Luận án tiến sĩ Khoa học giáo dục: Quản lý hoạt động học tập của học viên ở các trường sĩ quan quân đội theo hướng phát triển năng lực - Pdf 58

5
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ và 
sự  xuất hiện của nền kinh tế tri thức  cùng với quá trình toàn cầu hóa, hội 
nhập quốc tế đang diễn ra sâu rộng và cạnh tranh quyết liệt giữa các quốc  
gia trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Thực chất, cạnh tranh giữa các  
quốc gia hiện nay là cạnh tranh về chất lượng nguồn nhân lực va v
̀ ề  khoa 
học và công nghệ. Chính vì vậy, đổi mới giáo dục đang là một xu thế  tất 
yếu mang tính toàn cầu. Nước nào không đổi mới, hoặc cải cách giáo dục 
không thành công thì nước đó mất khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế 
và sẽ bị tụt hậu. Nhiều quốc gia đã và đang tiến hành cải cách để hướng tới  
một nền giáo dục hiện đại. Giáo dục Việt Nam cũng cần có sự  đổi mới 
mạnh mẽ để có thể tự tin hội nhập.
Có thể  khái quát đổi mới giáo dục là đổi mới những vấn đề  cốt lõi 
như  đổi mới tư  duy giáo dục; đổi mới quản lý giáo dục và phát triển đội  
ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục; làm lành mạnh hóa môi trường giáo 
dục; đổi mới nội dung và phương thức, cơ  chế  phát triển giáo dục và đặc 
biệt là tổ chức chỉ đạo thực hiện quá trình đổi mới giáo dục.  Trong đó, đổi 
mới quản lý giáo dục và đào tạo, kiểm tra, thi và đánh giá kết quả  là khâu 
đột phá.
Để thực hiện đổi mới giáo dục, trước tiên cần thay đổi triết lý giáo 
dục, Nghị  quyết Hội nghị  lần thứ  Tám, Ban Chấp hành Trung  ương khóa 
XI đã xác định mục tiêu đào tạo để  chuyển giáo dục từ  “chủ  yếu trang bị 
kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học ” [32, 
tr.6],  đặc biệt là dạy làm “người” để  người học có khả  năng thích  ứng  
nhanh với hoàn cảnh, có trách nhiệm cao với gia đình, xã hội và Tổ  quốc 
chính là chuyển từ giáo dục định hướng nội dung sang giáo dục định hướng 
năng lực (tiếp cận năng lực).

Hệ  thống các nhà trường trong Quân đội nhân dân Việt Nam đã và 
đang thực hiện Nghị  quyết số  86 của Đảng  ủy quân sự  Trung  ương “Về 


7
công tác giáo dục ­ đào tạo trong tình hình mới” [34], trong bối cảnh khoa 
học kỹ  thuật quân sự  phát triển nhanh chóng, với một khối lượng lớn tri  
thức rất lớn cần phải trang bị  cho học viên, trong khi thời gian đào tạo  
không thay đổi, vấn đề  đặt ra là phải làm như  thế  nào? và bằng cách nào 
để tối ưu hoá mục tiêu đào tạo, muốn tối ưu hoá mục tiêu đào tạo, xét đến  
cùng phải tối ưu hoá hoạt động dạy học. Muốn tối  ưu hoá hoạt động dạy 
học, phải tối ưu hoá hoạt động quản lý. Tuy nhiên, xung quanh vấn đề này 
còn những mâu thuẫn chủ  yếu cần được nghiên cứu làm sáng tỏ  cả  trên 
phương diện lý luận và thực tiễn.
Về lý luận, đã có một số công trình, đề tài nghiên cứu về tự học; về 
phương pháp học tập chủ động; về  quản lý giáo dục và đào tạo  trong các 
nhà trường quân đội đáp ứng yêu cầu mới; về dạy học và đổi mới phương 
pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực cho người học; về  đổi mới 
chương trình đào tạo  ở  các học viện, trường sĩ quan quân đội theo hướng 
phát triển năng lực của học viên… Có thể nói, những công trình nghiên cứu 
trên đã đề cập đến vấn đề  quản lý dạy học trong các nhà trường quân đội 
góp phần chỉ đạo, định hướng khả thi trong thực tiễn. Song, chưa có những 
nghiên cứu về  mô hình quản lý dạy học vừa đáp  ứng mục tiêu phát triển 
năng lực người học vừa đảm bảo kết quả đào tạo theo chuẩn đầu ra… Từ 
đó, đặt ra yêu cầu khách quan cho việc nghiên cứu lý luận  của đề  tài này 
một cách khoa học, khả thi.
Về thực tiễn, quản lý dạy học là vấn đề đặc biệt quan trọng trong xu 
hướng chuyển sang đào tạo theo tiếp cận năng lực, để hoạt động dạy học 
trở  thành công cụ  thực sự hữu ích thúc đẩy việc hình thành và phát triển 
năng lực của học viên hiện nay đã và đang vướng mắc nhiều khó khăn về 

