ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
TRẦN ĐỨC BẮC
TỰ DO HOÁ THƢƠNG MẠI NÔNG SẢN TRONG KHUÔN KHỔ WTO
VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI CÁC NƢỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
Chuyên ngành: Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế
Mã số: 62.31.07.01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Lê Bộ Lĩnh
2.3.2 Hộp màu xanh da trời 48
2.3.3 Hộp màu vàng 52
2.4 Vấn đề các nước đang phát triển 56
2.5 Các vấn đề khác 59
CHƯƠNG 3. TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI NÔNG SẢN ĐẾN
CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO
VIỆT NAM 67
3.1 Những tác động đối với các nước đang phát triển 67
3.1.1 Mở rộng thị trường đồng nghĩa với gia tăng sức ép cạnh tranh 67
3.1.2 An ninh lương thực bị đe dọa 69
3.1.3 Sự lây lan của các tác nhân gây hại 72
3.1.4 Giảm nguồn thu ngân sách, nguy cơ thâm hụt cán cân tài khoản
vãng lai và áp lực điều chỉnh chính sách 73
3.2 Những tác động dự kiến đối với Việt Nam 75
3.2.1 Mở rộng thị trường đi đôi với áp lực cạnh tranh cao 77
3.2.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành và các vấn đề có liên quan 78
3.2.3 Giảm nguồn thu ngân sách và áp lực cải cách thể chế 81
3.3. Một số kiến nghị cho Việt Nam 82
3.3.1 Xây dựng Luật và bộ tiêu chuẩn về nông sản phù hợp tiêu chuẩn
quốc tế, ký kết hiệp định về tiêu chuẩn nông sản với các đối tác
thương mại lớn đi đôi với cải cách thể chế 82
3.3.2 Tiếp tục đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp kết hợp
với áp dụng khoa học kỹ thuật theo hướng nông nghiệp sinh thái 83
3.3.3 Phát triển hệ thống thông tin dự báo thị trường 87
3.3.4 Xây dựng chiến lược thị trường - sản phẩm ở cấp độ quốc gia cũng
như doanh nghiệp 89
3.3.5 Nâng cao chất lượng lực lượng lao động và phát triển hệ thống kỹ
thuật khuyến nông 90
3.3.6 Chính sách đất đai hợp lý hơn 91
KẾT LUẬN CHUNG 93
nghiệp đảm bảo cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến.
Bên cạnh đó, sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn tạo nên sự gia tăng
cầu về hàng hoá công nghiệp, cả tƣ liệu tiêu dùng lẫn tƣ liệu sản xuất. 2
Trong khuôn khổ các vòng đàm phán thƣơng mại đa phƣơng nhằm tạo
dựng một hệ thống thƣơng mại toàn cầu, vấn đề nông nghiệp chỉ mới đƣợc
đƣa vào các vòng đàm phán kể từ vòng Urugoay (1986 - 1994). Trƣớc đó, vấn
đề nông nghiệp chƣa đƣợc đƣa vào các vòng đám phán đa phƣơng, nếu có
cũng chỉ dừng lại ở mức độ chi tiết nhỏ của một số mặt hàng cụ thể. Cho đến
trƣớc vòng Urugoay, chỉ có vấn đề thịt bò và sản phẩm từ sữa đạt đƣợc việc
ký Hiệp định (vòng Tokyo 1973 - 1979).
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, tỷ trọng nông nghiệp trong
GDP hàng năm vẫn còn cao. Bên cạnh đó, lĩnh vực nông nghiệp vẫn đang là
kế sinh nhai của hơn năm mƣơi phần trăm dân số Việt Nam. Sự chuyển biến
về tự do hoá thƣơng mại nông sản sau các vòng đàm phán trong khuôn khổ
WTO hiện nay chắc chắn sẽ có những tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh
tế Việt Nam nói chung cũng nhƣ đến đời sống của ngƣời làm nông nghiệp.
Với những lý do trên, ngƣời viết lựa chọn đề tài "Tự do hoá thương
mại nông sản trong khuôn khổ WTO và tác động đối với các nước đang
phát triển" với hy vọng góp phần dự báo tác động đối với nông nghiệp ở các
nƣớc đang phát triển của các Hiệp định trong khuôn khổ WTO.
