cơ
bản có 3 mối đe dọa: mối đe dọa cũ, mối đe dọa mới và mối đe dọa đang xuất
hiện. Hiện nay, thế giới chủ yếu đối mặt với mối đe dọa mới và các mối đe
dọa đang xuất hiện. Trong trường hợp mối đe dọa cũ - ANTT, thì an ninh
quân sự là nền tảng với lực lượng vũ trang đóng vai trò chủ đạo. Còn trong
mối đe dọa mới và mối đe dọa đang xuất hiện, thì các yếu tố có tính phi quân
sự chi phối và lực lượng vũ trang đóng một vai trò tối thiểu.
+ Bài: "Quan hệ đối tác về công nghệ tái tạo: Lối thoát cho an ninh năng
lượng" (Technology Partnerships for Renewables: Key to Energy Security)
19
của tác giả Bertrand Fort, Francis X.Johnson [193] đã đưa ra cách tiếp cận
riêng để giải quyết an ninh năng lượng và an ninh môi trường. Đáng chú ý,
tác giả đã chỉ ra giải pháp công nghệ cho đảm bảo an ninh năng lượng, nhờ đó
mới có thể tận dụng được năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, năng lượng
mới. Điều đó tạo nên ý nghĩa kép: vừa đảm bảo an ninh năng lượng, vừa đảm
bảo an ninh môi trường.
khí chiến tranh điện tử. Hãng Enst &Young công bố công trình An ninh thông
tin: nguy cơ mới mà nhiều người chưa sẵn sàng đối phó, cho rằng bước sang
thế kỷ XXI với sự phát triển ngày càng mạnh của kinh tế tri thức và hội nhập
kinh tế toàn cầu, an ninh thông tin có những sắc thái hoàn toàn mới với những
biểu hiện rất đa dạng, nếu không quan tâm đúng mức sẽ phải gánh chịu tổn
thất kinh tế không nhỏ.
+ Bài: "Những vấn đề an ninh phi truyền thống: An ninh hóa tội phạm
xuyên quốc gia trong khu vực châu Á" (Non-Traditional Security Issues:
Securitisation of Transnational Crime in Asia) của James Laki [197] đã phản ánh
thực trạng buôn lậu thuốc phiện và buôn người trong khu vực châu Á - Thái
Bình Dương, cũng như những ảnh hưởng tiêu cực của nó đối với khu vực…
1.2. NHỮNG VẤN ĐỂ LUẬN ÁN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.2.1. Những vấn đề liên quan đến luận án đã được giải quyết
Tổng quan các công trình nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước nêu
trên đã cho thấy, liên quan đến đề tài luận án đã có khá nhiều công trình khoa
học nghiên cứu, đề cập với những góc độ và các cấp độ khác nhau, nhiều vấn
đề đã được giải quyết.
Một là, nghiên cứu lý luận chung về ANPTT thống với cách tiếp cận đa
diện về nội hàm khái niệm, luận giải bản chất, cấu trúc, tính chất, đặc điểm và
nhận dạng các dấu hiệu của an ninh phi truyền thống.
Tuy còn có sự khác nhau, đặc biệt là về nội hàm, nhưng các nghiên cứu,
về cơ bản, đã có sự thống nhất khi cho rằng, khái niệm ANPTT là khái niệm
mang tính chất “động”, cùng với thời gian, nội hàm của nó có thể còn được
mở rộng hơn. Do vậy, cách đặt vấn đề về mối đe dọa ANPTT của các quốc
gia, các khu vực và cộng đồng còn có sự khác nhau. Trong thời đại toàn cầu
hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, các mối quan hệ, các mặt của đời
21
22
thổ của Tổ quốc. Theo đó, phát triển bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, thực
hiện công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo, phát triển văn hóa, giáo dục, khoa
học công nghệ, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và sức khỏe của nhân
dân, tăng cường quốc phòng và an ninh... là những vấn đề cơ bản tạo nền gốc
vững chắc cho việc đối phó với mối đe dọa ANPTT.
