tóm tắt luận án tiến sĩ kỹ thuật nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tập trung của cá tại chà cố định sử dụng trong nghề vây xa bờ tỉnh bình thuận - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ LỆ HOA
HIỆU QUẢ CỦA VẮCXIN
VIÊM GAN B THẾ HỆ BA TRONG ĐIỀU TRỊ
VIÊM GAN B MẠN TÍNH
Chuyên ngành: Dịch tễ học
Mã số: 62.72.70.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - Năm 2009
Công trình được hoàn thành tại: Đại Học Y Dược TP HCM
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Lê Thế Thự
Phản biện 1: GS TS Nguyễn Thị Kê
Phản biện 2: GS TS Phạm Ngọc Đính
Phản biện 3: PGS TS Nguyễn Đỗ Nguyên
Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp nhà nước họp tại:
Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Vào hồi 8 giờ 30 ngày 29 tháng 01 năm 2010
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Quốc Gia Việt Nam
Thư viện Khoa học Tổng hợp TP HCM
Thư viện Đại Học Y Dược TP HCM
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ
1. Phạm Thị Lệ Hoa, Lê Thế Thự (2005) Kết quả trị liệu viêm gan
siêu vi B mạn tính bằng vắc xin thế hệ thứ ba đơn trị liệu hay phối
hợp lamivudine. Y Học Thành phố Hồ Chí Minh, 9, 153-157.
2. Phạm Thị Lệ Hoa, Cao Ngọc Nga (2006) Đáp ứng kháng thể chống
kháng nguyên S với trị liệu vắc xin chứa kháng nguyên
S/preS1/preS2 ở bệnh nhân viêm gan B mạn tính. Y Học Thực Hành
12, 46-50.

liệu mạnh hơn và phụ thuộc vào liều kháng nguyên được sử dụng.
2. Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm khảo sát hiệu quả trị liệu của vắc xin thế hệ ba
liều gấp đôi trong điều trị viêm gan B mạn tính với các mục tiêu cụ thể:
2.1.Xác định tỷ lệ của các đáp ứng: mất HBeAg - chuyển đổi huyết
thanh HBeAg, đáp ứng virút (giảm hay mất HBV-DNA), mất HBsAg, đáp
ứng huyết thanh antiHBs và đáp ứng sinh hóa của phác đồ vắc xin đơn trị
liệu và vắc xin phối hợp với Lamivudine
2.2.So sánh các tỷ lệ đáp ứng trên với đáp ứng của phác đồ Lamivudine
đơn trị liệu.
3. Những đóng góp mới của luận án
3.1.Vắc xin trị liệu có thể gây đáp ứng virút và kiểm soát được virút
sau khi ngưng can thiệp nhưng hiệu quả giảm dần.
3.2. Đáp ứng với trị liệu vắc xin viêm gan thế hệ ba liều gấp đôi gây
được đáp ứng kháng thể antiHBs tuy HBsAg vẫn chưa được thải
trừ hoàn toàn, dẫn đến hiện diện đổng thời HBsAg và antiHBs.
3.3.Phối hợp vắc xin với Lamivudine tăng đáp ứng virút, đáp ứng
kháng thể antiHBs và đáp ứng sinh hóa so với vắc xin đơn trị liệu.
4. Bố cục của luận án
Luận án gồm 110 trang chia làm 3 phần chính:
Phần 1: Đặt vấn đề nêu tính cần thiết và mục tiêu của nghiên cứu (3 tràng)
Phần 2: có 4 chương: Tổng quan tài liệu (36 trang), Đối tượng và phương
pháp (12 trang), Kết quả (32 trang), Bàn luận (24 trang).
Phần 3: Kết luận và Kiến nghị (3 trang)
Và 3 phần phụ gồm: Tài liệu tham khảo (12 trang, 105 tài liệu, 9 tiếng Việt
– 96 tiếng Anh), Danh mục công trình có liên quan của tác giả và Phụ lục.
Ngoài ra các chi tiết trong luận án còn đựoc trình bày trong 35 bảng, 20
hình và 3 biểu đồ.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đặc điểm virút và chu trình sao chép của HBV

