Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kỹ thuật: Nghiên cứu chế độ thoát khí mê tan khi khai thác xuống sâu trong mỏ than hầm lò vùng Quảng Ninh - Pdf 58

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
-----------------------------------

NGUYỄN VĂN THỊNH

NGHIÊN CỨU CHẾ ĐỘ THOÁT KHÍ METAN KHI KHAI THÁC
XUỐNG SÂU TRONG MỎ THAN HẦM LÒ
VÙNG QUẢNG NINH

Ngành: Khai thác mỏ
Mã số: 9520603

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ KỸ THUẬT

HÀ NỘI - 2019


Công trình hoàn thành tại: Bộ môn khai thác hầm lò
Khoa Mỏ, Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Đặng Vũ Chí, Trường Đại học Mỏ - Địa chất
2. TS. Lê Văn Thao, Hội khoa học công nghệ mỏ Việt Nam

Phản biện 1: GS.TSKH Lê Như Hùng, Hội khoa học công nghệ mỏ Việt Nam;
Phản biện 2: TS Nguyễn Anh Tuấn, Tập đoàn CN than – khoáng sản Việt Nam;
Phản biện 3: TS Đào Hồng Quảng, Viện khoa học công nghệ mỏ- Vinacomin.

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Trường tại
Trường Đại học Mỏ - Địa chất, P. Đức Thắng, Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội

Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về độ chứa khí và thoát khí metan
đã được thực hiện từ nhiều năm nay nhưng chủ yếu tập trung và các mỏ có độ
thoát khí cao, chưa mang tính chất tổng thể và chưa đưa ra dự báo khi khai thác
xuống sâu cho mỗi vùng khoáng sàng hay từng mỏ than hầm lò để có biện
pháp ngăn ngừa tích tụ khí quá giới hạn cho phép hữu hiệu.
Để đánh giá được mức độ nguy hiểm của khí mê tan đối với mỗi mỏ than
hoặc mỗi khu vực khai thác, cần phải xác định được chế độ thoát khí mê tan của
mỏ hoặc khu vực khai thác đó. Trong đó vấn đề đặc biệt quan trọng là nghiên
cứu xác định độ chứa khí mê tan trong các vỉa than và độ thoát khí me tan ra
các đường lò mỏ một cách định lượng để áp dựng phương pháp khai thác và sử
dụng phương tiện phòng chống cháy nổ khí mê tan phù hợp vừ bảo đảm an toàn
vừa nâng cao hiệu quả kinh tế.
Vì vậy “Nghiên cứu chế độ thoát khí mê tan khi khai thác xuống sâu trong
mỏ than hầm lò vùng Quảng Ninh” mang tính cấp thiết.
2. Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu chế độ thoát khí mê tan tại các mỏ than hầm lò vùng Quảng
Ninh khi khai thác xuống sâu.
- Đề xuất các giải pháp phòng ngừa cháy nổ khí metan phù hợp khi tiến
hành khai thác tại các mỏ than hầm lò vùng Quảng Ninh.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu


4

Đối tượng nghiên cứu: Độ thoát khí và độ chứa khí mê tan trong các vỉa
than ảnh hưởng đến quá trình khai thác xuống sâu tại các mỏ than hầm lò vùng
Quảng Ninh.
Phạm vi nghiên cứu: của đề tài là các mỏ than hầm lò vùng Quảng Ninh
4. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan về nghiên cứu chế độ thoát khí mê tan trong các

với kết quả đo đạc thực tế bằng kết quả dự báo nhân thêm với hệ số k
=0,8651và cộng với 0,00246
8. Luận điểm khoa học
- Càng khai thác xuống sâu thì độ chứa khí và độ thoát khí mê tan càng tăng;


