BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM TĂNG XUÂN LƯU
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA BÒ SỮA
CHẬM SINH VÀ ỨNG DỤNG HORMONE ĐỂ KHẮC PHỤC
Chuyên ngành: Sinh sản và bệnh sinh sản gia súc
Mã số: 62 64 01 06
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
HÀ NỘI, 2015
- Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam đã và đang phát triển mạnh trong
những năm gần đây, đem lại hiệu quả kinh tế cao, ổn định thu nhập cho
người chăn nuôi. Chăn nuôi tập trung chiếm khoảng 35%, còn lại là chăn
nuôi nông hộ. Chăn nuôi nông hộ có đặc điểm: quy mô nhỏ, không đồng
bộ, thiếu khoa học kỹ thuật khả năng sinh sản của đàn bò thấp, biểu
hiện cụ thể là tuổi động dục lần đầu cao, khoảng cách hai lứa đẻ dài, tỷ
lệ chậm sinh cao
Chậm sinh ở bò sữa là tình trạng chung của cả nước cũng như ở
vùng Ba Vì, Hà Nội. Bò sữa thường bị các bệnh về buồng trứng như thể
vàng tồn lưu, u nang và buồng trứng không hoạt động.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh chậm sinh ở bò sữa. Bên cạnh
yếu tố giống, thức ăn, nuôi dưỡng, chăm sóc, mùa vụ, vùng miền, còn
phải kể đến yếu tố kỹ thuật: phát hiện động dục, phối giống, điều trị các
bệnh về sinh sản. Tất cả những điều này đều có thể ảnh hưởng đến khả
năng sinh sản của bò sữa.
Vì vậy, xuất phát từ yêu cầu rút ngắn tuổi động dục lần đầu, rút
ngắn khoảng cách lứa đẻ, tăng số con được sinh hay nói cách khác là
tăng sản lượng sữa trong một đời con cái, chúng tôi tiến hành đề tài này.
2. Mục tiêu đề tài
Đánh giá được thực trạng sinh sản của đàn bò sữa nuôi tại Ba Vì,
Hà Nội và tình trạng hoạt động của buồng trứng ở bò chậm sinh, từ đó
giúp cho người chăn nuôi có được thông tin và hướng tác động đúng
nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi.
tăng năng suất sinh sản mà còn hạn chế được sự ảnh hưởng của hormne
tồn dư trong sản phẩm chăn nuôi.
4. Những đóng góp mới của luận án
Luận án đã tiếp cận một phương pháp nghiên cứu mới trong việc
xác định, đánh giá, phân loại cụ thể các nguyên nhân gây chậm sinh
trên bò sữa. Đó là phương pháp số hóa (định lượng hormone
progesterone), kết hợp với phương pháp truyền thống (lâm sàng) làm
cho kết quả lâm sàng được chính xác hơn trong chẩn đoán và điều trị
bệnh trên buồng trứng.
Việc đưa ra các phác đồ điều trị bệnh một cách cụ thể cho từng
trạng thái trên buồng trứng đã giúp cho các kỹ thuật ở cơ sở sản xuất có
3
thể áp dụng một cách thuận thiện và chính xác hơn, đạt được hiệu quả
cao. Nhất là đối với các địa bàn không có những kỹ thuật giỏi.
Kết quả của luận án là tài liệu tham khảo cho các nhà chuyên
môn tham khảo dùng trong giảng dạy, học tập, nghiên cứu và ứng dụng
trong thực tiễn sản xuất.
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Sinh sản là đặc tính sinh học tự nhiên của gia súc nói chung và bò
sữa nói riêng nhằm duy trì và bảo vệ nòi giống. Hoạt động sinh sản có
tính chất quy luật, chịu sự điều khiển của cơ chế thần kinh và thể dịch
đồng thời phụ thuộc vào môi trường, điều kiện sống Khi con người
nắm được quy luật đó, chúng sẽ có tác động và điều khiển chúng theo ý
muốn để thúc đẩy sản xuất có hiệu quả hơn, phục vụ nhu cầu thực phẩm
ngày càng tăng của xã hội.
