Thúc đẩy xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang Đài Loan. - Pdf 59

Đề án kinh tế thương mại
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
1
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
Đề án kinh tế thương mại
LỜI MỞ ĐẦU
Sau một năm hội nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, Việt Nam đã
đạt được nhiều thành công lớn, trong đó không thể không kể tới xuất khẩu rau
quả. Đó là một ngành chiếm tỉ trọng tương đối cao trong kim ngạch xuất khẩu
của nước ta. Đầu thập niên 90 nền kinh tế Việt Nam suy giảm mạnh do mất
thị trường xuất khẩu truyền thống ở các nước khối SEV. Từ năm 95 trở lại đây
xuất khẩu rau quả nước ta đã hồi phục và đạt được bước tăng trưởng đáng kể.
Với các điều kiện, thổ nhưỡng phù hợp với nhiều loại rau quả nhiệt đới, á
nhiệt đới và cả một số loại rau quả ôn đới. Cộng với thế mạnh là nguồn lao
động dồi dào rau quả của Việt Nam đã vươn tới hơn 50 quốc gia trên thế giới.
Nhằm xúc tiến và phát triển kinh tế thương mại Việt Nam đã bắt tay với nhiều
đối tác một trong số những số đó là Đài Loan.
Từ thập niên 1970 đến nay, Đài Loan lâm vào tình trạng cô lập trên
trường ngoại giao. Thời đó chỉ có chưa tới 30 nước còn duy trì mối quan hệ
với đảo quốc. Những thập niên gần đây nhờ kinh tế phát triển nhanh chóng
Đài Loan trở thành một trong những nước giàu nhất Á châu nên Đài Loan
đứng vào hàng “mãnh hổ kinh tế” ở vùng này. Hiện nay diễn đàn kinh tế thế
giới (WEF) xếp Đài Loan vào hàng thứ 3 về mức tăng trưởng cạnh tranh kinh
tế. Việt Nam và Đài Loan có mối quan hệ từ rất lâu, có nhiều nét tương đồng
và hiểu nhau khá rõ. Ngay sau khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO
các bạn hàng của Việt Nam nhìn nhận Việt Nam là một điểm đầu tư đặc biệt
thu hút. Trong đó các nhà làm luật Đài Loan tiến cử Việt Nam là nơi đầu tư lý
tưởng. Sau chuyến viếng thăm Việt Nam rồi tham dự diễn đàn kinh tế thương

Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa, có tiềm năng về phát triển rau
quả. Với 7 vùng sinh thái khác nhau, tạo điều kiện cho Việt Nam có khả năng
trồng luân canh nhiều loại rau và cây ăn quả phong phú, đa dạng.
Ở Trung du và miền núi phía Bắc có thể trông mận, hồng, đào, chuối, dứa,
vải, nhãn, súp lơ xanh, su hào,... Đồng bằng Sông Hồng thì trồng nhãn, cam,
na, quýt, các loại rau vụ đông: bắp cải, cà rốt,… Các loại rau mùa hè như: rau
đay, dưa chuột, các loại bí, mướp,… Đồng bằng Sông Cửu Long trồng vải,
nhãn, sầu riêng, xoài, dứa,…thanh long, trái bơ, chôm chôm, chuối, mít thì
được trồng chủ yếu ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.
Hiện nay nhiều vùng qui hoạch trồng rau quả đã được xác lập trong cả
nước. Việc chế biến cũng được đầu tư và nhiều mặt hàng được chế biến bằng
phương pháp cổ truyền như sấy, muối chua, muối mặn,… cũng như những
mặt hàng đồ hộp của Việt Nam đã có mặt ở nhiều nước trên thế giới. Với nền
công nghiệp mới, hiện đại hơn trước ngành rau quả đã có nhiều sản phẩm đa
dạng. Chúng ta đã sấy khô và đóng hộp các loại quả (mít, khoai môn, dứa,
chuối, nhãn, vải,…). Nước uống tưới đóng trong lon, chai, hộp giấy hoặc
được đóng vào can lớn, hộp lớn. Các loại sản phẩm muối và nước quả cô đặc
cũng rất được ưa thích.