5

- Cùng một điều kiện địa chất, độ thoát khí mê tan phụ thuộc vào chiều
dày vỉa than và sản lượng khai thác;
- Đối với hệ thống khai khai thác chia lớp, độ thoát khí mê tan ở lò chợ
lớp vách lớn hơn ở lò chợ lớp trụ.
9. Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 4 chương, các phần Mở đầu và Kết luận kiến nghị, trang,
bao gồm hình vẽ và bảng biểu.
10. Lời cảm ơn
Luận án được hoàn thành tại trường Đại học Mỏ- Địa chất dưới sự hướng
dẫn khoa học của PGS.TS Đặng Vũ Chí- Trường Đại học Mỏ- Địa chất và TS
Lê Văn Thao- Hội Khoa học và công nghệ mỏ Việt Nam.
Tác giả luận án xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu,
Phòng Đào tạo Sau đại học, Khoa Mỏ, Bộ môn Khai thác hầm lò trường Đại
học Mỏ- Địa chất, đặc biệt là hai cán bộ hướng dẫn khoa học PGS.TS Đặng Vũ
Chí và TS. Lê Văn Thao đã tận tình giúp đỡ Nghiên cứu sinh trong suốt quá
trình nghiên cứu.
Tác giả luận án cũng xin gửi lời cảm ơn tới các nhà khoa học, các bạn bè
đồng nghiệp, Hội khoa học công nghệ mỏ Việt Nam, xin gửi lời cảm ơn tới lãnh
đạo, cán bộ các đơn vị: Tập đoàn công nghiệp than- khoáng sản Việt Nam, Các
công ty khai thác, hỗ trợ khai thác các mỏ than hầm lò vùng Quảng Ninh, đặc
biệt là Trung tâm An toàn mỏ, Viện KHCN mỏ-Vinacomin, Trung tâm cấp cứu
mỏ- Vinacomin,... đã hỗ trợ số liệu, tài liệu thực tế và đóng góp ý kiến phục vụ

Wtn- Đô chứa khí tự nhiên của vỉa than (m3CH4/T)
Wlc- Đô chứa khí của vỉa lân cận (trên hoặc hoặc dưới) (m3CH4/T
than sạch)
mlc- Chiều dày của vỉa lân cận (trên hoặc hoặc dưới); (m).
mkt- Chiều dày vỉa khai thác.
nlc - Hê số thoát khí từ các vỉa lân cận (trên hoặc hoặc dưới), hê số này
phụ thuộc vào khoảng cách từ các vỉa lân cận đến vỉa đang khai thác.
b. Phương pháp thống kê của Liên Xô
Cơ sở của phương pháp này là hê thống số liệu được thống kê lại trong
quá khứ về độ thoát khí của khu vực khai thác hay tầng khai thác và các yếu tố
khác như mức khai thác, chiều dài lò chợ. Độ chuẩn xác của phương pháp phụ
thuộc vào độ tin cậy của số liệu thống kê. Độ thoát khí mê tan của mức khai
thác mới được tính theo công thức:
Trong đó:Mp - Độ thoát khí mêtan của mức khai thác m3/Tngàyđêm
H – Độ sâu của mức khi thác mới (m)
H0- Độ sâu của vách đới chứa khí mê tan (m)
L- Bậc giàu khí biểu thị mức tăng chiều sâu để độ thoát khí tương đối
tăng lên 1 m3CH4/T-ng.đ; đơn vị (m/m3CH4/T)
Giá trị bậc giàu khí L được tổng kết từ các số liêu đã thống kê tại các mức
đã và đang khai thác. Giá trị L được xác định theo công thức sau:

Lp- Độ giầu khí
H1- Độ sâu khai thác của mức nông (m)
H2- Độ sâu khai thác của mức sâu hơn (m)
Mp1- Độ thoát khí ở mức nông hơn (m3CH4/T-ng.đ)
Mp2- Độ thoát khí ở mức sâu hơn (m3CH4/T-ng.đ)
Đối với các mỏ có thống kê nhiều số liêu H1? H2 và các giá trị Mp1 Mp2