Ba là, nhiều công trình đã nêu lên những vấn đề cơ bản về bảo vệ ĐLDT
của Việt Nam trước mối đe dọa ANPTT. Các công trình đã nghiên cứu kết
hợp đánh giá thực trạng với tìm kiếm cơ chế, phương thức, mô hình và giải
pháp ở tầm quốc gia và quốc tế nhằm đối phó với mối đe dọa ANPTT và bảo
vệ ĐLDT trước các mối đe dọa này.
Những vấn đề lý luận và thực tiễn, lịch sử và kinh nghiệm về bảo vệ
ĐLDT của Việt Nam trước mối đe dọa ANPTT đã được thể hiện trên những
nét cơ bản trong một số công trình khoa học ở trong nước. Các vấn đề: giữ
vững định hướng phát triển; ổn định chính trị xã hội đất nước; bảo đảm lợi ích
quốc gia dân tộc; độc lập, tự chủ; chủ quyền, an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh
thổ; giữ vững sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội.. là những vấn đề được
khá nhiều công trình nghiên cứu đặt ra với tư cách là nội hàm của bảo vệ
ĐLDT trước mối đe dọa ANPTT, trong mối quan hệ gắn bó với mục tiêu,
nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới. Các công
trình đều khẳng định sự cần thiết phải bảo vệ ĐLDT trước mối đe dọa
ANPTT; đồng thời, tuy chưa hệ thống, nhưng đã bước đầu chỉ ra và phân tích
những quan điểm, yêu cầu, nội dung, hình thức, biện pháp Việt Nam thực hiện
bảo vệ ĐLDT trước mối đe dọa ANPTT trong thời gian từ năm 2001 đến nay.
Bốn là, nhiều công trình đã xác định, việc tăng cường hợp tác quốc tế và
khu vực, cùng nhau phối hợp hành động là xu thế và giải pháp quan trọng
nhằm đối phó với mối đe dọa ANPTT và bảo vệ ĐLDT trước các mối đe dọa
này trong giai đoạn hiện nay.
loạt vấn đề lý luận, thực tiễn về mối đe dọa ANPTT ở Việt Nam và Việt Nam
bảo vệ ĐLDT trước mối đe dọa đó từ năm 2001 đến năm 2015 cần được nhận
thức, nhận diện và thực hiện như thế nào, với những nội dung, giải pháp mang
tính đặc thù ra sao cho đến nay vẫn còn khá nhiều “khoảng trống”. Vấn đề
Việt Nam thực hiện bảo vệ ĐLDT trước mối đe dọa ANPTT từ năm 2001 đến
24
năm 2015 chưa có công trình nào đề cập trực tiếp, trực diện, chuyên sâu, có
hệ thống với tư cách là công trình khoa học độc lập.
Trên cơ sở kế thừa thành quả của các nhà khoa học trong nước và nước
ngoài, tác giả làm rõ công cuộc bảo vệ ĐLDT của Việt Nam trước mối đe dọa
ANPTT giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2015 trên những vấn đề chính sau:
Thứ nhất, luận án tập trung làm rõ quan niệm về mối đe dọa ANPTT và
tác động của nó đến ĐLDT ở Việt Nam; cố gắng “khuôn” những vấn đề cụ
thể vào nội hàm của mối đe dọa ANPTT ở Việt Nam một cách hợp lý nhất, có
cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc. Phân tích thực trạng mối đe dọa ANPTT
ở Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2015, trên từng nội dung của mối đe dọa
ANPTT, bao gồm cả việc nhận diện, làm rõ tính chất, đặc điểm, cũng như sự
phát triển của từng vấn đề ANPTT trong khoảng thời gian theo phạm vi
nghiên cứu của đề tài.