Với nguồn cung vô cùng đa dạng, phong phú các nhà xuất khẩu của Việt
Nam không khó để thu mua các loại rau quả. Nhưng vấn đề đặt ra là phải xác
định đặc điểm rau quả từng thời vụ để lên kế hoạch thu mua sao cho tốt nhất,
số lượng nhiều nhưng giá mua lại là thấp nhất. Thông thường vào mùa vụ giá
4
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
Đề án kinh tế thương mại
cả các loại thường thấp, chất lượng và mẫu mã đều đạt yêu cầu. Tuy nhiên, có
không ít những đơn đặt hàng về các loại rau quả trái vụ, với mặt hàng này khả
năng dự trữ là thấp, khó có thể dự trữ lâu dài với số lượng lớn nên không đủ
khả năng để cung cấp cho Đài Loan. Từ đó cho thấy Việt Nam cần phải xác
định rõ nguồn hàng để cung cấp cùng với nguồn dự trữ của mình. Sau khi

Vải thiều là loại cây ăn quả được trồng phổ biến ở các tình phía Bắc nhất
là Bắc Giang, Hưng Yên. Sản lượng cho nhiều thích hợp cho việc tiêu dùng
nội địa nhưng khi chế biến thì quả vải đổi màu sau khi đóng hộp từ 2-3 tháng.
Do đó đòi hỏi ta phải tìm kiếm thị trường xuất khẩu từ trước. Nhãn thì hầu hết
các giống đang được trồng ở miền Nam và miền Bắc cho chất lượng và số
lượng tương đối cao. Một số địa phương như Hưng Yên đã tận dụng nguồn
này để chế biến nhiều sản phẩm thơm ngon, chất lượng đảm bảo đó là long
nhãn được rất nhiều nước trên thế giới ưa chuộng. Tuy nhiên, cùi nhãn mỏng
và hạt nhãn lại lớn, điều này gây ảnh hưởng tới chất lượng long nhãn khi chế
biến. Giống dứa phổ biến ở Việt Nam hiện nay là giống Queen Victoria cho
quả nhỏ năng suất thấp (trên dưới 10 tấn/ha). Nó rất phù hợp cho tiêu dùng
tươi. Giống dứa Cayen năng suất cao hơn đạt 50-60 tấn/ha. Nhiều nước và
quả thích hợp để chế biến đóng hộp thành dứa khoanh hoặc nước dứa ép, sản
phẩm chế biến ra rất thơm ngon được nhiều thị trường đặt mua. Các giống
chuối và cây có múi của Việt Nam cũng chỉ phù hợp với thị trường trong
nước, chứ chưa phù hợp xuất khẩu ra thị trường quốc tế vì kích thước, năng
suất, màu sắc, mùi vị còn chưa phù hợp. Bên cạnh đó nhiều nước trong khu
vực đã bằng cách này hay cách khác lấy giống một số loại hoa quả của Việt
Nam như thanh long, chỉ một vài năm gần đây Việt Nam đã bắt đầu nhập
nhiều giống chất lượng cao của các nước đối với một số cây ăn quả nhiệt đới
6
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
Đề án kinh tế thương mại
như xoài từ Thái Lan, Ôxtraylia, dứa, nhãn từ Trung Quốc và Thái Lan, hồng
từ Đài Loan.