ứng trị liệu được chia làm 4 nhóm: đáp ứng huyết thanh HBeAg, đáp
ứng virút, đáp ứng sinh hóa và đáp ứng mô học.
1.4.2. Các biện pháp trị liệu & thuốc điều trị
Gồm 2 nhóm chính là nhóm trị liệu miễn dịch (Interferon, Peg-IFN) và
nhóm diệt virút (các thuốc tương tự nucleoside) sử dụng phác đổ đơn
trị liệu hay phối hợp trị liệu.
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. THIẾT KẾ: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có kiểm chứng tại
bệnh viện, gồm 2 nhóm can thiệp (vắc xin đơn trị liệu, vắc xin phối hợp
Lamivudine) và 1 nhóm chứng (Lamivudine đơn trị liệu) (biểu đồ 2.1)
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ can thiệp theo thời gian
Nhóm can thiệp
Thời gian nghiên cứu (tháng)
1
2
3
4
5
6
7
8
9
12
18
Sci-B-Vac 20µg/tháng (<15t 10 µg)
Sci-B-Vac + Lamivudine
Lamivudine 100mg/ngày (3mg/kg)
2.2. DÂN SỐ MẪU: Cả hai phái nam và nữ, người lớn và trẻ em, khám
tại khoa khám ngoại trú BV Bệnh Nhiệt Đới, chẩn đoán viêm gan B mạn
với HBeAg (+) trong thời gian từ tháng 1/2003 đến tháng 1/2005.

2.5. TIÊU CHUẨN NGỪNG NGHIÊN CỨU:
Bệnh nhân thay đổi ý kiến, từ chối tham gia vào bất cứ thời điểm nào; Có
triệu chứng của cơn bùng phát viêm gan nặng cần thay đổi trị liệu; Suy gan
cấp do hoạt hóa miễn dịch bởi vắc xin hay bất kỳ nguyên nhân nào
2.6. BIẾN SỐ & ĐỊNH NGHĨA BIẾN SỐ:
2.6.1. Biến số kiểm soát gồm: tuổi, phái, BMI, tiền sử trị liệu
Lamivudine, mức ALT trước điều trị, mật độ HBV-DNA trước điều trị.
2.6.2. Biến số độc lập là các nhóm can thiệp như: Vắc xin đơn trị liệu,
Vắc xin phối hợp với Lamivudine, và Lamivudine đơn trị liệu.
2.6.3. Biến số phụ thuộc: gồm 2 nhóm:
Biến số sơ cấp: HBeAg, antiHBe, HBV-DNA, ALT, HBsAg và antiHBs.
Biến số thứ cấp: đáp ứng huyết thanh HBeAg, đáp ứng virút, đáp ứng
huyết thanh HBsAg và đáp ứng sinh hóa.
2.7. Đánh giá biến số & kỹ thuật:
ALT, HBeAg, antiHBe, HBsAg, antiHBs: thực hiện bằng kỹ thuật miễn
dịch men microparticle enzyme immunoassay (MEIA) với bộ thuốc thử
của ABBOTT [Max-Planck-Ring 2 65205, Wiesbaden, Germany] và phân
tích trên máy AZXYM tại khoa xét nghiệm BV Bệnh Nhiệt Đới. Kết quả
đo lường trực tiếp từ máy là thông số về độ chính xác của mẫu thử
(Accuracy) dựa trên hiệu giá dương tính so với giá trị ngưỡng (S/CO) và
được gián tiếp chuyển đổi thành đơn vị quốc tế (IU/L) trong trường hợp
xét nghiêm antiHBs. HBeAg dương tính khi giá trị S/CO >1. AntiHBe
dương tính khi giá trị S/N >60. HBsAg âm tính khi giá trị S/CO <1.
AntiHBs dương tính khi hiệu giá kháng thể >10
UI/L
.
HBV-DNA định lượng (kỹ thuật Real Time PCR dùng Tagman probe,
ngưỡng phát hiện 500
cp/ml
, chuẩn định lượng từ Khoa Sinh đại học Royal