Cụ thể đối với bò sữa, khả năng sinh sản của chúng chịu ảnh hưởng
bởi các yếu tố: di truyền (giống), độ tuổi, thời tiết khí hậu, phương pháp
quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng, kỹ thuật
4
, prostaglandin (PG) hoặc chế phẩm tương đương đã được
nghiên cứu bởi Henricks (1986), Agarwal (1987), Buse (1995), Fukui et
al., (1999), Baruselli et al. (2003), Cutaia et al. (2003), Gavara et al.
(2003), Su et al., (2009)
Sử dụng kết hợp GnRH-PGF
2α
-GnRH-Estradiol nhằm nâng cao
khả năng sinh sản đã được nghiên cứu bởi Martiner et al. (2001), Fabio
de Rensis et al. (2002), Alinmer (2005), Bilego et al. (2013), Giordano
et al. (2013).
1.2.2. Những nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu ứng dụng hormone sinh sản (P
4
, estradiol, GnRH,
PGF
2α
) bởi Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Văn Thiện, Lưu Kỷ, Trịnh Quang
Phong và Đào Đức Thà (1995), Nguyễn Thị Ước (1996), Hoàng Kim
Giao và Nguyễn Thanh Dương (1997), Chung Anh Dũng (2001), Nguyễn
Xuân Trạch (2004), Lưu Công Khánh và cs. (2004), Quản Xuân Hữu,
(2006), Tăng Xuân Lưu và cs. (2010), Trịnh Quang Phong và cs. (2012)
Nghiên cứu, ứng dụng kỹ thuật ELISA xác định hàm lượng (P
4
)
và điều trị rối loạn sinh sản đã được thưc hiện bởi Phan Văn Kiểm và
cs. (1998, 2000, 2006), Trần Tiến Dũng và cs.(2003), Nguyễn Hùng
Nguyệt (2009)
5
đoán thai sớm nhằm nâng cao khả năng sinh sản ở bò sữa
Qua các nội dung: Xác định nguyên nhân bằng phương pháp khám
qua trực tràng, định lượng P
4
trong sữa đối với các trường hợp chậm
sinh do buồng trứng (thể vàng tồn lưu, u nang buồng trứng, buồng trứng
kém phát triển (thiểu năng)), chẩn đoán có thai sớm ở 21, 28 và 35 ngày
sau phối giống.
2.1.2.4. Ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng
sinh sản của bò sữa
Sử dụng thiết bị đặt âm đạo CIRD; hormone: GnRH, PGF
26
2.1.3. Phương pháp nghiên cứu
2.1.3.1. Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu sinh sản
Theo dõi ghi chép trực tiếp, qua sổ sách giống và điều tra trực tiếp
các hộ chăn nuôi (theo phương pháp của Nguyễn Trọng Tiến và cs.,
1991).
2.1.3.2. Phương pháp đánh giá thể trạng và khám lâm sàng để phân loại
buồng trứng của bò
Chấm điểm thể trạng BCS (Body Condition Scoring In Dairy
Cattle) theo phương pháp đánh giá cho điểm của Nhật Bản.
2.1.3.3. Phương pháp định lượng progesterone (P4)
Sử dụng phương pháp định lượng miễn dịch enzyme - ELISA để
định lượng P
4
, theo phương pháp của Isobe et al. (2004), Mann et al.
(2005) và Su Thanh Long et al., (2009):
(Sato et al., 1992). Định lượng P
4
sau 21 ngày và khám thai qua trực
tràng ở 45 - 60 ngày sau phối.
2.2. Xử lý số liệu
Các chỉ tiêu tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu, khối lượng
cơ thể khi đẻ lần đầu, thời gian mang thai, thời gian dộng dục lại sau đẻ,
khoảng cách giữa hai lứa đẻ. Số liệu thu thập được xử lý bằng chương
trình Minitab 16. Các tham số thống kê bao gồm dung lượng mẫu (n),
giá trị trung bình (
X
), độ lệch chuẩn (SD), giá trị nhỏ nhất (Min), giá trị
lớn nhất (Max).