7

giả đề cập như Trần Tú Ba, Lê Văn Thao
Hiện nay, ở Việt Nam đang sử dụng phương pháp của mỏ thực nghiêm
“Barbara” của Ba Lan để nghiên cứu áp dụng dự báo độ thoát khí vào lò chợ
phù hợp với điều kiên các mỏ than hầm lò Việt Nam vì:
Các yếu tố mỏ địa chất và công nghệ các mỏ hầm lò Balan và Việt Nam
không tương đồng. Đặc biệt nếu nói về điều kiên mỏ-địa chất thì than của Balan
là than năng lượng (Bitumineous), còn than Việt Nam là than an- tra- xít
(Anthracite). Các vỉa than của Balan nằm sâu khá lớn (hàng nghìn mét) và phần
lớn là vỉa thoải. Còn các vỉa than vùng Quảng Ninh đa số là vỉa dốc, nằm gần
mặt đất hơn (hiện nay mỏ than sâu nhất Việt Nam là mỏ than Khe Chàm II-IV
dự kiến đến mức -500 và sẽ cho sản lượng vào năm 2022). Chính vì lý do đó
cần tính toán và đối chứng với kết quả đo đạc thực tế để có thể đề xuất hệ số
điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện mỏ địa chất các mỏ hầm lò vùng Quảng
Ninh.
1.4. NHẬN XÉT CHƯƠNG 1


8

- Khí mê tan là loại khí nguy hiểm đối với các mỏ than khai thác bằng
phương pháp hầm lò bởi khí này xuất hiện thường xuyên ở trong các mỏ than
(đặc biệt là các mỏ than antraxit và than bán antraxit như ở vùng Quảng Ninh)
và khi xảy ra cháy nổ khí mê tan thường gây tổn thất lớn về người, tài sản và
ảnh hưởng đến hoạt động sản thoát của mỏ.
- Nhu cầu sử dụng than trên thế giới cũng như ở Việt Nam ngày càng
tăng. Đồng thời sản lượng than khai thác bằng phương pháp hầm lò ngày càng
chiếm tỷ lệ hơn so với khai thác bằng phương pháp lộ thiên. Chính vì vậy vấn
đề đảm bảo an toàn về cháy nổ khí mê tan trong các mỏ than hầm lò cần được
đặt lên hàng đầu
- Có 2 phương pháp chính nghiên cứu độ chứa và thoát khí mê tan là:


9

bình. Mỗi mỏ than đều có các trường hình học riêng trong từng khối kiến trúc
đồng nhất bậc cao và đều có đặc tính dị hướng hình học với hệ số dị hướng
khác nhau.
Trong phạm vi bể than, các trầm tích của hệ tầng Hòn Gai có diện tích
phân bố lớn nhất, tập trung thành 2 dải lớn gần vĩ tuyến chạy dọc giữa khu vực
vùng Bảo Đài và Phả Lại - Kế Bào.
Trầm tích chứa than bể than Quảng Ninh được các nhà địa chất thống nhất
xếp vào tuổi (T3n - r) và có tên là hệ tầng Hòn Gai. Thành phần vật chất gần
như đồng nhất và sự lặp lại đơn điệu của các lớp đá giống nhau trong mặt cắt,
rất khó khăn khi phân chia địa tầng và việc so sánh mặt cắt chỉ mang ý nghĩa
tương đối.
2.3. KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH ĐỘ CHỨA KHÍ MÊ TAN TRONG VỈA THAN
CỦA CÁC MỎ THAN HẦM LÒ VÙNG QUẢNG NINH
Bảng 1. Kết quả phân tích độ chứa khí metan trong các vỉa than của các mỏ
hầm lò vùng Quảng Ninh
Tên mỏ

Tên vỉa

Vỉa 1CB

Vỉa 5

Mỏ than Mạo
Khê

Vỉa 6

-150
-25
-50
-80

0.01787
0.311
0.32033
0.462
0.634
0.253
0.467
0.78
0.825
1.05
0.299
0.399
0.422
0.456
0.672
0.9582
0.366
0.938
1.01266
1.342
1.5785
0.367
0.52639
1.418


-80
-105
70
32
-25
-38
-80
-95
+10
+5
0
-10
-40
-46
-50
-65
-90
-150

1.83364
1.988
0.356
0.698
1.389
2.26722
3.59497
0.1479
0.4141
0.8571
1.423

-250
+12
-25

0.01034
0.072
0.15
0.2311
0.25193
0.2745
0.262
0.2961
0.37494
0.105
0.192


11

Vỉa 12

Vỉa 13.1a

Vỉa 13.1
Mỏ than Khe
Chàm

Vỉa 13.2

Vỉa 14.2

-164
-190
-37
-45
-75
-80
-91
-94
-110
-124
-140

0.208
0.217
0.239
0.272
0.35953
1.5
2.203
2.809
3.282
3.37104
3.916
2.263
3.53632
3.81109
3.976
4.8583
5.302
3.37501