p
Giới nam
65,0
65,0
60,0
>0.05
Tuổi (năm) ≤ 30
63,3
55,0
63,3
>0.05
BMI ≤ 24,5
85,0
90,0
93,3
>0.05
Có dùng Lamivudine
15,0
20,0
10,0
>0.05
HBV-DNA lúc vào ≤ 6
log cp/ml
31,7
51,7
38,3
>0.05
HBV-DNA trung vị
6,8
5,9

>0.05
9
15 (25,0)
14 (23,3)
16 (26,7)
>0.05
12
18 (30,0)
14 (23,3
15 (25,0)
>0.05
Mất HBeAg
18
21 (35,0)
18 (30,0)
17 (28,3)
>0.05
3
4 (6,7)
7 (11,7)
11 (18,3)
>0.05
9
12 (20,0)
13 (21,7)
13 (21,7)
>0.05
12
16 (26,7)
14 (23,3)

16
18
1
2
0
1
6
0
1
3
3
5
0
5
10
15
20
25
3
9
12
15
18
số ca
tháng
Diễn tiến chuyển đổi huyết thanh HBeAg và
chuyển đổi huyết thanh HBeAg ngược
VAC
VAC+LAM
LAM

15 (25,0)
>0,05
Còn dương tính
7
38
45 (75,0)
21 (35,0)
39 (65,0)
60
Nhóm vắc xin + Lamivudine
Âm tính
9
5
14 (23,3)
>0,05
Còn dương tính
9
37
46 (76,7)
18 (30,0)
42 (70,0)
60
Nhóm Lamivudine
Âm tính
14
2
16 (26,7)
>0,05
Còn dương tính
3

=60)
Tỷ lệ mất HBV-DNA và HBV-DNA ≤4
log cp/ml
ở nhóm vắc xin đơn trị liệu
kém hơn hai nhóm có dùng Lamivudine trong 18 tháng nghiên cứu
(p=<0,001). Phối hợp VAC+LAM gây đáp ứng virút cao hơn Lamivudine
đơn trị liệu (ngưỡng phân loại HBV-DNA ≤4
log cp/ml
(p<0,05) (bảng 3.17).
3.2.2.1.1. Tính chất kéo dài của đáp ứng virút:
Có 62,5% nhóm vắc xin, 68,4% nhóm phối hợp và 81,5% duy trì được đáp
ứng mất HBV-DNA sau 9 tháng. Có 22,7% trường hợp chưa có đáp ứng
virút ở nhóm VAC+LAM tiếp tục đáp ứng virút sau khi ngừng vắc xin so
với 11,5% ở nhóm VAC và 12,1% ở nhóm LAM vào thời điểm 18 tháng.
Đáp ứng virút sớm ở các nhóm n (%)
Biên độ giảm HBV-
DNA
(log cp/ml)
VAC
VAC+LAM
LAM
p
> 1

11 (18,3)
39 (65,0)
33 (55,0)
<0,001
> 2


p
<500
5 (8,3)
23 (38,3)
8 (15,0)*
<0,001
9
≤ 4
log
8 (13,3)
38 (63,3)
27 (45,0)*
<0,001
12
<500
5 (8,3)
21 (35,0)
8 (13,3)*
<0,001
≤ 4
log
9 (15,0)
39 (65,0)
26 (43,3)*
<0,001
< 5
log
19 (31,7)
44 (73,3)
39 (66,1)

≤ 4
log cp/ml
> 4
log cp/ml
Tổng số
n (%)
p
(Mac
Nemar)
Nhóm vắc xin
≤ 4
log cp/ml
5
3
8 (13,3)
>0,05
> 4
log cp/ml
6
46
52 (86,7)
11 (18,3)
49 (81,7)
Nhóm vắc xin + Lamivudine
≤ 4
log cp/ml
26
12
38 (63,3)
>0,05