nhập quốc tế. 
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng khung lý luận về quản lý hoạt động học tập của  học viên 
ở các trường sĩ quan quân đội theo hướng phát triển năng lực;
Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động học tập và quản lý hoạt  
động học tập ở các trường sĩ quan quân đội theo hướng phát triển năng lực;


9
Đề  xuất những biện pháp cơ  bản trong quản lý hoạt động học tập  
của học viên ở các trường sĩ quan quân đội theo hướng phát triển năng lực;
Kiểm chứng kết quả  nghiên cứu của đề  tài luận án thông qua khảo 
sát tính cần thiết, tính khả  thi của các biện pháp và thử  nghiệm một biện  
pháp. 
3. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và giả  thuyết khoa 
học
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình quản lý hoạt động dạy học  ở các trường sĩ quan quân đội 
theo hướng phát triển năng lực.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình quản lý hoạt động học tập của  học viên  ở  các  trường sĩ 
quan quân đội theo hướng phát triển năng lực.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung của đề  tài tập trung nghiên cứu những vấn đề  lý 
luận, thực tiễn về quản lý hoạt động học tập của học viên đào tạo sĩ quan 
cấp phân đội trình độ đại học  ở các trường sĩ quan quân đội; trên cơ sở đó 
đề xuất những biện pháp cho các chủ  thể  quản lý hoạt động học tập của 
học viên theo hướng phát triển năng lực với cách tiếp cận chức năng quản  
lý.
Phạm vi khảo sát của đề tài là 5 trường sĩ quan quân đội phía Bắc là: 

hoạt động học tập theo năng lực đầu ra của học viên ở các trường sĩ quan 
quân đội để giải quyết các nhiệm vụ khoa học của đề tài luận án.     
4.2. Phương pháp nghiên cứu 
4.2.1. Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam, 
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ  nghĩa Việt Nam; Quân đội nhân dân Việt 
Nam; các công trình nghiên cứu khoa học, báo khoa học có liên quan đến đề 
tài được công bố và đăng tải trên các tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học. 


11
Phân tích, tổng hợp các tài liệu, các công trình nghiên cứu về công tác 
quản lý nhà trường, hoạt động dạy và học trong trường đại học…. Từ đó, 
xây dựng cơ  sở  lý luận về  quản lý hoạt động học tập của học viên  ở 
trường sĩ quan quân đội theo hướng phát triển năng lực.
4.2.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 
Tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục thông qua các văn bản pháp 
lý; các báo cáo tổng kết giáo dục và đào tạo của các trường sĩ quan quân  
đội nhằm rút ra những kinh nghiệm quản lý  hoạt động học tập của  học 
viên.
Phương pháp  quan sát,  hoạt động lãnh đạo, chỉ  huy; hoạt động dạy 
học; tổ chức, chỉ đạo của cán bộ quản lý, giảng viên và tự quản lý hoạt động 
học tập của học viên; quan sát hoạt động dạy học đối với các lớp bồi dưỡng  
phương pháp dạy học, các lớp tập huấn để rút ra những kết luận về nội dung 
nghiên cứu.
Tiến hành phân tích, đáng giá thực trạng của hệ thống đào tạo  ở các 
trường sĩ quan quân đội, thực trạng của việc học tập của học viên bao gồm 
cả giờ lên lớp và ngoài giờ lên lớp ở các trường sĩ quan quân đội.
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi với 830 cán bộ quản lý, giảng 
viên và học viên  ở  5 trường sĩ quan quân đội (Lục quân I; Chính trị; Pháo 

Phương pháp xử lý số  liệu, khảo sát thu thập từ phiếu điều tra thực 
trạng, từ  thử  nghiệm được xử  lý bằng chương trình phần mềm Microsof 
Xcel. 
5. Những đóng góp mới của luận án
Quản lý hoạt động học tập của học viên  ở  các  trường sĩ quan quân 
đội theo hướng phát triển năng lực là đề tài với nội dung nghiên cứu có tính 
cấp thiết trong xu thế đổi mới căn bản giáo dục, đúng mã số  chuyên ngành 
đào tạo.