+69
-28
-45
-90
-100
-124
-150
-168
+59
+35
+3
-50
-71
-100
-140

0.3064
0.38
0.8
1.055456
1.28536
1.21072
1.331
1.419
0.13684
1.0207
1.1666
1.19645
2.089
2.089

quy luật y = a.xb
- Trong bể than Quảng Ninh, các mỏ hầm lò cũng chia ra các khu vực
có độ chứa khí mê tan cao và khu vực có độ chứa khí mê tan thấp hơn. Khu vực
có độ chứa khí mê tan cao được biểu hiện ở các mỏ: Mạo Khê, Đồng Vông,
Quang Hanh, Dương Huy, Khe Chàm ( mỏ hạng III và siêu hạng). Các mỏ than
hầm lò còn lại của vùng Quảng Ninh đều có độ chứa khí mê tan trong các vỉa
than thấp (chủ yếu là các mỏ hạng I và II)
Chương 3
NGHIÊN CỨU CHẾ ĐỘ THOÁT KHÍ MÊ TAN KHI KHAI THÁC
XUỐNG SÂU TẠI CÁC MỎ HẦM LÒ VÙNG QUẢNG NINH
3.1. NGHIÊN CỨU ĐỘ THOÁT KHÍ MÊ TAN Ở CÁC MỎ THAN HẦM LÒ
VÙNG QUẢNG NINH
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến độ thoát khí mê tan từ trong vỉa than khi khai
thác, tuy nhiên trong khuôn khổ luận án chỉ xét ảnh hưởng của 2 yếu tố chính đó là:
Ảnh hưởng của độ chứa khí trong vỉa than đến độ thoát khí metan và ảnh hưởng của
sản lượng khai thác đến độ thoát khí metan.

.
Hình 4. Mối quan hệ giữa sản lượng và độ thoát khí mê tan tuyệt đối mỏ than
Mạo Khê


15

Hình 5. Mối quan hệ giữa sản lượng và độ thoát khí mê tan tuyệt đối mỏ than
Hà Lầm

Hình 6. Mối quan hệ giữa sản lượng và độ thoát khí mê tan tuyệt đối mỏ than
Khe Chàm 1


nhau đều tuân theo quy luật chung và phụ thuôc chủ yếu vào đô chứa khí mêtan
và sản lượng khai thác lò chợ :
- Đô thoát khí mêtan tương đối và đô thoát khí mêtan tuyệt đối tăng khi
đô chứa khí mêtan tăng.
- Khi sản lượng khai thác tăng lên thì đô thoát khí mêtan tuyệt đối tăng
theo nhưng ngược lại đô thoát khí mêtan tương đối lại giảm đi.
Từ các bảng kết quả tổng hợp bình quân trên cho thấy, lượng khí mê tan
của các mỏ đều có xu hướng năm sau tăng hơn năm trước. Mặt khác các mỏ
đều khai thác xuống sâu hơn và sản lượng khai thác không tăng nhiều, nên cho
nhận xét rằng khi khai thác xuống sâu thì lượng khí mê tan thoát ra từ các khu
vực khai thác cũng tăng lên.
Chương 4
ĐỀ THOÁT CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA CHÁY NỔ KHÍ MÊ TAN
CHO CÁC MỎ THAN HẦM LÒ VÙNG QUẢNG NINH
4.1. CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA MỐI NGUY HIỂM TỪ KHÍ MÊ TAN
4.1.1. Cảnh báo mối nguy hiểm về khí metan nhờ giải pháp khoan tiến
gương đối với các lò đào trong than


18

Hình 9. Sơ đổ bố trí lỗ khoan thăm dò
1. Nhóm lỗ khoan thẳng gương
2. Nhóm lỗ khoan biên
4.1.2. Áp dụng các thiết bị đo đạc khí mêtan cầm tay

Hình 10. Hình ảnh thiết bị đo, cảnh báo khí mê tan cầm tay
4.1.3.Áp dụng hệ thống quan trắc cục bộ tự động đối với những mỏ có độ
nguy hiểm cao về khí mêtan