2. Tình hình nghiên cứu:
Cho đến nay, vấn đề nông nghiệp và tự do hoá thƣơng mại nông sản
trong khuôn khổ Tổ chức Thƣơng mại Thế giới - WTO vẫn còn là một lĩnh
vực mới mẻ. Số lƣợng các công trình, báo cáo chuyên đề hay các bài nghiên
cứu về lĩnh vực này vẫn còn ít. Là một nƣớc đang phát triển, hiện đang thực
hiện các vòng đàm phán để gia nhập Tổ chức Thƣơng mại Thế giới, tại Việt
là nhằm đánh giá tác động của tiến trình tự do hoá thƣơng mại nông sản đối
với các nƣớc đang phát triển. Trên cơ sở đó, đƣa ra các kiến nghị giải pháp
đối với Việt Nam trong bối cảnh chung của WTO.
4
4. Đối tƣợng nghiên cứu:
Với mục đích nghiên cứu nhƣ trên, đối tƣợng nghiên cứu của đề tài này
là tự do hoá thƣơng mại nông sản thông qua các cuộc đàm phán về nông
nghiệp trong khuôn WTO bắt đầu từ 1995 cho đến nay và những tác động của
chúng đến các nƣớc đang phát triển.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Đề tài đƣợc thực hiện bằng một sự kết hợp các phƣơng pháp nghiên
cứu của kinh tế học, kinh tế quốc tế và kinh tế phát triển. Trong đó, chủ yếu là
các phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, so sánh.
6. Những đóng góp của luận văn:
Với đề tài nghiên cứu này, ngƣời viết mong muốn đề tài này có đƣợc
những đóng góp sau:
Một là, luận giải cơ sở khoa học và thực tiễn của tự do hoá nông sản,
đặc biệt là những lợi ích của các nƣớc đang phát triển xuất khẩu nông sản.
Hai là, trên cơ sở phân tích những nội dung chủ yếu của các cuộc đàm
phán về tự do hoá thƣơng mại nông sản trong khuôn khổ WTO, đánh giá
đƣợc tác động của quá trình tự do hoá thị trƣờng nông sản thế giới đến các
nƣớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Ba là, đƣa ra một số kiến nghị giải pháp đối với Việt Nam, nhằm chuẩn
bị tham gia hiệu quả vào tiến trình tự do hoá thƣơng mại nông sản trong
khuôn khổ WTO.
*****6
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
CỦA TỰ DO HOÁ THƢƠNG MẠI NÔNG SẢN
1. 1 Cơ sở lý thuyết của vấn đề tự do hoá thương mại
Từ thế kỷ XVI, việc giao lƣu buôn bán giữa các nƣớc phát triển một
cách mạnh mẽ. Tuy nhiên, với sự ra đời của chủ nghĩa trọng thƣơng, việc xuất
khẩu đƣợc khuyến khích trong khi nhập khẩu lại bị hạn chế. Cùng với sự phát
triển của kinh tế thế giới, các chính sách hạn chế nhằm hạn chế nhập khẩu
trong lúc khuyến khích xuất khẩu - chính sách thƣơng mại - đƣợc áp dụng. Có
thể hiểu rằng chính sách thƣơng mại là tập hợp các biện pháp thuế quan và
phi thuế quan nhằm điều tiết lƣợng hàng hoá xuất nhập khẩu tại thị trƣờng
của một nƣớc. Việc áp dụng các chính sách thƣơng mại trên thực tế nhằm
mục đích ngăn cản hàng nhập khẩu là chủ yếu.