Các chỉ tiêu bao gồm tỷ lệ đẻ, xẩy thai, đẻ non, sát nhau, hệ số
phối giống và tỷ lệ thụ thai, hiện tượng chậm sinh, động dục trở lại của
bò đến 120 ngày sau khi đẻ, ảnh hưởng mùa vụ đến chức năng buồng
trứng sau đẻ, chẩn đoán lâm sàng bệnh buồng trứng bằng khám qua trực
tràng, định lượng progesterone trong sữa, điều trị bệnh buồng trứng
không hoạt động, điều trị bệnh u nang buồng trứng, điều trị bệnh thể
vàng tồn lưu, điều trị bò chậm sinh không rõ nguyên nhân bằng phác đồ
tổng hợp.
Các tham số thông kê được xác định bao gồm: dung lượng mẫu,
tần xuất quan sát và tỷ lệ. Dữ liệu được phân tích thống kê và so sánh
bằng phép thử (χ
2
) (Chi-square test) và phép thử chính xác của Fisher
(Fisher’s exact test). Phép thử chính xác của Fisher được sử dụng trong
trường hợp mẫu bé (có ít nhất một giá trị tần suất ước tính lý thuyết <5)
2.3. Địa điểm nghiên cứu
- Vùng chăn nuôi bò sữa Ba Vì, Hà Nội.
là 33,93±1,11 tháng. Nguyễn Ngọc Tấn
và cs. (2014), bò lai ≥75% HF ở TP. Hồ Chí Minh có tuổi phối giống
lần đầu là 18,4 tháng và tuổi đẻ lứa đầu 28,2 tháng.
Bảng 3.1. Tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lần đầu
Chỉ số
Tuổi phối giống lần đầu
(tháng)
Tuổi đẻ lần đầu
(tháng)
n (con)
1006
2781
X
17,43
31,10
SD
21,57
13,6
Min
13,00
23,05
Max
35,5
46,30
Bò có máu lai càng cao, chăm sóc càng tốt, sinh trưởng càng
nhanh, nhưng bị ảnh hưởng bởi stress nhiệt mạnh hơn bò có máu HF
X
410,79
SD
49,68
Min
398
Max
620
Khối lượng ảnh hưởng bới tỉ lệ máu lai HF, bò máu lai HL cao sẽ có
KL cao hơn bò có máu lai HF thấp. KL cơ thể ảnh lớn bởi chế độ chăm
sóc nuôi dưỡng giai đoạn đầu cũng như khả năng sản xuất của chúng.
Kết quả này phù hợp với nhận xét của Nguyễn Văn Đức (2005) và Phạm
Văn Giới (2007b) là khối lượng cơ thể tăng tỷ lệ thuận với sự tăng mức độ
lai và năng suất sữa. Kết quả của chúng tôi ở thời điểm này có cao hơn so
với các nghiên cứu trên đàn bò vùng Ba Vì (bảng 3.2)
3.1.3. Thời gian mang thai của đàn bò sữa qua các lứa đẻ
Kết quả nghiên cứu theo dõi từ lứa đẻ 1 đến trên lứa đẻ 6 của 1.068
bò cái sinh sản (bảng 3.3).
Theo Nguyễn Văn Thưởng và Trần Doãn Hối (1982), thời gian
mang thai của nhóm bò lai 3/4 và 5/8 HF tại Nông trường Ba Vì là 278,3
và 280,1 ngày. Cù Xuân Dần và Lê Khắc Thận (1985), thời gian mang
10
thai của bò dao động trong khoảng 278 - 290 ngày. Nguyễn Quốc Đạt
và Nguyễn Thanh Bình (2006), thời gian mang thai của bò HF nhập nội
TP. Hồ Chí Minh là 276,57 ngày. Theo Sato et al. (1992a) thời gian
mang thai của bò HF là 281 ngày. Kết quả của chúng tôi thấp hơn các
nghiên cứu trên từ 5-7 ngày, sự sai khác này đều nằm trong ngưỡng dao
động chung, tuy nhiên chúng tôi không loại trừ yếu tố stress nhiệt do
3.1.4. Thời gian động dục lại sau khi đẻ
Trong nghiên cứu của Tăng Xuân Lưu và cs. (1999) bò lai F
1
HF
tại Ba Vì động dục lại sau 91,88±4,2 ngày đẻ; F
2
là 106,17±5,45 ngày.