Mặt hàng rau quả mang tính thời vụ điển hình, phụ thuộc rất nhiều vào
điều kiện tự nhiên. Nhất là các loại rau, nếu điều kiện tự nhiên tốt như mưa
thuận gió hòa, đất đai màu mỡ. Cho các loại rau đồng đều cả về số lượng lẫn
chất lượng mà giá cả lại rẻ. Nhưng nếu thời tiết bất ổn, kéo theo sự sụt giảm
về chất lượng rất mạnh. Trong khi đó hàng hóa đem đi xuất khẩu có những

khác nhau là điều rất khó. Vì vậy việc bảo quản gặp nhiều trở ngại, các loại
rau quả được thu thập từ nhiều địa phương, hầu hết là đa chủng loại. Trong
khi công nghệ bảo quản tại Việt Nam còn thấp, công nghệ chế biến còn lạc
hậu, chỉ được sơ chế chứ chưa thực sự được bảo đảm an toàn. Ảnh hưởng đến
các thành phần chất của sản phẩm. Đối với rau quả độ tươi được đánh giá rất
cao, tiếp theo là hương vị, hình dáng, màu sắc của sản phẩm. Tùy theo từng
mặt hàng cụ thể mà chúng ta có những hình thức bảo quản sao cho hợp lý.
Nước ta chủ yếu bảo quản rau quả theo những các sau:
 Bảo quản trên điều kiện thường: nghĩa là không bảo quản lạnh hay bất kỳ
cách xử lý nào khác ngoài hệ thống thông gió. Thường được áp dụng cho:
khoai tây, củ cải, cà rốt, cải bắp, chuối buồng…
 Bảo quản lạnh: kho lạnh phải đạt tiêu chuẩn trần và sàn nhà đều phải được
cách nhiệt tốt.
 Bảo quản bằng điều chỉnh khí quyển: phòng kho phải kín, lạnh hoặc không
lạnh, có hệ thống thông gió và cung cấp oxy, nitơ, cacbonic, với thiết bị đo
nhiệt độ, độ ẩm các khí này một cách tự động. Phương pháp này thường áp
dụng cho táo, lê, xà lách, cải bắp, măng tây,...
 Ngoài ra còn bảo quản rau quả tươi bằng hóa chất được phép sử dụng trong
đó có chất chống thối, mốc, chống nảy mầm,…
Riêng đối với rau quả chế biến có thể chia thành các nhóm sau:
8
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
Đề án kinh tế thương mại
 Sơ chế.
 Đông lạnh: tất cả các loại rau quả đều có thể xắt miếng cho vào bao bì thích
hợp bảo quản đông lạnh trong thời gian dài, vận chuyển đi xa.
 Sấy khô: sấy bằng không khí nóng, với các sản phẩm đặc trưng là táo, chuối,
mận, vải,… sấy thăng hoa áp lực cao có thể áp dụng với hầu hết các loại rau
quả.
 Sản phẩm muối: muối mặn, muối chua dùng cho: hành, cà, ngô, dưa chuột,

Theo số liệu của tổ chức nông lương quốc tế (FAO) nghiên cứu tại Trung
Quốc lượng tiêu thụ rau trên đầu người hàng năm ở thành thị cao hơn nông
thôn là 40kg. Các nước đang phát triển lại là nước đang trong quá trình đô thị
hóa do vậy đây là các thị trường đầy tiềm năng. Một thay đổi nữa đó là xu
hướng gia tăng nhu cầu đối với các sản phẩm trái vụ. Người tiêu dùng ở nhiều
nước phát triển sẵn sàng trả mức giá rất cao cho các sản phẩm trái vụ. Trong
vòng hai thập kỉ qua thương mại rau quả thế giới có bước phát triển mạnh mẽ.
Theo số liệu của FAO thị phần của rau quả xuất khẩu trong tổng thương mại
hàng nông sản toàn cầu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 11,7%.
Tỉ lệ tăng trưởng xuất khẩu cao nhất thuộc nhóm các sản phẩm phi truyền
thống như: xoài, khoai tây, cam, nấm, ngô ngọt, bơ... đều tăng ở mức 2 con số
trong suốt những năm vừa qua. Ngược lại cũng trong giai đoạn này tỷ lệ tăng
trưởng xuất khẩu của các phẩm truyền thống (chuối và quả có múi) giảm đi.
Các nước đang phát triển ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong xuất khẩu
rau quả, đặc biệt là rau quả phi truyền thống. Hiện nay các nước đang phát
triển chiếm khoảng 60% thị phần rau quả xuất khẩu trên toàn cầu.