Năm 1776, trong tác phẩm "Của cải của các dân tộc", A.Smith đã cho
rằng, chìa khoá của sự giàu có và quyền lực của các quốc gia là tăng trƣởng
kinh tế. Tăng trƣởng kinh tế lại phụ thuộc vào quy mô thị trƣờng. Do đó, khi
một ai đó dựng lên các rào cản thƣơng mại chống lại sự trao đổi hàng hoá và
sự mở rộng thị trƣờng, cũng đồng nghĩa với việc hạn chế lợi ích trong nƣớc
và sự mở rộng thị trƣờng. Theo A.Smith, thƣơng mại tự do đồng nghĩa với lợi
ích cho cả hai phía cung và cầu. Vì thế, khi thƣơng mại diễn ra trong trạng
thái tự do, các quốc gia nên chuyên môn hoá vào sản xuất sản phẩm mà họ có
lợi thế tuyệt đối. Quan điểm này về sau D.Ricardo phát triển thành lý thuyết
lợi thế so sánh. D.Ricardo cho rằng, thƣơng mại tự do sẽ mang lại lợi ích cho
cả hai phía. Ông cho rằng, thƣơng mại quốc tế không phải là một trò chơi có
tổng số bằng không, mà là một sự hài hoà về lợi ích trên cơ sở chuyên môn
hoá và lợi thế so sánh. Quan điểm về hài hoà lợi ích là một sự nhấn mạnh lý
do thuế nhập khẩu và hạn ngạch nhập khẩu gây ra trong một số nền kinh tế cụ 8
thể. Thực tế cho rằng, nƣớc lớn sẽ phải trả một tỷ lệ chi phí theo tổng thu
nhập quốc dân là nhỏ hơn rất nhiều so với cái mà các nƣớc nhỏ phải trả do áp
dụng thuế nhập khẩu và hạn ngạch nhập khẩu. Tỷ lệ mà các nƣớc nhỏ phải trả
vào khoảng 10% của tổng thu nhập quốc dân tiềm năng do những méo mó mà
chính sách thƣơng mại gây ra.
Hộp 1.1 - Tác động của thuế nhập khẩu
P P P
P
DT
A A'
P
W
B
C
C'
B'
P
FT
W
. Để hạn chế hàng hoá nhập khẩu, nước nhập khẩu áp dụng mức thuế T đối
Nước nhập khẩu
Thị trường thế giới
Nước xuất khẩu 9
Bên cạnh thuế nhập khẩu, các hình thức gây bóp méo thị trƣờng khác
còn có hỗ trợ trong nƣớc và hỗ trợ xuất khẩu. Thuế nhập khẩu làm cho hàng
hoá nhập khẩu tại một nƣớc có mức giá cao hơn mức giá trên thị trƣờng thế
giới. Trong lúc đó, hỗ trợ trong nƣớc lại gây ra bóp méo thị trƣờng bàng cách
khác. Tại hầu hết các nƣớc trên thế giới, lao động lĩnh vực nông nghiệp luôn
có thu nhập thấp hơn lao động trong các lĩnh vực phi nông nghiệp. Vì vậy, ở
một số nƣớc, chủ yếu là các nƣớc phát triển, lao đông trong lĩnh vực nông
nghiệp - nông dân - đƣợc nhà nƣớc cấp một khoản hỗ trợ nhằm tạo sự cân
bằng thu nhập. Các khoản hỗ trợ có thể đƣợc thanh toán trực tiếp (tiền mặt)
hoăc gián tiếp (trợ giá vật tƣ nông nghiệp, hoặc các chính sách ƣu đãi khác).
Các khoản hỗ trợ này đƣợc tính toán theo đầu đơn vị gia súc hoặc diện tích
canh tác hoặc sản lƣợng. Tuy nhiên, dù là tính theo cách nào thì các hình thức
hỗ trợ này cũng khiến cho ngƣời nông dân sản xuất ngày càng nhiều. Bởi vì
sản xuất càng nhiều họ càng có lợi. Sự khuyến khích này dẫn đến sự gia tăng
sản lƣợng nông nghiệp. Ban đầu, sự gia tăng này làm cho toàn xã hội đƣợc lợi
do không lo sợ thiếu hụt nguồn cung sản phẩm nông nghiệp cũng nhƣ thu
nhập chung của toàn xã hội đƣợc cải thiện. Xét về dài hạn, sự khuyến khích
này bắt đầu tạo ra một sự dƣ thừa nguồn cung các sản phẩm nông nghiệp. Sự
dƣ thừa trên thị trƣờng nội địa dẫn đến nhu cầu xuất khẩu ngày càng lớn. Tuy
nhiên, nhu cầu trên thị trƣờng thế giới cũng có giới hạn. Trong lúc nhu cầu có
giới hạn và nguồn cung ngày càng tăng, một điều tất yếu sẽ xảy ra là chỉ có
các sản phẩm giá rẻ hơn hoặc chất lƣợng tốt hơn hoặc cả hai mới có chỗ đứng
đã tăng lên 8,6% so với khi chƣa thực hiện tự do thƣơng mại
1
, mức tăng này
lớn gấp ba lần so với đánh giá điển hình của các nhà kinh tế không tính đến
các lợi ích thu đƣợc từ lợi thế kinh tế nhờ quy mô. Nếu nguồn lợi bổ sung thu
đƣợc từ tự do thƣơng mại thực sự lớn nhƣ một số nhà kinh tế học tin tƣởng, 11
thì cái giá của việc làm méo mó thƣơng mại bằng thuế quan, hạn ngạch, trợ
cấp xuất khẩu sẽ lớn hơn các đánh giá thông thƣờng về chi phí lợi ích.