Chung Anh Dũng (2001), đàn bò lai HF ở TP. Hồ Chí Minh có điểm thể
trạng 3,0-3,5 thì thời gian động dục lại sau khi đẻ là 62,81 ngày, trung
bình là 88 ngày. Đinh Văn Cải và cs. (2005), bò lai HF phía Nam có thời
gian động dục lại sau đẻ vào mùa khô 76,72 ngày, mùa mưa 76,62 ngày,
bò HF thuần mùa khô 130,1 ngày và mùa mưa 154,4 ngày.
Bảng 3.4. Thời gian động dục lại sau khi đẻ
Chỉ số
Thời gian động dục lại sau khi đẻ
n (con)
746
X
(ngày)
117,69
SD
97,23
Min
35
Max
180
11
Trần Thị Loan và cs. (2012), bò F
Như vậy khoảng cách giữa hai lứa đẻ của bò Ba Vì là khá dài so
với một số nơi khác (bảng 3.5). Đây là do tỷ lệ máu lai HF tăng cao trên
87,5%. Bảng 3.5. Khoảng cách giữa hai lứa đẻ
Chỉ số
Khoảng cách giữa hai lứa đẻ (ngày)
n (con)
746
X
437,43
SD
258,65
Min
400
Max
540
3.1.6. Tỷ lệ đẻ, sảy thai đẻ non, sát nhau trên đàn bò sữa
Tác giả Phan Văn Kiểm (1998) cho biết tỷ lệ đẻ toàn đàn bò lai HF
Hà Nội là 60 – 65%, đẻ non, sảy thai là 5,86%, sát nhau là 4,34% và có
chiều hướng gia tăng ở bò có tỷ lệ máu lai HF cao và bò HF thuần. Trịnh
Quang Phong và cs. (2012), tỷ lệ đẻ của bò lai HF tại Ba Vì và Gia Lâm
12
Hà Nội là 61,22%, 62,31%. Sato et al. (1992a) nhận xét, trên đàn bò sinh
sản Nhật Bản, tỷ lệ sót nhau 5-15%, đẻ non ở 270-275 ngày.
Bảng 3.6. Tỷ lệ đẻ, sẩy thai, đẻ non và sát nhau
Chỉ tiêu
Số con theo dõi
Số con đẻ
Tỷ lệ (%)
Hồ Chí Minh 2,93 lần. Phạm Văn Giới và cs. (2007b), phối có chửa tinh bò
lai HF 3/4 và 7/8 ở miền Bắc 58,6% và miền Nam là 61,6%. Nguyễn Ngọc
Tấn và cs. (2014), TP. Hồ Chí Minh là 3,4 lần Kết quả phối giống của bò
Ba Vì thấp hơn các nơi khác (bảng 3.7).
Bảng 3.7. Hệ số phối giống (HS) và tỷ lệ thụ thai (TT)
Chỉ tiêu
Hệ số phối giống (liều)
Tỷ lệ thụ thai (%)
Tổng số lần phối
1.793
1.793
Số con có chửa
812
812
Kết quả
2,21
45,29
3.1.8.
Hiện tượng chậm sinh (rối loạn sinh sản)
Khám lâm sàng qua trực tràng kết hợp với việc định lượng P
4
để
đánh giá khả năng hoạt động của buồng trứng bò chậm sinh chúng tôi
thu được kết quả ở bảng 3.8.
Theo Trịnh Quang Phong và cs. (2012), bò sữa Ba Vì và Gia Lâm
Hà Nội: bệnh u nang buồng trứng bò F2 16,70%, F3 là 3,12%, HF là
13
7,14%, thể vàng tồn lưu F2 20,80%, F3 25,0% và HF 21,43%, buồng
buồng
trứng
Buồng trứng
không hoạt động
n (con)
68
8
76
%
48,22
a
66,66
b
49,68
Thể vàng tồng
lưu
n (con)
22
3
25
%
15,60
a
25,00
b
16,34
0
7
%
4,96
a
0,0
b
4,57
Ghi chú: Trong cùng hàng, những giá trị trung bình có mang chữ cái khác nhau là
sai khác có nghĩa thông kê với P<0,05.