1.2. Tầm quan trọng của xuất khẩu rau quả của Việt Nam
1.2.1. Sự cần thiết của xuất khẩu rau quả
Ngay từ thuở xa xưa con người đã tìm cho mình một loại thức ăn có sẵn
từ thiên nhiên, mang đầy giá trị dinh dưỡng và thực sự hữu ích cho sự phát
10
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
Đề án kinh tế thương mại
triển của cơ thể con người đó chính là rau quả. Cùng với bước tiến của thời
đại rau quả ngày càng khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của mình
đối với cuộc sống của con người nói chung và đối với sự phát triển của nền
kinh tế nói riêng. Đối với một số đất nước có không có điều kiện sản xuất rau
quả như: Nhật Bản, Nga và một số nước ở châu phi thì việc nhập khẩu rau
quả từ nước khác là không thể tránh khỏi. Trong khi đó nước ta là nước đi lên
từ nông nghiệp, đời sống nhân dân còn rất khó khăn, thiếu thốn nhưng lại có

trồng, hỗ trợ máy móc còn người nông dân sẽ bán sản phẩm cho doanh
nghiệp. Vì vậy mà hiệu quả kinh tế đã được tăng lên đáng kể. Thông qua xuất
khẩu sẽ giúp chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu thích ứng
với thay đổi, đòi hỏi của thị trường.
Theo đánh giá của các nhà kinh tế và các chuyên gia thì việc sản xuất và
xuất khẩu rau quả cho hiệu quả cao hơn so với các nông sản khác. Trong khi
các loại cây công nghiệp từ năm thứ 8 trở đi sẽ bắt đầu có lãi, thì với cây vải
thiều đến năm thứ 5 đã thu hồi vốn, và từ năm thứ 6 trở đi đã sinh lời. Mỗi
năm trên thế giới nhu cầu tiêu dùng rau quả tăng thêm 3,6%/năm; trong khi
đó cung chỉ tăng 2,8%/năm. Xuất khẩu đóng vai trò rất quan trọng vào việc
tăng thu ngân sách cho nhà nước. Mấy năm gần đây kim ngạch xuất khẩu liên
tục tăng nhanh. Đến năm 2008 nước ta dự kiến sẽ tăng 16,7% đạt 350 triệu
tấn. Với những điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển sản xuất và xuất khẩu
rau quả của Việt Nam thì chúng ta còn rất nhiều cơ hội để gia nhập, cạnh
tranh với thị trường thế giới.
 Xuất khẩu rau quả góp phần giải quyết công ăn, việc làm cho người lao động,
cải thiện đời sống người dân.
Với dân số hơn 81 triệu người trong đó hơn 50 triệu người đang ở độ tuổi
lao động, hàng năm lại có thêm 1,2 triệu người bước vào độ tuổi lao động.
12
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
Đề án kinh tế thương mại
Việt Nam là một trong những nước có lượng người lao động đông nhất trong
khu vực. Tuy nhiên lao động của chúng còn hạn chế về trình độ, lao động thủ
công là chính. Rau quả không như những mặt hàng có thể sản xuất quanh năm
mà nó có tính thời vụ, những người dân thất nghiệp trong lúc nông nhàn đều
kéo nhau lên thành phố để kiếm việc. Sản xuất mặt hàng rau quả xuất khẩu có
thể thu hút một lượng lớn lao động trong nước kể cả lao động có trình độ cao
và những lao động phổ thông đặc biệt là những lao động ở nông thôn. Sản
lượng xuất khẩu rau quả hàng năm càng cao thì càng tạo ra nhiều việc làm

khá cao, nhiều khi còn kèm theo cả gió mạnh, bão lụt đã gây ảnh hưởng khá
nhiều đến sản xuất nông nghiệp. Hơn thế Đài Loan lại là nơi thường xảy ra
động đất, tuy không gây thiệt hại nghiêm trọng tới người và của nhưng nó đã
gây thất thoát mùa màng. Có thể nói mặc dù thiên nhiên ít ưu đãi nhưnng bù
lại Đài Loan lại nhiều khoáng sản, vị thế địa hình thổ nhưỡng và thời tiết
không hoàn toàn thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Nhưng Đài Loan lại đi
lên bằng nông nghiệp. Sản phẩm nông lâm, ngư nghiệp của Đài Loan cũng rất
phong phú và đa dạng.