1
=n
2
=n
3
=60)
Có đáp ứng antiHBs n (%)
Thời gian
(tháng)
VAC
VAC+LAM
LAM
p
3
2 (3,3)
3 (5,0)
0
>0,05
9
13 (21,7)
21 (35,0)
0
<0,001
12
17 (28,3)
27 (45,0)*
0
<0,001
15
17 (28,3)*

11
2
13 (21,7)
>0,05
Không
8
39
47 (78,3)
19 (31,7)
41 (68,3)
60
VAC+LAM

19
2
21 (35,0)
0,013
Không
12
27
39 (65,0)
31 (51,7)
29 (48,3)
60
Đáp ứng antiHBs được duy trì kéo dài ở cả 2 nhóm vắc xin đơn trị liệu và
nhóm phối hợp VAC+LAM (bảng 3.22). Mặt khác, nhóm phối hợp
VAC+LAM có gia tăng đáp ứng antiHBs sau ngưng vắc xin (12/39 ca).
nên tỷ lệ đáp ứng antiHBs sau 18 tháng nhiều hơn có ý nghĩa so với lúc 9
tháng (p=0,013, phép kiểm Mac Nemar) nhưng không đủ ý nghĩa ở nhóm
đơn trị liệu vắc xin cũng chứng minh phối hợp Lamivudine gia tăng đáp

30 (50,0) *
43 (71,7)
44 (73,3)
0,011
18
38 (63,3)
40 (66,7)
47 (78,3)
>0,05
* Khác biệt giữa nhóm VAC và nhóm VAC+LAM (p<0,05)
Tỷ lệ đáp ứng sinh hóa trong nhóm đơn trị liệu VAC thấp hơn hai nhóm có
Lamivudine (bảng 3.24). Phối hợp VAC+ LAM gây đáp ứng sinh hóa cao
hơn đơn trị liệu VAC. Đáp ứng sinh hóa của nhóm đơn trị liệu LAM và
nhóm phối hợp VAC+LAM không khác biệt nhau.
3.1.1. LIÊN QUAN GIỮA CÁC ĐÁP ỨNG TRỊ LIỆU:
3.1.1.1. Liên quan giữa đáp ứng antiHBs & đáp ứng virút
Bảng 3.31: Liên quan giữa đáp ứng AntiHBs và đáp ứng virút
HBV-DNA sau can thiệp (N=120)
AntiHBs sau 12
tháng
≤ 4
log cp/ml
> 4
log cp/ml
p
12 tháng

23 (52,3)
24 (47,7)
Không

40 (93.0)
0.006
(n1=60)
9 (15)
51 (85)
VAC+LAM

30 (83.3)
6 (16.7)
Không
9 (37.5)
15 (62.5)
< 0.001
(n2=60)
39 (65.0)
21 (35.0)
LAM

19 (47.5)
21 (52.5)
Không
7 (35.0)
13 (65.0)
0.357
(n3=60)
26 (43.3)
34 (56.7)
Đáp ứng sinh hóa có liên quan ý nghĩa với đáp ứng virút ở nhóm vắc xin
đơn trị liệu và vắc xin phối hợp với Lamivudine (bảng 3.28).
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