Chung Anh Dũng và cs. (2013), bệnh sinh sản trên bò sữa trong cả
nước có 41,7% đàn cái bị bệnh sinh sản (các tỉnh phía Bắc 32,2%, đồng
bằng sông Cửu Long 48,9%), trong đó chậm sinh 59,2%, phối giống
nhiều lần 12%, sót nhau 11,7%, động dục không theo chu kỳ 4,25%,
trong đó bò chậm sinh sản là bò vắt sữa 5 tháng mà vẫn chưa thụ thai.
Tỷ lệ bò chậm sinh vùng Ba Vì cao tương đương với một số nơi khác.
3.2. Đánh giá tình trạng hoạt động của buồng trứng bò sau khi đẻ
3.2.1. Động dục trở lại của bò sữa đến 120 ngày sau đẻ
Phân loại, đánh giá hoạt động của buồng trứng trên những bò
“chậm sinh” sau đẻ 120 ngày được thể hiện qua bảng 3.9.
Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tấn (2014), đàn bò TP. Hồ Chí
Minh không động dục sau đẻ 60 ngày là 11,7%, phối giống trên 80 ngày là
14
27,4% và khoảng cách từ sau đẻ đến phối giống có chửa là 209,9 ngày. Sự
thiếu dinh dưỡng, stress nhiệt và vắt sữa là những nguyên nhân thứ phát
dẫn đến sự rối loạn sinh sản là rối loạn hormone dẫn đến chậm động dục
lại sau khi đẻ (Sato et al., 1992). Đàn bò sữa Vùng Ba Vì cũng như vậy
68
Tỷ lệ (%)
54,40
U nang
Số bò (n)
35
Tỷ lệ (%)
28,00
Thể vàng tồn
lưu
Số bò (n)
22
Tỷ lệ (%)
17,60
Buồng trứng không hoạt động tập trung cao ở những bò không động
dục 54,40% (68 bò). Khi khám, chúng tôi nhận thấy thông thường thể
vàng chỉ xuất hiện trên một buồng trứng nhưng cũng có trường hợp trên
một buồng trứng có mặt cả thể vàng và nang trứng
3.2.3. Ảnh hưởng của mùa vụ đến chức năng buồng trứng sau đẻ
Có sự ảnh hưởng của thời tiết, mùa vụ tại thời điểm bò đẻ tới chức
năng của buồng trứng. Thể vàng tồn lưu, cao vào mùa hè (36,6%), thấp
15
vào mùa đông (13,63%). Bệnh ở buồng trứng xảy ra ở cả bốn mùa. Tuy
nhiên, ở mùa xuân và mùa hè cao hơn mùa thu và mùa đông (bảng 3.11).
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của mùa vụ đến chức năng hoạt động
của buồng trứng sau đẻ
Mùa vụ
Các trạng thái buồng trứng
Không hoạt động
e
Thu
9
13,23
b
7
20,00
4
18,18
f
Đông
16
23,52
b
5
14,28
d
3
13,63
f
Tổng số
68
100
35
100
22
100
Ghi chú: - Trong cùng cột, các giá trị trung bình có mang những chữ cái khác
nhau là sai khác ở mức P<0,05. Mùa xuân từ tháng 2-4, mùa hè từ tháng 5-9, mùa
thu từ tháng 10-11 và mùa đông từ tháng 12-1 năm sau
4
18,18
3
11
16,17
4
11,42
3
13,63
4
11
16,17
7
20,00
4
18,18
5
10
14,70
6
17,14
3
13,63
6
12
17,64
7
20,00
4
18,18
Thể vàng
tồn lưu
Số bò
(n)
Tỷ lệ
(%)
Số bò
(n)
Tỷ lệ
(%)
Số bò
(n)
Tỷ lệ
(%)
Gầy, quá gầy
(BCS:2,00-2,50)
16
23,52
13
37,14
1
4,54
Bình thường
(BCS:2,75-3,25)
9
13,23
2
5,71
8
36,36
quả thể hiện bảng 3.14.