1.3.1. Khái quát về thị trường sản xuất, xuất khẩu Đài Loan
1.3.1.1. Về Kinh tế
Đài Loan là nước có nền kinh tế tư bản phát triển năng động. Tốc độ tăng
GDP thực tế trung bình đạt mức 8% trong suốt 3 thập kỷ qua. Tỷ lệ lạm phát
và thất nghiệp thấp; thặng dư thương mại tương đối ổn định, dự trữ nước
ngoài cao thứ 3 thế giới. Ngành nông nghiệp đóng góp 6% cho GDP; giảm so
với tỷ lệ 35% năm 1952, công nghiệp 35,8% và dịch vụ: 58,2%. Những ngành
tập trung nhiều lao động truyền thống đã dần chuyển ra nước ngoài và thay
thế bằng những ngành sản xuất có hàm lượng vốn và kỹ thuật cao. Đài Loan
vẫn là đối tác đầu tư chính của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa; Thái Lan;
Indonesia; Phiplippines; Malaysia; và Việt Nam.
Trải qua gần 5 thập kỷ hình thành và phát triển, Đài Loan đang chuyển
mình từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một cường quốc kinh tế và dẫn
14
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
Đề án kinh tế thương mại
đầu trong lĩnh vực sản xuất các sản phẩm công nghệ cao. Tuy nhiên với chính
sách hướng về xuất khẩu mà Đài Loan đang áp dụng hiện nay đã khiến cho
nền kinh tế nước này chịu ảnh hướng khá lớn từ những biến động từ bên
ngoài. Thu nhập bình quân đầu người năm 2005 của Đài Loan đạt mức 27.572
USD ngang với thu nhập trung bình của liên minh Châu Âu. Ngoại thương
được coi là động lực giúp cho Đài Loan đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế

văn phòng tại nước ngoài và vẫn là thành viên của 11 tổ chức quốc tế mang
tính chính phủ và 752 tổ chức quốc tế phi chính phủ.
- Ngày 11/11/2001 Đài Loan vẫn được kết nạp vào WTO, trở thành thành
viên thứ 144 của WTO. Sau khi gia nhập WTO, một trong những mục tiêu mà
Đài Loan nỗ lực để đạt được là trở thành thành viên của tổ chức Hàng không
Dân dụng quốc tế và tổ chức y tế thế giới.
- Đài Loan một mặt dựa vào thực lực kinh tế của mình, tích cực hoạt động
đối ngoại theo phương châm linh hoạt mềm dẻo nhằm tranh thủ công đồng
quốc tế nhìn nhận Đài Loan như là “một thực thể chính trị”, mặt khác Đài
Loan tăng cường hoạt động tại các tổ chức kinh tế quốc tế (như APEC,
OECD, WTO…) nhằm khẳng định thực lực kinh tế, nâng cao vai trò và vị trí
của Đài Loan trên trường quốc tế.