13
Tên luận án và các nội dung nghiên cứu, các số liệu khảo sát, điều tra,  
kết luận và năm biện pháp đề xuất không trùng lặp với các công trình, đề tài  
khoa học đã nghiên cứu trước đó. 
Phân tích làm rõ thực trạng hoạt động học tập và quản lý hoạt động 
học tập của học viên  ở  các  trường sĩ quan  quân đội theo hướng phát triển 
năng lực, chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu và các nguyên nhân của thực 
trạng.
Đề xuất năm biện pháp quản lý hoạt động học tập theo năng lực đầu 
ra của học viên ở các trường sĩ quan quân đội khoa học, khả thi giúp các chủ 
thể vận dụng có hiệu quả vào nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
6.1. Về mặt lý luận 
Luận án đã phân tích được sự  cần thiết, tính phù hợp của việc áp 
dụng quy trình đào tạo mới theo năng lực đầu ra của học viên ở các trường 
sĩ quan quân đội  trong bối cảnh hiện nay; khẳng định vị  trí, vai trò của  
quản lý hoạt động học tập theo năng lực đầu ra của học viên ở các trường 
sĩ quan quân đội.
Luận án xây dựng bổ  sung và làm phong phú cơ  sở  lý luận về  giáo 
dục theo hướng hiện đại nói chung và quản lý hoạt động học tập của học 

322 tr.CN), với luận điểm giáo dục phải xuất phát từ đặc điểm tự nhiên và  
nhu cầu của con người [98]. Ở phương Đông có Khổng Tử (551 ­ 479 tr.CN) 
­ người đầu tiên trong lịch sử nêu quan điểm “giáo học tương trưởng”, ông 
đòi hỏi người dạy phải có cách dạy cho phù hợp để người học chiếm lĩnh tri 
thức và giá trị  đạo đức: “Dụ  ­ Đạo ­ Trợ  ­ Khải ­ Phát”. Ông nhấn mạnh: 
“Học mà chẳng chịu suy nghĩ thì  chẳng  được thông minh. Suy nghĩ  mà 


15
chẳng chịu học thì lòng dạ chẳng yên ổn” đã phản ánh tư tưởng về phương 
pháp cách thức học tập cẩn trọng, tích cực, kiên trì và tư duy linh hoạt để đi 
đến miêu tả chân lý và đòi hỏi người học phải: “Bác học ­ Thẩm vấn ­ Thận  
tư  ­ Minh biện ­ Đốc hành”, người học phải có suy luận những kiến thức  
mới từ kiến thức người dạy đã trang bị: “Vật có bốn góc, bảo cho biết một  
góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa” [65].  Ngoài ra, còn có 
Mặc Tử  (475 ­ 390 tr.CN), với quan niệm học tập phải xuất phát từ  thực 
tiễn, từ đặc điểm người học, theo sức lực và khả  năng của người học [41] 
và Hàn Phi Tử (280 ­ 233 TCN), với lý thuyết cai trị phải chú ý tới ba yếu tố 
“Pháp ­ Thế ­ Thuật” [41] trong quản lý xã hội và tổ chức học tập trong giáo 
dục tất yếu là hoạt động cần được quản lý. 
Các nghiên cứu trên cách ngày nay gần ba mươi thế  kỷ  nhưng  nhìn 
chung vẫn có giá trị  lý luận và thực tiễn to lớn, vẫn là những bài học quý 
giá cho quản lý hoạt động học tập của người học  ở  các nhà trường hiện  
nay. 
Thời kỳ chủ nghĩa tư  bản hình thành và phát triển , xuất hiện nhiều 
tư  tưởng giáo dục tiến bộ, được nâng lên tầm cao mới, khái quát thành lý 
luận với các đại biểu như: John Locke (1632 ­ 1704), J.J.Rut­xô (1712 ­ 
1778), Pét­xta­lô­di (1746 ­ 1827) [41]. Song, do hạn chế  bởi “cảm giác 
luận” và triết học duy lý, nên những tư tưởng đó còn phiến diện, giản đơn; 
còn tuyệt đối hoá sự  phát triển tự  nhiên, dẫn tới hạ  thấp, coi nhẹ  yêu cầu 