với nhiều mức HBV-DNA được sử dụng trong phân tích nhằm mô tả chi
tiết về sự khác biệt về đáp ứng virút, về diễn tiến hay về tính kéo dài của
đáp ứng trong các nhóm can thiệp.
Nghiên cứu cũng được thiết kế quan sát cùng lúc 2 nhóm can thiệp (vắc
xin đơn trị liệu, vắc xin phối hợp Lamivudine) và một nhóm chứng (đơn trị
liệu Lamivudine) nhằm so sánh riêng tác dụng của hai đơn trị liệu (vắc xin
và Lamivudine); so sánh riêng tác dụng của đơn trị liệu vắc xin và phối
hợp vắc xin + Lamivudine; và so sánh tác dụng của đơn trị liệu
Lamivudine và phối hợp vắc xin + Lamivudine.
Thiết kế của P.H.Phiệt năm 2004 là nghiên cứu vắc xin đơn trị liệu đầu
tiên ở Việt Nam, ngoài số liệu còn ít thỉ thiết kế không dùng nhóm giả
dược hay nhóm chứng nên không so sánh được với trị liệu Lamivudine
chuẩn và không quan sát được ảnh hưởng của vắc xin trong phác đồ phối
hợp với Lamivudine.
Thiết kế của tác giả N.T.M.Phương năm 2004 cũng thuốc nhóm nghiên
cứu đi đầu sử dụng vắc xin trị liệu, so sánh 3 nhóm trị liệu (giả dược,
Lamivudine đơn trị và vắc xin phối hợp với Lamivudine) nhưng không có
nhóm vắc xin đơn trị liệu nên không quan sát được đáp ứng của đơn trị liệu
vắc xin. Hơn nữa, điều trị vắc xin với liều tiêm ngừa chuẩn (20µg) có thể
hạn chế phần nào đáp ứng trị liệu và chưa phát hiện được đáp ứng antiHBs.
Các nghiên cứu thử nghiệm trị liệu cho chuột mắc bệnh do chuyển gen
HBsAg hay các nghiên cứu trị liệu IFN cho người đã được ghi nhận có đáp
ứng antiHBs và mất HBsAg. Thiết kế nghiên cứu này sử dụng vắc xin biểu
lộ cả 3 kháng nguyên bề mặt S/preS1/preS2 được glycosyl hóa, đường
tiêm bắp, nhưng liều gấp đôi (20µg cho người lớn hay 10µg cho trẻ < 10
tuổi) là điểm khác biệt so với các nghiên cứu trước. Tuy vậy, đây là nghiên
cứu đầu tiên đưa đáp ứng antiHBs vào khảo sát trong nghiên cứu trị liệu
viêm gan B mạn nói chung và trị liệu bằng vắc xin nói riêng.
Số liều vắc xin trong nghiên cứu tham khảo từ các nghiên cứu trị liệu vắc
xin được công bố trước thời điểm năm 2003: Nghiên cứu phối hợp vắc xin

Trong nhóm đơn trị liệu vắc xin, mức ALT trước khi điều trị không có ảnh
hưởng quan trọng trên đáp ứng mất HBeAg, khác biệt với ảnh hưởng của
ALT trước điều trị trong đơn trị liệu Lamivudine được quan sát trong
nghiên cứu cũng như ghi nhận trong y văn (Dienstag 1999). Ảnh hưởng
không đáng kể của ALT trên đáp ứng trị liệu có lẽ do vắc xin có vai trò
kích thích phản ứng thải trừ miễn dịch chống HBV gợi ra khá năng có thể
dùng vắc xin trị liệu cho bệnh nhân viêm gan B mạn với mức ALT <2
ULN
.
Ở nhóm phối hợp VAC+LAM: đáp ứng đạt sớm hơn nhóm VAC nhưng
cũng không cao hơn nhóm LAM ở các thời điểm khảo sát. Mức ALT cũng
không ảnh hưởng quan trọng một lần nữa chứng minh vắc xin có tác dụng
kích thích đáp ứng miễn dịch thải trừ virút. Như vậy, khi thiết kế tiêu
chuẩn trị liệu vắc xin, có thể đề xuất ngưỡng ALT thấp hơn so với ngưỡng
ALT >2
ULN
như trong trị liệu LAM.
4.2.2. So sánh đáp ứng huyết thanh HBeAg trong các nghiên cứu:
Bảng 4.34. Tỷ lệ chuyển đổi HBeAg trong các nghiên cứu vắc xin
Chuyển đổi HBeAg tháng (%)
Nghiên cứu
Can thiệp &
Kháng nguyên
9
12
18
Pol S (2001)
(S)
13,3
P.H.Phiệt