- Các nước phương Tây, nhất là Mỹ, Nhật, Tây Âu tuy không còn quan hệ
chính thức về mặt ngoại giao với Đài Loan, nhưng vẫn duy trì và đẩy mạnh
quan hệ không chính thức với Đài Loan về mặt kinh tế, văn hoá và quân sự
dưới nhiều hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp. Mỹ, Nhật vẫn là thị trường quan
trọng đối với Đài Loan. Kim ngạch mậu dịch Đài Loan - Mỹ năm 1993 đạt
trên 40 tỷ USD, chiếm 25% tổng kim ngạch mậu dịch của Đài Loan, trong đó
Đài Loan xuất siêu 9 tỷ (so với 12 tỷ năm 1992). Kim ngạch mậu dịch Đài
Loan - Nhật năm 1993 là 36 tỷ USD (Đài Loan nhập siêu 14 tỷ). Kim ngạch
mậu dịch giữa Đài Loan và Tây Âu năm 1993 là 26,4 tỷ, chiếm 26,4% tổng
kim ngạch mậu dịch của Đài Loan. Trong quan hệ với các nước phương tây,
16
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
Đề án kinh tế thương mại
Đài Loan đã tranh thủ được vốn đầu tư, khoa học kỹ thuật và công nghệ cao
của Mỹ, Nhật, Tây Âu.
Hoạt động sản xuất tại Đài Loan:
* Về rau: Hầu hết rau sản xuất ở Đài Loan chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu
thụ trong nước. Năm 2002, có khoảng 179.500 hecta đất canh tác được sử

tổng diện tích đất canh tác là 221.775 ha. Ngành sản xuất rau quả Đài Loan
phải chịu sức ép cạnh tranh mạnh mẽ từ các loại rau quả nhập khẩu kể từ khi
thuế nhập khẩu đối với các loại rau quả được giảm hoặc miễn hoàn toàn. Để
cạnh tranh được, nông dân Đài Loan đã áp dụng các công nghệ tiên tiến trong
chăm sóc cây trồng nhằm hiện đại hoá các hoạt động sản xuất và tiêu thụ.
Ngành sản xuất trái cây của Đài Loan đã trở thành một ngành công nghiệp
phát triển và mang lại lợi nhuận cao. Các vườn cây ăn quả cũng được đa dạng
hoá thành các khu du lịch sinh thái nhà vườn.
Chuối là sản phẩm nông nghiệp quan trọng của nhiều nước nhiệt đới và
cận nhiệt đới. Ở Đài Loan, việc trồng chuối cho mục đích thương mại thường
phân tán ở các hộ nông dân hoặc trên các trang trại nhỏ. Sản phẩm chủ yếu
phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Thị trường chính nhập
khẩu chuối của Đài Loan là Nhật Bản. Mùa thu hoạch chuối ở đây thường vào
khoảng từ tháng 3 đến tháng 5.
Một giống cây trồng khác cũng mang lại năng suất cao ở Đài Loan đó là
cam quýt. Trồng cam quýt ở nước này bắt đầu từ đầu thế kỷ 17. Một số giống
cây có múi như cam Ponkan, Tankan, Liucheng, bưởi Wentan, Hailikan là do
người nhập cư từ Đại Lục Trung Quốc mang vào Đài Loan. Suốt thời gian
Nhật chiếm đóng, khoảng 6.000 ha diện tích đất nông nghiệp ở Đài Loan
được dành để trồng cam quýt, với sản lượng hàng năm đạt gần 40.000 tấn.
Khoảng ¼ sản lượng cam quýt thu hoạch được dành để xuất khẩu. Thị trường
nhập khẩu chính các loại hoa quả này của Đài Loan là Trung Quốc Đại Lục,
Nhật và Hàn Quốc. Trong thế chiến thứ 2, xuất khẩu cam quýt của Đài Loan
18
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
Đề án kinh tế thương mại
bị ngưng lại và nhiều vườn cam được chuyển sang trồng các vụ mùa khác.
Năm 1945, khi Đài Loan nằm dưới quyền quản lý của Trung Quốc, diện tích
trồng cam quýt là 4000 ha, sản lượng hàng năm đạt trên 20.000 tấn. Trong
giai đoạn từ năm 1945 tới 1990, diện tích trồng cam tăng chậm. Nguyên nhân

Wentan:là một loại bưởi có eo, khi chín có màu vàng xanh hơi ngả sang xám.