góp rất  to  lớn  của các  nhà  sư   phạm  lỗi  lạc N.A.Danilốp;  M.N.Xcatkin;  
B.P.Êxipốp; N. K.Krúp­xcaia, B­lôn­xki  [27]; A.S.Ma­ka­ren­kô, Lu­na­trat­
xki [76]; Ia.Lecne [67]; đặc biệt N.A.Rubakin (1862 ­ 1946) nhà bác học, nhà 
sư phạm người Nga trong tác phẩm “Tự học như thế nào”, đã chỉ ra phương  
pháp tự  học để  nâng cao kiến thức, mở  rộng tầm nhìn đã góp phần phát  
triển lý luận học tập để  trang bị  cho người học kiến thức để  họ  tham gia 
vào lĩnh vực lao động sản xuất và cuộc chiến tranh vệ  quốc một cách có  
hiệu quả [92].


17
Có thể  khẳng định rằng, các nghiên cứu trên của các nhà giáo dục 
học Liên Xô (cũ) có đóng góp hết sức quan trọng tới việc tổ chức dạy ­ học  
gắn chặt với những hoạt động khác của mọi lĩnh vực xã hội. 
Ngoài ra, hoạt động học tập của học sinh, sinh viên cũng đã được các 
nhà tâm lý học trên thế  giới như: Pavlov, Watson, Thorndike, Skiner, J.  
Piaget,   Ghestalt,   Benjamin   Bloom,   X.   L.   Vưgốtxki,   A.N.   Léonchiev… 
nghiên cứu và đưa ra những khái niệm và cơ chế của hoạt động học tập. 
Giáo dục ở thế kỷ XXI đã có những thay đổi lớn nhằm hướng tới mục  
tiêu đào tạo những con người có năng lực tự quyết định; trong tương lai gần, 
mỗi người học sẽ  phải có đủ  các phẩm chất: tự  học (self learning), tự  tổ 
chức   (self   organizing),   tự   quyết   định   (self   defining)   và   tự   phát   triển   (self 
developing); tiêu biểu như các nghiên cứu của: Alvin Toffer (1992) với “Làn 
sóng thứ ba” [105]; Jean – Marc Denommé, Madeleine Roy (2000) với “Tiến 
tới một phương pháp sư phạm tương tác” [77]; R.Colin và Malcolm J. Nicholl 
(2008) với “Kỹ  năng học tập siêu tốc thế  kỷ  XXI” [ 26]; đặc biệt Jeannette 
Vos và Cordon Dryden (2004) với “Cách mạng học tập những yếu tố  và 
phương pháp để  học tập tốt” đề  ra công thức MASTER (M: Mind set for  
success,   A:   Acquire   knowledge,   S:   Search   out   the   meaning,   T:   Trigger   the 
memory, E: Exhibit, R: Reflect how to learn) để  hướng dẫn người học phát 

nhân loại” [80, tr.684].
Sinh thời, Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho rằng trong nhà trường, 
điều chủ  yếu không phải là nhồi nhét cho học trò một mớ  kiến thức hỗn 
độn, mà phải giáo dục cho học trò các rồi đến phương pháp nghiên cứu,  
phương pháp học tập, phương pháp giải quyết vấn đề [35, tr.25].
Bước vào thời kỳ đổi mới, các công trình nghiên cứu phát triển giáo  
dục và đào tạo theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá đã được cụ  thể  thành  
phương châm, Chiến lược giáo dục và đào tạo với các tác giả  tiêu biểu: 
Nguyễn Như  An (1996), với “Phương pháp dạy học Giáo dục học” [1];  
Phạm  Trung Thanh (1999), với nghiên cứu về  “Phương pháp học tập – 