* Phương án 3. Xả khí mêtan ra đường lò thông gió của trạm quạt.
Hiện nay mỏ than Khe Chàm 1 đang khai thác đến mức -250 đến mức 350, lượng khí mêtan thoát vào lò chợ không ổn định nên lưu lượng, hàm lượng
khí mêtan hút được sẽ không ổn định. Do đó nếu đầu tư hệ thống để hút và xử
lý khí mêtan để có thể sử dụng được sẽ rất tốn kém mà hiệu quả đem lại chưa
cao. Vậy đề tài này sẽ không xem xét đến phương án 1.
Phương án 2. Đưa khí mêtan lên mặt đất và xả ra bầu khí: Khí mêtan từ
dưới lò được dẫn theo hệ thống đường ống DN200 (đường A) đi qua bộ ngắt
lửa (1) (để tách biệt hệ thống ống dưới đất và trên mặt đất) đến đường ống có
lắp đặt các thiết bị cảm biến (2), tiếp theo hỗn hợp khí được đưa đến Injector
(3). Các Injector này được trang bị van thải (8) để khử nước. Khí sau khi qua
Injector (3) được làm loãng bằng quạt gió (4) trong khối trộn không khí (9)
trước khi thải vào khí quyển (B). Tiếng ồn do quạt gió và máy hút tạo ra được
khử bằng bộ phận giảm âm (5). Toàn bộ quá trình làm việc của trạm được vận
hành nhờ các thiết bị đặt trong container văn phòng (7), trong đó lắp đặt các
thiết bị động lực, điều khiển và hệ thống máy tính quản lý quá trình làm việc
của hệ thống.
Phương án 3. Xả khí mêtan ra đường lò thông gió của trạm quạt: Injector
(3) nhờ năng lượng khí nén tạo ra hạ áp âm hút khí mêtan từ các lỗ khoan lên
theo hệ thống đường ống DN200 (đường A) đi qua đoạn đường ống có lắp đặt
van điện từ (1) và các thiết bị cảm biến, đầu đo khí mêtan. Tiếp theo hỗn hợp
khí được đưa đến Injector (3). Khí sau khi qua Injector (3) được hòa loãng bằng
luồng gió thải trên đường lò thượng thông gió.


20
6

B
Container văn phòng
(phòng điều khiển)

3

3 x 400 AC đ-ờng điện
nguồn, 35kW

Đ-ờng ống khí nén

4

Injector

dP
%CH4
P

Bộ ngắt lửa

T

A
Cảm biến áp suất

Cảm biến nhiệt độ

Đ-ờng ống tháo khí mêtan
từ d-ới hầm lò lên

Đầu đo CH4 0-100%

Cảm biến đo hạ áp


Nút điều khiển van

d-ới hầm lò

3
FT
Injector

6

4
Đầu đo CH4, 0-5%

Van điện từ phòng nổ DN250

TE

PT
2
10

Đầu đo CH4
0-100%

PP
8

6


lp t ca h thng v chi phớ vn hnh h thng thi khớ mờ tan trờn mt bng,
phng ỏn ny nờn ỏp dng khi cú kh nng thu hi khớ mờtan s dng. Vỡ
vy la chn phng ỏn 3: x khớ mờtan ra ng lũ thụng giú ca trm qut l