1.3.1.2. Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam - Đài Loan
- Kể từ khi Việt nam tiến hành cải cách và mở cửa, Thương gia Đài Loan
đến Việt nam đầu tư nhiều như quy hoạch xây dựng khu đô thị Nam Sài gòn,
Khu chế xuất Tân Thuận, nhà máy điện Hiệp Phước, Nhà máy của Vedan, xe
máy Chinfon, Xi măng Chinfon, thức ăn gia súc, liên doanh Việt Nam Đài
đường. Các tập đoàn công ty xí nghiệp lớn của Đài Loan đã đầu tư vào Việt
Nam như: Formosa, Mậu Khai TW, Thép Đài Loan, Tập đoàn Trường Vinh,
Chinfon, Vedan, Đài Đường, Công ty dầu khí Đài Loan, Tập đoàn thức ăn chăn
nuôi Thống nhất và đến ngàn xí nghiệp vừa và nhỏ trong các lĩnh vực sản xuất
giầy, may mặc, thực phẩm chế biến đã đầu tư vào Việt Nam. Nhiều Ngân hàng
lớn của Đài Loan đã được phép mở chi nhánh tại Việt Nam như Ngân hàng Đệ
Nhất, China Trust, ChinFon nhằm phục vụ thương nhân Đài Loan đầu tư và
kinh doanh tại Việt Nam. Formosa là một tập đoàn hoá dầu hàng đầu của Đài
Loan đã thuê 300 ha đất đầu tư vào Nhơn Trạch Đồng Nai, vốn đầu tư giai
đoạn đầu 260 triệu USD, nay đã tăng lên 480 triệu USD nếu lấp đầy khu công
nghiệp vốn đầu tư lên 2,6 tỷ USD và chắc chắn sẽ kéo theo nhiều doanh nghiệp
Đài Loan sử dụng nguyên liệu của tập đoàn này đầu tư vào Việt Nam.
* Kim ngạch mậu dịch hai bên:
Năm 2002 kim ngạch mậu dịch hai chiều Việt Nam Đài Loan đạt 3,49 tỷ
USD, tăng 18,5% so với năm 2001, Việt Nam nhập siêu 1,7248 tỷ USD. Đài
20
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
Đề án kinh tế thương mại
Loan là đối tác thương mại thứ 4 của Việt Nam xếp sau Nhật, Xingapo và
Trung Quốc. Năm 2003 kim ngạch mậu dịch hai chiều Việt nam Đài Loan đạt
3,665 tỷ USD. Việt Nam xuất: 749 triệu USD và nhập: 2,916 tỷ USD Việt
Nam nhập siêu: 2,167tỷ USD. Hai tháng đầu năm 2004, kim ngach xuất nhập
khẩu đạt gần 500 triệu USD. Việt Nam nhập siêu gần 300 triệu USD. Tăng
trưởng xuất nhập khẩu hai chiều tăng bình quân 10- 15%/năm.

tầng khá hơn. Tỷ lệ giải ngân cao so với tỷ lệ giải ngân trung bình.
1.3.2. Các qui định về nhập khẩu của Đài Loan
Hàng hoá nhập khẩu vào Đài Loan tuân theo Luật Ngoại thương: Hệ
thống thuế nhập khẩu của Đài Loan dựa trên hệ HS, bao gồm 10.228 mặt
hàng, trong đó 9.958 mặt hàng được phép nhập khẩu (hơn 97%). Trong đó có
9.679 mặt hàng (khoảng 94%) có thể nhập khẩu không cần giấy phép. Đơn
xin cấp phép của 549 mặt hàng là do Bộ Ngoại thương (BOFT) cấp. 143 mặt
hàng còn lại phải có thêm một số thủ tục khác như của ngân hàng trước khi
được BOFT chấp thuận.