Thứ hai, luận án làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn Việt Nam bảo
vệ ĐLDT trước mối đe dọa ANPTT từ năm 2001 đến năm 2015. Trên cơ sở
lý luận chung về ĐLDT và bảo vệ ĐLDT, luận án xây dựng quan niệm bảo vệ
ĐLDT trước mối đe dọa ANPTT, với nội hàm xác định, phù hợp với thực tiễn
của Việt Nam và thế giới hiện nay. Luận án phân tích thực tiễn Việt Nam bảo
vệ ĐLDT trước mối đe dọa ANPTT từ năm 2001 đến năm 2015 trên cơ sở
những chủ trương và biện pháp hoạt động cụ thể, chủ yếu là của Trung ương,
trong bảo vệ ĐLDT trước mối đe dọa ANPTT.
Thứ ba, luận án đánh giá một cách toàn diện, có hệ thống những thành
từ năm 2001 đến 2015, khi Việt Nam thực hiện hội nhập quốc tế ngày càng
sâu rộng, mối đe dọa ANPTT đối với ĐLDT của Việt Nam trở nên phức tạp.
26
Chương 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG
CỦA MỐI ĐE DỌA AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM
2.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI ĐE DỌA AN NINH PHI TRUYỀN
THỐNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỘC LẬP DÂN TỘC
2.1.1. Mối đe dọa an ninh phi truyền thống
Muốn làm rõ vấn đề bảo vệ ĐLDT trước các mối đe dọa ANPTT, trước
hết phải nhận diện rõ ANPTT; đồng thời, làm rõ tác động của nó với tư cách
là các mối đe dọa, các mối nguy cơ đối với độc lập dân tộc.
2.1.1.1. Khái niệm về mối đe dọa an ninh phi truyền thống
An ninh là một khái niệm cơ bản thường được sử dụng trong ngôn ngữ
và thực tiễn chính trị quốc tế. An ninh là nhu cầu đầu tiên và thiết yếu của
mỗi con người, mỗi quốc gia và toàn nhân loại; đồng thời, an ninh cũng là
điều kiện cơ bản và quan trọng số một đảm bảo cho sự phát triển của mỗi
quốc gia. Do sự khác biệt về lịch sử chính trị, văn hóa cũng như cách nhìn,
cách tiếp cận và quan niệm giá trị khác nhau của mỗi nước mà khái niệm an
ninh được hiểu, được định nghĩa theo nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên,
hiểu theo nghĩa chung nhất của ngôn ngữ chính trị quốc tế, “An ninh” là khái
niệm dùng để chỉ “Trạng thái ổn định, an toàn, không có dấu hiệu nguy hiểm
đe dọa sự tồn tại và phát triển bình thường của cá nhân, của từng tổ chức,
của từng lĩnh vực hoạt động xã hội hoặc của toàn xã hội” [165, tr.25]. Mặt
khác, nội hàm của khái niệm an ninh không chỉ giới hạn ở tình trạng như đã
nêu, mà còn bao hàm cả những biện pháp để mang lại tình trạng đó, tức là
hành động để thực hiện an ninh. Cách hiểu về khái niệm an ninh như vậy
ANTT, nó phản ánh sự thay đổi nhận thức của con người về an ninh và sự mở
rộng nội hàm khái niệm ANQG. Nếu ANTT coi ANQG là bảo vệ đất nước
các mối đe dọa hoặc tấn công bằng chính trị, quân sự từ bên ngoài và bên
trong thì ANPTT không chỉ bảo vệ chủ quyền quốc gia mà còn bảo vệ con
người, bảo vệ cộng đồng, nó mang tính xuyên quốc gia do những mối uy
hiếp, đe dọa của các nhân tố bên trong và bên ngoài đối với môi trường sinh
tồn và phát triển của cộng đồng xã hội và công dân của mỗi quốc gia trong
mối quan hệ chặt chẽ với khu vực và thế giới.