Nghiên cứu này
LAM
21,7
18,3
21,7
a
tỷ lệ phân tích theo thiết kế (per protocol analysis)
Không có khác biệt về tỷ lệ đáp ứng chuyển huyết thanh HBeAg so với các
nghiên cứu đơn trị liệu vắc xin khác (Pol, 2001; P.H. Phiệt 2004) dùng vắc
xin S hay S/PreS1/PreS2 (bảng 4.34).
So sánh đáp ứng của đơn trị liệu LAM và phối hợp VAC+LAM, nghiên
cứu của N.T.M.Phương (2004) và Horrike (2005) cho kết quả phối hợp
gây đáp ứng chuyển đổi huyết thanh HBeAg nhiều hơn đơn trị liệu LAM
(bảng 4.34). Trong nghiên cứu này, tỷ lệ đáp ứng ở nhóm phối hợp cũng
không cao hơn so với nhóm đơn trị liệu LAM (23,3% so với 18,3%). Hơn
nữa, tỷ lệ đáp ứng của nhóm phối hợp trong nghiên cứu của tác giả
N.T.M.Phương (70,8%) cũng cao hơn nhiều so với nghiên cứu của
Horrike. Sự khác nhau này có thể do sự khác biệt trong thiết kế nghiên cứu
nhất là thành phần kháng nguyên, liều kháng nguyên (bảng 4.34), đường
tiêm, tiêu chuẩn đánh giá kết quả, cách xử lý các trường hợp mất theo dõi,
cỡ mẫu và thời gian can thiệp.
Tác giả Horrike can thiệp phối hợp trên 9 bệnh nhân HBeAg (+) 12 liều
(khoảng cách mỗi 2 tuần) với thời gian 6 tháng. Nghiên cứu này sử dụng
liều kháng nguyên cao hơn (20µg - liều gấp đôi) nhưng thời gian can thiệp
ngắn hơn (8 tháng) so với N.T.M.Phương (12 tháng); của P.H.Phiệt (12
tháng), của Horrike (6 tháng). Tuy vậy, vẫn không chứng minh được đáp
ứng của nhóm phối hợp cao hơn so với nhóm đơn trị liệu Lamivudine.
Như vậy, số mũi tiêm nhiều hơn (như Horiike) hay thời gian can thiệp dài
hơn (như N.T.M.Phương) có lẽ cần thiết để gây được đáp ứng huyết thanh
HBeAg cao hơn. Hơn nữa đáp ứng chuyển đổi HBeAg trong nhiễm HBV

Bảng 4.35. Đáp ứng virút theo các nghiên cứu
HBV-DNA
log cp/ml
(%)
< 5
< 5
<5
< 4
Nhóm can
thiệp
Horrike 2005
NTMP
2004
Khảo sát này
Sau 12 tháng
LAM
48
(15/31)
90
(27/30)
63,3
(38/60)
43,3*
(26/60)
VAC+LAM
100
(9/9)
100
(30/30)
73,3

đo lường HBV-DNA bằng kỹ thuật lai của các nghiên cứu trước đây) thì
kết quả của nghiên cứu này không phát hiện được sự khác biệt trong đáp
ứng virút giữa hai phác đồ phối hợp vắc xin với Lamivudine (73%) và
Lamivudine đơn trị liệu (63%). Nói cách khác, việc phân tích dựa trên
ngưỡng HBV-DNA này sẽ bỏ sót vai trò của phối hợp thêm vắc xin với trị
liệu Lamivudine cho bệnh nhân viêm gan B mạn có HBeAg (+) (bảng 3.17
và 4.35).
2.1.1. Về đáp ứng virút kéo dài
Trong can thiệp của N.T.M.Phương, tỷ lệ 100% HBV-DNA <5
log cp/ml