Các nhà kinh tế học thƣờng chỉ ra rằng các chính sách thƣơng mại
trong thực tiễn thƣờng bị chi phối bởi những lợi ích chính trị đặc biệt hơn là
bởi các cân nhắc về chi phí - lợi ích quốc gia. Theo họ, về lý thuyết thì một hệ
thống thuế nhập khẩu và trợ cấp xuất khẩu có lựa chọn có thể tăng thêm phúc
lợi nhà nƣớc, nhƣng trên thực tế bất kỳ một cơ quan chính phủ nào tìm cách
theo đuổi một chƣơng trình can thiệp tinh vi vào thƣơng mại thì chắc chắn họ
sẽ bị các nhóm lợi ích lôi kéo vào một toan tính, nhằm phân phối lại thu nhập
cho các khu vực có ảnh hƣởng về mặt chính trị. Nếu lập luận này đúng thì cần
chủ trƣơng tự do thƣơng mại hoàn toàn, không có ngoại lệ. Mặc dù trên cơ sở
kinh tế đơn thuần, tự do thƣơng mại có thể không nhất thiết phải luôn luôn là
một chính sách tốt nhất.
Các lập luận ở trên hẳn là thể hiện quan điểm thông thƣờng của hầu hết
các nhà kinh tế học quốc tế, ít nhất là của các nhà kinh tế học Mỹ:
Thứ nhất, theo cách đánh giá thông thƣờng, giá phải trả cho việc không
thi hành tự do thƣơng mại là lớn.
Thứ hai, có những lợi ích khác từ tự do thƣơng mại, nó làm tăng thêm
cái giá phải trả cho các chính sách bảo hộ.
Thứ ba, bất kỳ mƣu toan nào hòng xa rời khỏi tự do thƣơng mại đều sẽ
bị phá vỡ bởi tiến trình chính trị.
quy chế mậu dịch công bằng giữa các nƣớc thành viên của WTO với nhau.
Bên cạnh đó, quy chế đối xử quốc gia - NT (viết tắt bằng tiếng Anh của cụm
từ National Treatments) quy định rằng, một khi hàng hoá của một nƣớc thành
viên nào đã đƣợc nhập khẩu vào thị trƣờng của một nƣớc thành viên khác thì
những hàng hoá đó cũng đƣợc hƣởng chung các quy định về thuế quan, điều
tiết thị trƣờng giống nhƣ hàng hoá đƣợc sản xuất tại nƣớc nhập khẩu. 13
Thứ hai, tự do hơn. Nguyên tắc này quy định rằng, các hàng rào thƣơng
mại sẽ luôn đƣợc tiếp tục giảm bớt và tiến tới loại bỏ thông qua các cuộc đàm
phán giữa các thành viên trong WTO. Mức giảm đầu tiên đối với các biện
pháp thuế của các thành viên WTO theo kết quả của vòng Uruguay là 36%
đối với các nƣớc phát triển, trong lúc đó đối với các nƣớc đang phát triển là
24%, mức giảm này đƣợc tiến hành trong vòng 5 năm và sau đó sẽ tiếp tục
đàm phán vào thời điểm 1 năm trƣớc khi kết thúc thời hạn thực hiện cam kết
để tiếp tục giảm thuế (bắt đầu vào đầu năm 2000 và kết thúc vào ngày 01
tháng 01 năm 2005), nhằm tiến tới một thị trƣờng toàn cầu phi thuế quan.