19
nghiên cứu của sinh viên cao đẳng, đại học” [9 7]; Đặng Thành Hưng (2002), 
với “Dạy học hiện đại lý luận – biện pháp – kỹ  thuật” [52]; Phạm Minh 
Hạc (2002) với công trình nghiên cứu về vấn đề  “Giáo dục thế giới đi vào 
thế kỷ XXI” [38], đã đề cập khá toàn diện tới vị trí vai trò, của người học;  
đồng thời chỉ ra những hạn chế về phương pháp học tập – nghiên cứu của 
sinh viên cao đẳng, đại học.
Các tác giả, Nguyễn Kỳ (2005) bàn về “Phương pháp giáo dục tích cực 
lấy người học làm trung tâm” [63]; tác giả  Phạm Viết Vượng (2007), trong 
cuốn sách “Giáo dục học” [136]; Thái Duy Tuyên (2008), với “Phương pháp 
dạy học truyền thống và đổi mới” [122]; đặc biệt công trình của các tác giả 
Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo (2004) đã bàn 
về học tập trong cuốn sách “Học và dạy cách học”, đã bàn về mối quan hệ 
giữa dạy và học, cho rằng mục đích của dạy là làm cho người học học đúng 
cách, làm cho người học biết cách học và cách đó là khả thi; có nghĩa là “làm  
cho học sinh, sinh viên hiểu được các nhà khoa học đó” [105, tr.61], nghiên 
cứu này đã làm thay đổi và chỉ ra cách hiểu của người học, sao cho học sinh, 
sinh viên bắt đầu quan niệm về hiện tượng và ý tưởng theo cách của các nhà  

trường quân đội” [112]; Nguyễn Đình Minh (2013), bàn về  “Đổi mới căn 
bản, toàn diện  giáo dục  và đào tạo  trong nhà trường quân đội hiện nay” 
[81], cùng với nghiên cứu của Mai Văn Hoá [46]; Nguyễn Văn Chung [24] 
đã đề ra những phương hướng cơ bản của việc tích cực hoá hoạt động học 
tập của học viên.
Bàn về  vận dụng phương pháp và hình thức trong học tập, các t ác 
giả   Đặng  Đức  Thắng  [99];  Trần  Đình Tuấn [120];  Lê  Minh  Vụ  [135]; 
Nguyễn   Đình   Minh,  Nguyễn   Văn   Chung   [82]   và  Bùi   Hồng   Thái  [95]. 
Khẳng định, những vấn đề  thực tiễn đối với hoạt động học tập và việc 
vận dụng phương pháp dạy học trong nhà trường quân sự với tổ chức hoạt 
động học tập chủ động được xem như là biện pháp đột phá trong đổi mới 
phương pháp dạy học.  


21
Điểm qua các công trình nghiên cứu về  hoạt động học tập của sinh  
viên, học viên  ở  các nhà trường trong và ngoài quân đội cho thấy, vấn đề 
học tập đã được các tác giả quan tâm nghiên cứu và đưa ra những cơ sở lý  
luận vững chắc. Tuy nhiên, những công trình này mới chỉ đi sâu nghiên cứu 
về  học tập, tự  học và đưa ra những cách thức, phương pháp giúp người  
học đạt được hiệu quả cao khi tiến hành hoạt động học tập. 
1.2. Những công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động học tập  
theo quan điểm giáo dục hiện đại
1.2.1. Quản lý hoạt động học tập nói chung
Trong lịch sử  giáo dục thế  giới có rất ít công trình trực tiếp đề  cập 
đến quản lý hoạt động học tập, nhưng thông qua tác phẩm kinh điển của 
C.Mác (1818 ­ 1883) và Ph.Ăng ghen (1820 ­ 1894), khi bàn về  quản lý và 
điều khiển hoạt động học thể  chất và quân sự  các ông cho rằng phải phù 
hợp với đặc điểm, tâm lý, sinh lý, lứa tuổi, tăng cường tổ chức lao động sản  
xuất hợp lý  [78]. Vì vậy, tổ  chức học tập trong giáo dục tất yếu là hoạt 

có; Phản hồi tích cực từ  học sinh; Sự  hỗ  trợ  từ  các bên liên quan và thị 
trường lao động. 
Ngoài ra, các mô hình  quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality 
Management­ TQM) phát triển từ  các mô hình kiểm soát và đảm bảo chất 
lượng; Mô hình  quản lý chất lượng tổng thể  (TQM), với các tác giả  như 
W.E.Deming; J.M Juran; K.Ishikawa; A.V Feigenbaum và P.B Crosby. Hiện 
nay TQM đã được áp dụng trên nhiều lĩnh vực trong đó có giáo dục.
Nhìn chung, các mô hình đảm bảo chất lượng nêu trên đều “hướng 
vào con người”. Trong đó, mô hình các yếu tố tổ  chức thì đưa ra 5 yếu tố 
quản lý;  mô hình ISO coi trọng làm tốt ngay từ  đầu và quản   lý  theo quá 
trình nhưng chưa cụ thể với quản lý dạy học; đáng chú ý là mô hình CIPO 
nói đến 10 yếu tố  quản lý và điều kiện tác động đến yếu tố  quản lý phù 
hợp với nhà trường nhưng chưa tính đến điều kiện bối cảnh trong quản lý 
giáo dục.