nhóm phối hợp vào 12 tháng, cũng giảm đi còn 90% vào 24 tháng (12
tháng sau ngưng vắc xin) (bảng 4.35).
Tương tự, trong nghiên cứu này, vào 12 tháng (4 tháng sau ngưng vắc xin)
nhóm VAC+LAM vẫn còn duy trì được tỷ lệ đáp ứng virút nhiều hơn
(65% có HBV-DNA < 4
log cp/ml
) so với nhóm LAM (43,3%, p<0,05). Tuy
nhiên sau 18 tháng (10 tháng sau ngưng vắc xin), các tỷ lệ trên ở hai nhóm
không còn khác biệt ý nghĩa (53,3% so với 45%) (bảng 3.20 và 4.35).
Kết quả nghiên cứu cũng phù hợp với nhận định của Mizukoski (2004)
rằng sử dụng thuốc diệt virút phục hồi được đáp ứng tế bào lymphô T với
kháng nguyên polymerase và kháng nguyên c trong năm đầu, nhưng đáp
ứng tế bào này giảm dần khi điều trị kéo dài và không còn đáng kể sau 3
năm dùng thuốc. Như vậy, sự giảm sút tỷ lệ đáp ứng này một phần liên
quan đến giảm đáp ứng tế bào T sau 12 tháng dùng Lamivudine và có thể
liên quan với việc chấm dứt vắc xin sau 8 tháng.
Bảng 3.20 thể hiện sự thay đổi đáp ứng virút từ 9 tháng đến 18 tháng ở các
nhóm can thiệp. Nhóm VAC+LAM có thêm đáp ứng virút ở những trường
hợp chưa đáp ứng vào 9 tháng (5/22 trường hợp, 22,7%) nhiều hơn so với

và T-CD8
+
với các kháng nguyên c, S, và
polymerase trên tế bào gan gây những đợt viêm hoạt tính, tiêu hủy tế bào
gây tăng ALT. Tsai (1997) đã chứng minh có liên quan giữa phản ứng tăng
sinh của T-CD
4+
khi kích thích bằng HBcAg với mức độ tổn thuơng gan và
hiệu quả thải trừ HBV trên bênh nhân viêm gan B cấp và mạn. Trong điều
trị bằng IFN, phản ứng tăng ALT ngay sau khởi sự điều trị cũng được lý
giải do tác dụng phục hồi của miễn dịch. Hiện tượng này không gặp khi
điều trị bằng thuốc chống virút như Lamivudine.
Đáp ứng miễn dịch của lymphô B với vắc xin cũng dẫn đến sinh kháng thể
antiHBe và antiHBs, cải thiện trình diện kháng nguyên cho T-CTL nên
cũng có thể góp phần gây nên tổn thương tế bào. Như vậy, đáp ứng tế bào
và thể dịch với vắc xin có thể tạo nên những đợt viêm gan bùng phát làm
tăng mạnh các transaminase.
Trong nghiên cứu này, nhóm VAC có đáp ứng sinh hóa sau 3 tháng thấp
hơn đáng kể so với nhóm VAC+LAM hay nhóm đơn trị liệu LAM (21,7%
so với 38,3% và 55%, bảng 3.24). Tuy nhiên ở nhóm VAC+LAM tỷ lệ gây
được đáp ứng sinh hóa đều cao hơn so với nhóm VAC (38,3 so với 21,7%
sau 3 tháng, p<0,05). Như vậy có thể lý giải rằng Lamivudine trong nhóm
phối hợp đã làm giảm biểu lộ kháng nguyên của HBV nên tổn thương tế
bào cũng nhẹ hơn.
Mối liên hệ giữa đáp ứng sinh hóa và đáp ứng virút có liên quan ý nghĩa ở
hai nhóm có vắc xin (nhóm vắc xin đơn trị và nhóm vắc xin phối hợp
Lamivudine) (bảng 3.32). Vì vậy có thể dùng đáp ứng sinh hóa như một
trong nhiều tiêu chuẩn để dự báo đáo ứng điều tri cho phác đồ có sử dụng
vắc xin. Đáp ứng sinh hóa đạt được sớm và nhiều hơn nhưng không thể
dùng dự báo cho đáp ứng virút ở phác đồ đơn trị liệu Lamivudine.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status