Thứ ba, có thể dự đoán đƣợc. Theo nguyên tắc này, hàng rào thƣơng
mại bao gồm thuế quan, phi thuế quan, và các biện pháp khác không thể tự ý
nâng lên. Các chính phủ không đƣợc dựng lên các loại thuế mới cũng nhƣ
không đƣợc nâng các mức thuế đang tồn tại lên cao. Các chính sách về thuế
phải ổn định theo chiều hƣớng giảm dần, và do đó những ngƣời tham gia kinh
doanh có thể dự đoán đƣợc mức thuế mà họ sẽ phải chịu khi tiếp cận thị
trƣờng của một nƣớc nào đó. Tuy nhiên, theo mục tiêu dài hạn của WTO, các
hàng rào thuế sẽ bị giảm dần và tiến đến loại bỏ hoàn toàn.
Thứ tư, có tính cạnh tranh hơn. Không khuyến khích các biện pháp
nông sản cũng chịu sự điều chỉnh của các Hiệp định khác có liên quan nhƣ,
Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp kiểm dịch động - thực vật, Hiệp định
về hàng rào kỹ thuật trong thƣơng mại, Hiệp định về quy tắc xuất xứ, Hiệp
định về các biện pháp tự vệ và một số Hiệp định có liên quan khác trong
những trƣờng hợp cụ thể.
15
Hộp 1.2 Hiệp định Nông nghiệp
Hiệp định Nông nghiệp gồm 13 chƣơng, 21 Điều và 5 Phụ lục. Nội
dung của Hiệp định này bao gồm các vấn đề cơ bản sau đây:
1. Quy định tiếp cận thị trƣờng: Các thành viên không đƣợc giữ lại, áp
dụng hoặc tái sử dụng những biện pháp mà ngay từ đầu đã bị yêu cầu chuyển
đổi thành thuế phổ thông, trừ phi có quy định gì khác tại điều 5 và phụ lục 5.
2. Cam kết hỗ trợ trong nƣớc: Sự hỗ trợ trong nƣớc dƣới đây không
phải giảm trừ: một thành viên thực hiện hỗ trợ trong nƣớc đối với một loại sản
phẩm nào đó trong tính toán tổng lƣợng hỗ trợ chung mà chƣa quá 5% tổng
sản lƣợng trong một năm của năm đó về sản phẩm nông nghiệp cơ bản của
thành viên này; đối với thành viên nƣớc đang phát triển, thì tỷ lệ phần trăm vi
lƣợng theo quy định của điều này là 10%.
3. Cam kết cạnh tranh xuất khẩu: Mỗi thành viên cam kết không đƣợc
trợ cấp xuất khẩu cách thức khác trừ phi cách thức đó phù hợp với hiệp định
này cũng nhƣ phù hợp với cam kết trong biểu cắt giảm của nƣớc đó.
4. Điều khoản vệ sinh và vệ sinh thực vật: Các thành viên đồng ý thực
những ngƣời sống dựa vào nông nghiệp. Lĩnh vực nông nghiệp do đó đóng
góp vào sự tăng trƣởng chung cả trực tiếp (gia tăng sản lƣợng và xuất khẩu)
lẫn gián tiếp (tăng nhu cầu của cƣ dân nông nghiệp về hàng hoá tiêu dùng
công nghiệp và các loại dịch vụ).