23
Đề  cao vai trò cố  vấn của người thầy trong việc giúp học sinh học  
tập Raja Roy Singh (1994), với công trình “Nền giáo dục cho thế  kỷ XXI,  
những triển vọng của châu Á – Thái Bình Dương” [94], đã nhấn mạnh quan 
điểm “lấy người học làm trung tâm” và chỉ  rõ đặc điểm của một xã hội 
phát triển là một xã hội dựa vào “tri thức” vào “kiến thức là sức mạnh”, 
giáo dục là trung tâm của xã hội  ấy; nghiên cứu này đòi hỏi người thầy 
phải tổ  chức việc học và tăng cường quản lý quản lý hoạt động học tập 
của người học.
Vấn đề  “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như  thế  nào” 
[57] của I.F Kharlamốp (1998) và Paul Hersey và Ken Blanc Hard (2005) cho 
rằng: “Quản lý như một quá trình làm việc cùng nhau và thông qua cá nhân, 
các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hình thành các mục đích tổ chức” 
[40, tr.68] trong đó có quản lý hoạt động học tập của người học. 

luận và chỉ  đạo giúp vào Người nhấn mạnh, tổ  chức hoạt động học tập  
phải gắn liền với thể chế xã hội, nền nếp dạy học, trình độ người dạy để 
phát triển năng lực người học [107].  
Bước vào thời kỳ đổi mới đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu  
của tác giả như: Đặng Bá Lãm (2005) “Quản lý Nhà nước về giáo dục, lý  
luận và thực tiễn” [64];  Phan Văn Kha (2014) về  “Đổi mới quản lý giáo 
dục Việt Nam – một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [55]; Trần Khánh Đức 
(2010), với “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI”  [36] 
và  Đặng Quốc Bảo, Vũ Quốc Chung (2013) “Một số  vấn đề  lý luận và 
thực tiễn về  lãnh đạo quản lý giáo dục trong thời kỳ  đổi mới” [5]; Đặng 
Quốc Bảo – Bùi Việt Phú (2013) với “Một số  góc nhìn về  phát triển và 
quản lý giáo dục” [6].
Bàn   về   quản   lý   nhà   trường   các   tác   giả  Nguyễn   Hữu   Châu  [19]; 
Nguyễn Phúc Châu  [20] đã chỉ  ra các nội dung quản lý rất cụ  thể, nhấn  
mạnh và chỉ  rõ về  hoạt động quản lý, tác giả  Nguyễn Thị  Mỹ  Lộc quan 
niệm “hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ  đích của chủ 


25
thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong 
một tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” 
[73, tr.1].
Bàn về “Những vấn đề cơ bản của Khoa học quản lý giáo dục” [58]  
và “Quản lý và lãnh đạo nhà trường hiệu quả” [60], tác giả  Trần Kiểm  
(2016) cho rằng: “Sự  thành bại của nhà trường phụ  thuộc một phần rất  
quan trọng (nếu không nói là quyết định) vào hoạt động quản lý và lãnh 
đạo của người Hiệu trưởng” [60, tr.5]. Vì vậy, tác giả  đi sâu phân tích về 
nhà trường hiệu quả, về  quản lý và lãnh đạo nhà trường, về  phẩm chất 
của hiệu trưởng với cách tiếp cận năng lực được trình bày và phân tích 
xuyên suốt các nội dung.