21

hợp lý vì vẫn đảm bảo được hiệu quả và an toàn trong quá trình tháo khí mêtan,
chi phí đầu tư thấp.
Để kiểm tra lưu lượng gió đi qua xuyên vỉa -225 có thể hòa loãng lượng
khí mêtan do Injector xả ra đường lò xuống dưới 0,75% xem tính toán phần
dưới:
- Để đảm bảo an toàn đường ống tháo khí mêtan phải đi trong các đường
lò gió thải, đến giai đoạn triển khai hệ thống khoan tháo khí mêtan đến trạm
quạt là ngắn nhất, vì vậy chọn xuyên vỉa -225 là vị trí để đặt Injector hút khí.
- Lưu lượng gió qua xuyên vỉa -225 là 80 m3/s (4800 m3/ph), hàm lượng
khí mêtan lớn nhất qua xuyên vỉa -225 là 0,3%, do đó lưu lượng khí mêtan đi
qua xuyên vỉa -225 là: 0,3x4800/100 = 14,4 m3/ph.
- Lưu lượng khí mêtan tháo được lớn nhất là 5,98 m3/ph, vậy tổng lưu
lượng khí mêtan sau vị trí Injector xả khí mêtan là: 14,4 + 5,98 = 20,38 m3/ph.
Tổng lượng gió đi qua xuyên vỉa -225 sau vị trí Injector xả khí là: 4800 + 5,98
= 4805,98 m3/ph.
- Hàm lượng khí mêtan sau vị trí Injector xả khí mêtan tính bằng tổng lưu
lượng khí mêtan chia cho tổng lưu lượng gió, thay số vào ta tính được hàm
lượng khí mêtan trên xuyên vỉa -225 sau vị trí Injector xả khí là:
20,38 / 4805,98 x 100% = 0,42 % .
Vậy lưu lượng gió qua xuyên vỉa -225 có thể hòa loãng lượng khí mêtan
do Injector xả ra xuống dưới mức cho phép.
Kết luận: Chọn phương án xử lý khí mêtan thu được là phương án 3: Xả
khí mêtan ra đường lò thông gió của mỏ.

- Đô thoát khí mêtan tương đối và đô thoát khí mêtan tuyệt đối tăng khi
đô chứa khí mêtan tăng.
- Khi sản lượng khai thác tăng lên thì đô thoát khí mêtan tuyệt đối tăng
theo nhưng ngược lại độ thoát khí mêtan tương đối lại giảm đi.
Từ các bảng kết quả tổng hợp bình quân trên cho thấy, lượng khí mê tan
của các mỏ từ năm 2007 đến năm 2015 đều có xu hướng năm sau tăng hơn năm
trước. Mặt khác các mỏ đều khai thác xuống sâu hơn và sản lượng khai thác
không tăng nhiều, nên cho nhận xét rằng khi khai thác xuống sâu thì lượng khí
mê tan thoát ra từ các khu vực khai thác cũng tăng lên.
II. KIẾN NGHỊ
Tăng chiều sâu khoan tiến gương lên tối thiểu 30m (vượt qua kẽ nứt do
tác động của nổ mìn), chiều sâu tiến gương có thể đạt tới hàng trăm mét nếu cần
để thăm dò khí và nước
Cần áp dụng khoan tháo khí đối với những mỏ có những vỉa than có độ
chứa khí lớn (những mỏ hạng III và những mỏ sẽ lên hạng III khi khai thác
xuống sâu)
Áp dụng kết quả nghiên cứu dự báo độ thoát khí mê tan vào thực tế bằng
cách lấy kết quả dự báo nhân thêm với hệ số k =0,8651và cộng với 0,00246.
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
1. Nguyễn Văn Thịnh, Đặng Vũ Chí, Nguyễn Cao Khải, Nhữ Việt Tuấn, Ngô
Hoàng Ngân (2013), “Dự báo độ chứa khí và thoát khí mê tan ở các vỉa
than mỏ than Mạo Khê ở các độ sâu khai thác khác nhau”, Tạp chí công
nghiệp mỏ (5), tr 26-28, 25
2. Nguyễn Văn Thịnh, Trần Xuân Hà, Nguyễn Cao Khải, Ngô Hoàng Ngân,
Vũ Thành Lâm(2013), “Đánh giá xếp hạng mỏ theo độ thoát khí mê tan
ở mỏ than Mông Dương”, Tạp chí công nghiệp mỏ (4), trang 16-18


23


Journal of Latest Engineering and Management Research (IJLEMR), ISSN:
2455-4847, www.ijlemr.com || Volume 03 - Issue 08 || August 2018
||PP.65-71
10. Nguyễn Văn Thịnh (2018), “Xác định độ chứa khí mê tan trong các vỉa than
của mỏ than Mông Dương đến mức -350”, Tạp chí công nghiệp mỏ (4),
trang 24-27


24

11. Nguyễn Văn Thịnh, Đặng Vũ Chí, Đặng Phương Thảo(2018), “Nghiên cứu
các yếu tố ảnh hưởng đến độ thoát khí mê tan tại các gương lò đào của mỏ
than Khe Chàm 1”, Tạp chí công nghiệp mỏ (6), trang 21-26




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status