Bảng 1 - 1 là những con số ƣớc tính về lợi ích mà các nhóm nƣớc thu
đƣợc từ việc thực hiện tự do hoá thƣơng mại nông sản. Theo Bảng 1 - 1, lợi
ích mà các nƣớc nhận đƣợc từ tự do hoá thƣơng mại nông sản đạt khoảng 586
tỷ USD, trong đó, phần thu đƣợc ở các nƣớc thuộc nhóm thu nhập cao là 196
tỷ USD và phần còn lại (390 tỷ USD) là do thu đƣợc ở các nƣớc thuộc nhóm
thu nhập thấp. Điều này cũng có nghĩa là, việc thực hiện tự do hoá thƣơng
mại nông sản sẽ mang lại lợi ích cho tất cả các nƣớc trên thế giới. Trong lợi
ích đó, các nƣớc thuộc nhóm thu nhập thấp (thực tế là các nƣớc đang phát
triển và chậm phát triển) là những ngƣời thu đƣợc nhiều lợi ích nhất. Và phần
lớn lợi ích mà những nƣớc đang phát triển thu đƣợc (khoảng 80% trong tổng
lợi ích từ tự do hoa thƣơng mại nông sản) cũng có nguồn gốc từ chính các
nƣớc cùng trình độ phát triển, cùng nhóm thu nhập. 17
Bảng 1 - 1
Các n-ớc thu nhập cao
Nhóm thu nhập cao 73 144
Nhóm thu nhập thấp 31 99
Tính chung 104 243
Các n-ớc thu nhập thấp và trung bình
Nhóm thu nhập cao 23 53
Nhóm thu nhập thấp 114 294
Tính chung 137 347
Tính chung
Nhóm thu nhập cao 106 196
triển nhận đƣợc có nguồn gốc từ việc cắt giảm thuế quan của họ, do đó mức
giá mà ngƣời tiêu dùng phải trả cho hàng hoá nhập khẩu là thấp hơn trƣớc đó.
Bên cạnh những lợi ích thu đƣợc nhƣ trên từ việc tự do hoá thƣơng mại
nông sản trên thế giới, quá trình này cũng gặp một số vấn đề trở ngại nhƣ sau:
Thứ nhất, Chính sách và mức hỗ trợ trong nƣớc gây bóp méo thƣơng
mại vẫn còn ở mức cao. Ví dụ, mức hỗ trợ trong nƣớc ở các nƣớc OECD cao:
Tổng số tiền nhằm mục đích hỗ trợ trong nƣớc ở các nƣớc OECD năm 2001
là 311 tỷ USD, con số này chỉ khoảng 1,3% GDP của các nƣớc OECD nhƣng
xấp xỉ tổng GDP của các nƣớc vùng cận Sahara, trong đó 69% là nhằm mục
đích trợ giá.
Với mức hỗ trợ cao nhƣ bảng dƣới đây, mức giá mà nông dân các nƣớc
OECD nhận đƣợc cao hơn mặt bằng chung của thị trƣờng thế giới là 31%
(thời kỳ cơ bản theo Hiệp định Nông nghiệp 1986 -1988 con số này là
+51%).
4
Mức hỗ trợ này thực sự là yếu tố cơ bản bóp méo thƣơng mại và tác
động đến giá cả nông sản thế giới. Quan trọng hơn, mức giá cao một mặt đem
lại lợi ích cho nông dân ở các nƣớc OECD, nhƣng lại là gánh nặng cho cả
nông dân ở các nƣớc đang phát triển lẫn ngƣời tiêu dùng ở các nƣớc có thu
nhập thấp - nơi mà chi tiêu cho lƣơng thực vẫn chiếm một tỷ trọng lớn trong
chi tiêu của các hộ gia đình. Mặc dù vậy, kế hoạch tƣơng lai mà các nƣớc
OECD dành cho các nƣớc đang phát triển là không rõ ràng.
19
Bảng 1 - 2
Đơn vị tính: Triệu USD
Australia 1.376,00 946,70 96,70 10,20%
Th hai, mt s nc vn cũn tn ti cỏc ro cn thng mi v thu
bc thang cao. Cỏc tớnh toỏn cho thy, mc thu i vi nụng sn hin nay
cao gp 6 ln so vi sn phm cụng nghip
5
. Trong lỳc ú, t l thu hn
ngch mi dn thay th cỏc loi hng ro phi thu theo Hip nh Nụng
nghip, cỏc t l thu ngoi hn ngch vn cao v ụi khi vn cú mt s hỡnh
thc cm ún khỏc. Thm chớ mc thu trong hn ngch cao n mc cỏc hn
ngch b b trng rt nhiu. Mc thu cao lm thit hi cho thng mi ca
cỏc nc ang phỏt trin l 5 t USD, trong ú ch yu l thng mi nụng
sn. Mc thu cao khụng ch mt nc m cú u khp cỏc nc. T thu
sut 129% dnh cho ng M n 162% dnh cho lỳa go E.U.