chất lượng dạy học thông qua tổ, nhóm chuyên môn trong nhà trường; 
Kiểm tra, đánh giá chất lượng dạy học của giáo viên; Hoạt động cải tiến 
chất lượng. Quản lý chất lượng quá trình dạy học trên lớp của giáo viên. 
Quản lý chất lượng quá trình học tập của học sinh [50].
Như vậy, các tác giả trên đã xuất phát từ  các tiếp cận khác nhau khi 
nghiên cứu về quản lý dạy học. Tuy nhiên, các tác giả chưa cụ thể hóa mô 
hình, quy trình quản lý các yếu tố hoạt động dạy học một cách khoa học,  
thích hợp và hiệu quả hơn để áp dụng vào thực tế; chưa đi sâu phân tích và 
làm rõ các yếu tố  dạy học nào cần được quản lý trong quá trình dạy học  
nhất là khi vận dụng vào nghiên cứu quản lý dạy học theo hướng hướng  
hiện đại.
Trong quân đội, vấn đề  quản lý hoạt động học tập của người học 
được đề  cập  ở  những góc độ, khía cạnh khác nhau có thể  kể  đến các tác  
giả Ngô Quý Ty và Lê Văn Chung [126]; Vũ Quang Lộc [72], đã chỉ ra quản 
lý giáo dục và đào tạo trong các học viện, trường sĩ quan quân đội là hoạt 
động tự giác mang tính chủ động tích cực của lãnh đạo, chỉ huy của các học  


27
viện, trường sĩ quan nhằm hình thành nhân cách người học ­ cả phẩm chất 
chính trị, đạo đức và năng lực chuyên môn nghề  nghiệp, sao cho các phẩm 
chất đó càng đáp ứng sát, càng trùng khớp với mục tiêu giáo dục và đào tạo 
đã xác định, thì quá trình quản lý càng được đánh giá cao về chất lượng đạt 
được. 
Vấn đề  quản lý giáo dục trong nhà trường quân đội, được tác giả 
Đặng Đức Thắng (Chủ biên), cùng các cộng sự (2008) bàn đến trong cuốn  
sách “Quản lý giáo dục đại học quân sự” [100], với các nội dung rất cụ 
thể, khái quát vị  trí, vai trò, bản chất, chức năng, phương pháp và những 
vấn đề quản lý học viên theo cách tiếp cận quản lý toàn diện về  bề  rộng  
và về chiều sâu như số lượng, chất lượng để tích cực hoá hoạt động nhận 

với chủ đề “Chương trình châu Á – Thái Bình Dương về canh tân giáo dục  
vì sự phát triển” [129], tại hội thảo các nhà khoa học đã xác định tầm quan  
trọng và khẳng định phải hình thành những năng lực cần thiết cho người  
học, nêu ra những bất cập làm cản trở  sự  phát triển năng lực người học 
trong tổ chức quá trình dạy – học và quản lý học tập. 
  Cụ  thể  hơn, Whetten và Cameron (1995) cho rằng phát triển các 
chương trình giáo dục và đào tạo dựa trên mô hình năng lực cần xử lý một  
cách có hệ  thống ba khía cạnh sau: Xác định các năng lực; Phát triển các 
năng lực; Đánh giá các năng lực một cách khách quan [148]; Jones, Moore 
(1995) xem tiếp cận năng lực là cách thức có  ảnh hưởng mạnh mẽ  nhất,  
được  ủng hộ  mạnh mẽ  nhất [139]; Harris (1995), cho rằng để  cân bằng  
giáo   dục   và   đào   tạo   và   những   đòi   hỏi   tại   nơi   làm   việc   [138];   Xavier 
Roegiers (1996), bàn về phát triển các năng lực ở nhà trường  [91], McLagan 
(1997) coi đây là “một câu trả lời mạnh mẽ đối với các vấn đề  mà các tổ 
chức và cá nhân đang phải đối mặt trong thế  kỷ  XXI [141] hay “Đánh giá 
dựa trên năng lực” [18] của Ron Cammaert (2015). Từ các nghiên cứu trên 
có thể  thấy, các nhà khoa học đã đề  cập đến vấn đề  quản lý hoạt động 
học tập dựa trên mô hình năng lực. 


29
Vậy đặc trưng và  ưu thế  của tiếp cận năng lực là gì? Bản chất và 
mô hình năng lực ra sao? Sự cần thiết phải quản lý hoạt động học tập của 
người học theo tiếp cận năng lực phải tiến hành như  thế  nào là vấn đề 
quan tâm nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học giáo dục và quản lý giáo  
dục.
Bàn về  đặc trưng và  ưu thế  khi tổng kết các lý thuyết về  các tiếp  
cận dựa trên năng lực trong giáo dục và đào tạo và phát triển, K.E. Paprock  
(1996) đã chỉ ra năm đặc tính cơ  bản của tiếp cận này: Tiếp cận năng lực 
dựa trên triết lý người dựa trên năng lực trong dạy học và phát triển; Tiếp 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status