28
Sự xuất hiện ANPTT không làm phai nhạt và biệt lập với ANTT vì hai
vấn đề này luôn đan xen nhau và có thể chuyền hóa lẫn nhau trong điều kiện
nhất định. Trong thế giới hiện đại, an ninh của mỗi quốc gia vừa bao hàm an
ninh chính trị, quân sự truyền thống và đang đối mặt với nhiều thách thức phi
truyền thống như kinh tế, văn hóa, xã hội, thông tin, môi trường, tài nguyên,
chủ nghĩa khủng bố, v.v… Từ đó ANQG được bổ xung những nội dung mới,
tạo ra những thay đổi mang tính lịch sử trên những bình diện sau:
Thứ nhất, tranh chấp quyền lực, lãnh thổ truyền thống đang từng bước
chuyển hóa thành tranh chấp các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các nguồn
lực phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội, tranh chấp quyền lực cứng và
quyền lực mềm để mở rộng không gian ảnh hưởng phục vụ cho lợi ích quốc
gia, dân tộc.
Thứ hai, tận dụng ưu thế đi trước, có trình độ khoa học công nghệ cao,
nắm giữ các nguồn lực kinh tế to lớn, các cường quốc phương Tây luôn chủ
động sử dụng các thủ đoạn, cơ hội làm sâu sắc thêm mâu thuẫn, trầm trọng
thêm những khó khăn nhằm đẩy nhanh việc cải tạo tiến tới lật đổ các quốc gia
có chế độ chính trị khác nhằm thu hút các quốc gia đó vào khu vực ảnh hưởng
của mình.
Thứ ba, tiến trình toàn cầu hóa không ngừng gia tăng và sự phát triển
đề ANPTT vẫn chưa có sự thống nhất.
- Mỹ và Phương Tây quan niệm ANPTT:
Ở Mỹ, từ sau Chiến tranh lạnh với sự phát triển của các lý thuyết triết
học, học thuyết chính trị và hoàn cảnh cụ thể về sự biến chuyển của khu vực
cũng như thế giới như học thuyết quyền lực mềm và quyền lực cứng, quyền
lực thông minh được phát triển ở Mỹ từ thời tổng thống Bill Clinton(quyền
lực mềm), George Bush (quyền lực cứng), B. Ôbama (quyền lực thông minh),
được vận dụng để phát triển chính thức thành học thuyết cho An Ninh Quốc
gia Hoa Kỳ. Trong bối cảnh những tranh chấp quốc tế, chủ nghĩa khủng bố
diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn cầu cùng những diễn biến tác động từ
trong ngoài lãnh thổ quốc gia về biến đổi khí hậu, an ninh, quốc phòng, kinh
tế, chính trị, xã hội, văn hóa.... Mối đe dọa an ninh không chỉ kẻ thù truyền
thống như các nước khác, mà còn các tổ chức phi chính phủ bạo lực, các tập
đoàn ma túy, các tập đoàn đa quốc gia và các tổ chức phi chính phủ, một số
30
đột biến bao gồm thiên tai và các sự kiện gây thiệt hại môi trường nghiêm
trọng. Do đó, để đảm bảo nguồn lực tối ưu cho quốc gia và giải quyết những
tranh chấp, biến cố của quốc gia hay củng cố hình ảnh quốc gia trước cộng
đồng thế giới một số nước đã thành lập và củng cố hội đồng (ủy ban) quốc gia
đánh dấu tầm quan trọng của nó là cơ quan tham mưu cố vấn cao nhất cho
lãnh đạo của quốc gia đó về tình hình trong nước xu hướng của khu vực và
thế giới phối hợp hiệu quả với các cơ quan khác.
Ở Phương Tây: Có nhiều nhận thức khác nhau về ANPTT nhưng một số
học giả phương Tây cho rằng khái niệm an ninh trước đây được giải thích
theo nghĩa quá hẹp; theo cách suy nghĩ truyền thống, khách thể của nó cần
được đảm bảo an ninh là quốc gia (nhà nước); an ninh chỉ liên quan đến việc
bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ lợi ích quốc gia hoặc những giá trị cơ bản của quốc
gia; phương tiện trước tiên được sử dụng là duy trì lực lượng quân sự; sự an