6
. Mc
thu cao cũn biu hin cỏc loi thu bc thang dnh cho cỏc mt hng ch 20
bin. c bit l i vi mt hng nụng sn nhit i ch bin. iu ú ó cn
tr vic tin hnh cỏc hot ng to ra giỏ tr gia tng nhng quc gia ang
phỏt trin.
Th ba, h tr xut khu cao lm búp mộo th trng th gii i vi
mt hng c bn. Hỡnh thc h tr ny ch yu cú nc phỏt trin, c bit
l cỏc nc thuc nhúm OECD. Vi mc sn lng d tha cao (do c
khuyn khớch bi cỏc chớnh sỏch h tr trong nc) giỏ sn phm trong nc
cỏc nc OECD cú nguy c b gim thp nu bỏn ton b sn phm trờn th
trng ni a. Chớnh vỡ th, cỏc bin phỏp khuyn khớch xut khu c ỏp
dng. S duy trỡ mc h tr cao cỏc nc OECD vn l yu t c bn trờn
th trng nụng sn th gii v cú nh hng ln n giỏ v cỏc iu kin th
trng nụng sn. Mc dự, theo Hip nh Nụng nghip, cỏc nc s dng h
sản cũng là tất yếu. Cả về mặt lý thuyết lẫn thực tiến đều cho thấy rằng, chỉ có
tự do hoá thƣơng mại nông sản mới mang lại lợi ích tối đa cho các nƣớc khi
tham gia buôn bán trên thị trƣờng nông sản thế giới. Bất kể là nƣớc phát triển
hay đang phát triển, tự do hoá thƣơng mại nông sản đều mang lại cho họ
những lợi ích nhất định. Trong đó, các nƣớc đang phát triển là những ngƣời
trong đợi nhất điều này, vì đó là lĩnh vực mà họ có thể có đƣợc lợi thế so sánh
nhất định, đồng thời là chìa khoá cho sự phát triển của họ.
Tuy nhiên, nông sản lại là một mặt hàng có đặc thù riêng. Do đó, việc
đạt đƣợc các thoả thuận để tiến đến tự do hoá thƣơng mại nông sản là một quá
trình đầy khó khăn. 22
CHƢƠNG 2. MỘT SỐ NỘI DUNG CỦA CÁC CUỘC ĐÀM PHÁN
VỀ TỰ DO HOÁ THƢƠNG MẠI NÔNG SẢN
Vòng đàm phán URUGUAY là lần đầu tiên đàm phán về tự do hoá
thƣơng mại nông sản đƣợc đƣa vào nội dung đàm phán chính thức, với tƣ
cách là một nội dung của tự do hoá thƣơng mại. Tuy nhiên, kể từ đó cho đến
nay, tiến trình tự do hoá thƣơng mại nông sản vẫn chƣa có đƣợc những bƣớc
tiến đáng kể. Đến vòng đàm phán Đô-ha, tự do hoá thƣơng mại nông sản trở
thành một trong những nội dung chính của chƣơng trình đàm phán.
Mục tiêu của vòng đàm phán Đô-ha nói riêng, cũng nhƣ mục tiêu của
WTO nói chung là nhằm thiết lập một thị trƣờng nông sản công bằng theo
hƣớng thị trƣờng tự do. Tức là hoạt động thƣơng mại nông sản chủ yếu tiến
hành trên cơ sở của quan hệ cung và cầu. Các chính sách hỗ trợ gây bóp méo
thƣơng mại hay nhằm mục đích bảo hộ ở các khu vực và các quốc gia sẽ tiến
dần đến việc xoá bỏ hoàn toàn. Trong chƣơng này của Luận văn, tác giả sẽ
giới thiệu một số nội dung cơ bản cả quá trình đàm phán về tự do hoá thị
trƣờng nông sản. Các nội dung này lần đầu tiên đƣợc đề cập đến một cách đầy