Bảng 3.14. Chẩn đoán lâm sàng bệnh buồng trứng qua trực tràng
Trạng thái buồng trứng
Số bò (con)
Tỷ lệ (%)
Thể vàng tồn lưu
20
37,74
U nang
5
9,43
Buồng trứng kém hoạt động
28
52,83
Tổng số
53
100
Buồng trứng không hoạt động chiếm tỷ lệ cao nhất: 52,83%. Sau đó
thể vàng tồn lưu 37,74% và thấp nhất u nang chiếm 9,43%.
3.3.2. Kết quả chẩn đoán bệnh buồng trứng bằng định lượng P4
trong sữa
Xác định chính xác bệnh của buồng trứng bằng định lượng
hormone P
4
, thể hiện qua bảng 3.15.
Bảng 3.15. Kết quả định lượng P
4
trong sữa
Định lượng P
4
Định lượng progesterone xác định bệnh buồng trứng kém hoạt động
chiếm 56,60%, thể vàng tồn lưu 30,10% và u nang buồng trứng là
13,20%. Đối với bò có buồng trứng nhỏ và có hàm lượng P
4
< 0,2 ng/ml
18
được xác định là buồng trứng kém hoạt động (Tăng Xuân Lưu và cs.
2003b).
Qua kết quả (bảng 3.14) ở trên chúng tôi thấy kết quả giữa hai
phương pháp (định lượng P
4
và khám lâm sàng) không có sự sai khác
nhau rõ rệt ở các bệnh thể vàng tồn lưu, buồng trứng không hoạt động và
bệnh u nang buồng trứng. Kết quả so sánh được thể hiện bằng hình 3.1.
Hình 3.1. So sánh kết quả chẩn đoán bệnh buồng trứng bằng khám
lâm sàng và định lượng progesterone
3.3.3. Chẩn đoán có thai sớm bằng định lượng P4 trong sữa
Để chẩn đoán thai sớm ở bò chúng tôi đã dẫn tinh cho 26 bò có
biểu hiện động dục rõ, lấy mẫu sữa ở ngày 0 (ngày phối), ngày 7, 14, 21,
28, 35 sau phối. Kết quả được thể hiện ở bảng 3.16.
Bằng phương pháp định lượng P
4
trong sữa ở bò không động dục
có thể vàng tồn lưu là 30,10%, u nang buồng trứng 13,2% và buồng
trứng không hoạt động là 56,6%. Theo Phan Văn Kiểm và cs. (2006),
định lượng P
4
xác định có thai sớm qua 21 ngày chính xác 84,78% và
15
-
Bò không có chửa, khám thai ở 60 ngày sau phối
3
-
Việc xác định có thai sớm cũng là một trong những biện pháp để
nâng cao khả năng sinh sản của bò sữa. Hai phương pháp chẩn đoán
bệnh buồng trứng qua trực tràng và P
4
không có sự khác biệt nhiều ở
vùng Ba Vì.
3.4. Sử dụng hormone nhằm nâng cao khả năng sinh sản ở bò sữa
3.4.1. Kết quả điều trị bệnh buồng trứng không hoạt động
Đối với bò có buồng trứng không hoạt động, chúng tôi sử dụng
vòng CIDR đặt âm đạo 12 ngày, ngày thứ 11 tiêm PGF
2
, ngày 12 rút
vòng và tiêm GnRH sau đó theo dõi bò động dục và phối giống. Kết quả
bảng 3.17.