Chính sách nông nghiệp của Đài Loan dựa vào 2 nguyên tắc cơ bản, phân
bổ công bằng của cải và sử dụng tối ưu đất đai. Bốn mục tiêu của các chính
sách là: (1) bảo đảm an ninh lương thực bằng việc sử dụng đất đai tối ưu; (2)
cải thiện điều kiện sống và phúc lợi nông thôn; (3) tăng thu nhập cho nông
dân và giảm khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị; (4) đẩy
mạnh việc bảo tồn tự nhiên và duy trì đất chăn nuôi trồng trọt. Xét riêng cho
mặt hàng rau hoa quả, hiện nay một số chính sách liên quan đến mặt hàng này
được đề cập cụ thể dưới đây:
a, Chính sách thuế và phi thuế.
Sau khi gia nhập WTO, Đài Loan đã thực hiện mở cửa thị trường nông
sản theo các cam kết WTO. Do việc cấm nhập khẩu không phù hợp với các
22
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
Đề án kinh tế thương mại
nguyên tắc của WTO về không phân biệt đối xử nên 18 loại sản phẩm nông
nghiệp bị cấm trước đây sẽ được nhập khẩu mà không có các hạn chế phi
thuế, trong đó có các sản phẩm rau quả như: quả mâm xôi, vải, cam, chanh và
các loại cam chanh, bưởi, nho, đào, mận, táo, các loại quýt tươi, khoai tây, đu
đủ. Mức thuế áp dụng cho các sản phẩm này dao động từ 20 đến 40%.
Các loại rau quả như lê, tỏi củ, hạt trầu không, đậu adzuki, nấm khô, bưởi,
nho khô và quả nho, dừa non, chuối, dứa, xoài, hồng, hoa ly khô được nhập

tiêu chuẩn trên sẽ không được phép đưa vào Đài Loan.
24
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
Đề án kinh tế thương mại
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU RAU QUẢ
CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG ĐÀI LOAN
2.1. Lợi thế của Việt Nam về sản xuất và xuất khẩu rau quả
2.1.1. Lợi thế về khí hậu
Đặc trưng của khí hậu nước ta là khí hậu gió mùa, nhiều nắng, nhiều mưa,
độ ẩm trung bình tương đối cao. Việt Nam có khí hậu nhiệt đới ở Miền Nam
có 2 mùa (mùa mưa ở giữa tháng 5 đến giữa tháng 9 và mùa khô từ giữa
tháng 10 đến giữa tháng 3) và khí hậu gió mùa ở Miền Bắc với 4 mùa rõ rệt
(mùa xuân, mùa hè, mùa thu và mùa đông). Do nằm dọc theo bờ biển, khí hậu
Việt Nam được điều hòa một phần bởi các dòng biển mang nhiều yếu tố khí
hậu biển. Độ ẩm tương đối trung bình là 84%/năm. Hàng năm lượng mưa từ
1200 đến 3000mm và nhiệt độ từ 5°C đến 37°C. Chính vì Việt Nam nằm
trong vành đai khí hâụ nhiệt đới gió mùa ẩm nên khí hậu là một điều kiện hết
sức thuận lợi để trồng nhiều loại cây rau, cây ăn quả có giá trị cao. Khí hậu ở
mỗi vùng, mỗi miền là khác nhau đã hình thành các vùng sinh thái nông
nghiệp khác nhau. Khí hậu ba miền phân biệt rõ ràng: mùa đông lạnh ở Miền
Bắc có khả năng cung cấp các loại rau quả ôn đới cho thị trường nhiệt đới như
Singapore, Malaysia, Philippine... Khí hậu kiểu Tây Nam Á ở Tây Nguyên,
Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long thì lại tập trung các loại quả có
nguồn gốc nhiệt đới. So với các quốc gia như Mỹ, Nga , EU, Nhật Bản ... thì
Việt Nam có lợi thế hơn nhiều. Với điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi Việt
Nam có thể sản xuất và cung cấp rau quả tươi xanh quanh năm, tận dụng mùa
vụ mà nguồn cung cấp nội địa của các nước do hạn chế về thời tiết để xuất
khẩu sang thì chắc chắn sẽ thành công.
2.1.2. Lợi thế về nguồn nước
Việt Nam nằm ở trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng lắm, mưa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status