Bảng 3.17. Kết quả điều trị bệnh buồng trứng không hoạt động
Chỉ tiêu
Kết quả điều trị
Tổng số bò có buồng trứng
không hoạt động
n (con)
68
Bò động dục
n (con)
57
Tỷ lệ (%)
Chỉ tiêu
Kết quả điều trị
Tổng số bò bị u nang buồng trứng
n (con)
35
Bò động dục
n (con)
31
Tỷ lệ (%)
88,57
Có chửa
n (con)
25
Tỷ lệ (%)
71,42
Sau khi tiêm GnRH, ngày thứ 5 có 2 bò động dục, 33 bò tiêm PGF
2
vào ngày thứ 7, có 29 bò động dục. Tổng số bò động dục và phối giống là
31 con chiếm tỷ lệ 88,57% và sau 45-60 ngày khám thai có 25 bò có chửa
chiếm 71,42%. Kết quả nghiên cứu của Phan Văn Kiểm và cs. (2006) sử
dụng GnRH điều trị bệnh u nang buồng trứng có 57,14% bò có chửa
chẩn đoán bằng phương pháp P
4
. Trần Thị Loan và cs. (2012), sử dụng
GnRH, PGF
2
và sử dụng vòng CIDR
điều trị bò u nang buồng trứng có
83,33% bò động dục và 80% bò có chửa ở hai kỳ phối giống. Kết quả
(con)
Tỷ lệ
(%)
Lần 1
22
16
72,72
13
81,25
Lần 2
6
4
66,66
3
75,00
Tổng số
22
20
90,90
16
80,00
Hoàng Kim Giao và Nguyễn Thanh Dương. (1997), sử dụng PGF
2
trên bò lai hướng sữa tại Hà Nội tỷ lệ động dục 82,0%, tỷ lệ thụ thai
64,0%. Phan Văn Kiểm và cs. (2006), sử dụng PGF
2
điều trị bệnh thể
vàng tồn lưu đạt kết quả 76,92% sau khi chẩn đoán bằng phương pháp
progesterone. Kết quả thụ thai của chúng tôi cao hơn khi kết hợp với thụt
n (con)
4
%
10,81
PGF2α (ngày 3)
n (con)
11
%
24,32
GnRH (ngày 8)
n (con)
4
%
10,81
Phối giống (ngày 9)
Động dục
n (con)
13
%
35,14
Không động dục
n (con)
5
%
13,51
Có thai
n (con)
2
%
40,00
1. Kết luận
1) Khả năng sinh sản của đàn bò sữa có tỉ lệ máu lai ≥ 75% HF Ba
Vì, Hà Nội:
- Tuổi phối giống lần đầu (17,43 tháng), tuổi đẻ lần đầu (31,10
tháng), cao hơn một số vùng nuôi bò sữa lai trong cả nước.
- Khoảng cách giữa hai lứa đẻ dài (437,43 ngày).
- Tỷ lệ đẻ thấp (69,82%), tỷ lệ sảy thai, đẻ non còn cao (4,68%).
- Tỷ lệ sát nhau thấp (4,39%) và hệ số phối giống thụ thai (2,21 liều
tinh) tốt hơn so với nhiều nơi trong cả nước.
- Tỷ lệ chậm sinh cao (18,78%) ở cả hai nhóm bò tơ và bò sinh sản
thể hiện ở tình trạng buồng trứng không hoạt động, thể vàng tồn lưu và u
nang, trong đó buồng trứng không hoạt động chiếm tỉ lệ lớn (49,68%) và
tập trung ở đàn bò tơ (66,66%).
- Thời gian động dục lại sau khi đẻ trước 120 ngày dài 83,25%, số
bò động dục sau 120 ngày chỉ có 16,75%. Nguyên nhân là do buồng trứng
không hoạt động (54,40%), u nang buồng trứng (28,0%) và thể vàng tồn
lưu (17,6%).
2) Mùa vụ ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của buồng trứng ở
bò sữa khá rõ :
Mùa xuân tỉ lệ u nang (37,14%), thể vàng (31,81%), mùa hè
buồng trứng không hoạt động(33,82%), thể vàng tồn lưu (36,36%), mùa
thu và mùa đông các bệnh thấp hơn (13,23-23,52%).
3) Số lứa đẻ có ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của buồng
trứng của bò sữa :
Buồng trứng kém hoạt động tăng từ lứa 1 đến lứa 6 (7,35 – 20,58
%), thể vàng tồn lưu tăng từ lứa 1 đến lứa đẻ 6 (9,09-18,18%) và u nang
cũng tăng từ lứa 1 đến lứa đẻ 6 (5,71% -20,0%).
4) Thể trạng của bò sữa sau khi đẻ ảnh hưởng đến chức năng hoạt
động buồng trứng bò sữa :
- Thể trạng bò gầy (2,0-2,5) và bò béo, quá béo (3,5-4,5) đều ảnh