+
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------
ĐÀO THỊ HỒNG NGỌC
PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ
THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VIỆT NAM– CHI NHÁNH TỪ LIÊM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội, Năm 2017
+
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------
ĐÀO THỊ HỒNG NGỌC
PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ
THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
+
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT
Chữ viết tắt
Nghĩa đầy đủ
Tiếng Anh
Customer
Letter of Credit
Bank
Nominated Bank
1
2
3
4
KH
L/C
NH
NHđCĐ
5
NHNO&PTNT Agribank
6
7
8
Phát Triển Nông Thôn
Ngân hàng thông báo
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng xác nhận
Quan hệ khách hàng
Quan hệ quốc tế
Advising Bank
Commercial Bank
Confirming Bank
Society
11
Tiếng Việt
Khách hàng
Thư tín dụng
Ngân hàng
Ngân hàng được chỉ định
Ngân hàng Nông Nghiệp và
International
Worldwide
Finance
Tổ chức viễn thông tài chính
liên ngân hàng quốc tế
Telecommunication
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài luận văn
Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ hiện rất phổ
biến trên thế giới và được rất nhiều người quan tâm, nghiên cứu. Sau quá trình tìm
hiểu, tôi xin tổng quan một số công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài như sau:
1.1 Nguyễn Thị Quy (2003), Thanh toán quốc tế bằng L/C
– Các tranh chấp thường phát sinh và cách giải quyết, NXB
Chính trị Quốc Gia.
Tác giả đã tổng hợp các dạng tranh chấp thường phát sinh trong TTQT bằng
thư tín dụng (L/C) dước góc độ các doanh nghiệp có kinh doanh xuất nhập khẩu,
phân tích các nguyên nhân dẫn đến tranh chấp và gợi ý một số biện pháp nhằm giúp
các doanh nghiệp giảm thiểu các rủi ro cũng như giải quyết tranh chấp một cách
hiệu quả.
1.2 Lại Ngọc Quý (2000), Những vấn đề cơ bản nhằm
hoàn thiện các nghiệp vụ thanh toán quốc tế của hệ thống
ngân hàng thương mại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế,
Học Viện Ngân hàng.
Tác giả đã trình bày tổng quan về những nghiệp vụ thanh toán quốc tế, những
tồn tại trong hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam,
từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các nghiệp vụ thanh toán quốc tế của
hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam.
1.3 Võ Thị Thuỷ Tiên (2009) Một số giải pháp phát triển dịch vụ thanh
+ 8
+
toán quốc tế cho Sacombank chi nhánh Đồng Nai , Tạp chí khoa học – đào
tạo.
Từ việc thu thập, tổng hợp, phân tích các số liệu được ngân hàng Sacombank
Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân.
Nghiên cứu hệ thống hoá những vấn đề lí luận về phát triển hoạt động thanh
toán quốc tế của ngân hàng thương mại, phân tích thực trạng phát triển hoạt động
thanh toán quốc tế qua các năm của Vietcombank Đắk Lắk qua đó rút ra những kết
quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân.
+ 10
+
1.8 Nguyễn Hương Lan (2011), Giải pháp phát triển hoạt động TTQT tại
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Đại học
Ngoại thương.
Luận văn đã hệ thống hóa đầy đủ lý luận về hoạt động TTQT cũng như các
nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này. Phân tích thực trạng hoạt động TTQT tại
Vietcombank, cụ thể trong phương thức tín dụng chứng từ và các phương thức
khác. Đề xuất được một số giải pháp cụ thể cho việc phát triển hoạt động TTQT tại
Vietcombank trong giai đoạn tới.
1.9 Trương Minh Trung (2011), Chiến lược Marketing cho dịch vụ thanh
toán quốc tế tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Sacombank, Luận
văn Thạc sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế TP.HCM.
Nghiên cứu khái quát được những lý luận cơ bản về dịch vụ và Marketing dịch
vụ, phân tích môi trường kinh doanh của Sacombank trong giai đoạn thị trường tài
chính Việt Nam đang mở cửa cho các ngân hàng nước ngoài tham gia hoạt động.
Chỉ rõ những sức ép mà Sacombank phải đối mặt trong giai đoạn này. Từ đó xây
dựng chiến lược Marketing cho dịch vụ thanh toán quốc tế, một dịch vụ được xem
là có tiềm năng rất lớn vì kim ngạch xuât nhập khẩu của Việt Nam đã tăng rất mạnh
trong những năm gần đây và hứa hẹn sẽ còn tăng mạnh hơn nữa trong tương lai.
1.10 Trần Nguyễn Hợp Châu (2015), Nâng cao năng lực thanh toán quốc
tế của các ngân hàng thương mại việt nam, Bài báo nghiên cứu khoa học, Tạp
chí Khoa học và đào tạo Ngân hàng.
Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Từ Liêm”. Nghiên cứu không trùng lặp
với các công trình nghiên cứu trước đó.
2. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới thì
hoạt động thanh toán quốc tế đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh
tế của đất nước. Một quốc gia không thể phát triển với chính sách đóng cửa, chỉ dựa
vào tích luỹ trao đổi trong nước mà phải phát huy lợi thế so sánh, kết hợp với sức
mạnh trong nước với môi trường kinh tế quốc tế. Trong bối cảnh hiện nay, khi các
quốc gia đều đặt kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, coi hoạt động kinh tế đối ngoại là
con đường tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước thì vai trò của hoạt
động thanh toán quốc tế ngày càng được khẳng định.
+ 12
+
Thanh toán quốc tế là một phần không thể thiếu trong hoạt động kinh tế quốc
dân. Thanh toán quốc tế là khâu quan trọng của giao dịch mua bán hàng hóa, dịch
vụ giữa các cá nhân, tổ chức thuộc các quốc gia khác nhau, góp phần giải quyết mối
quan hệ hàng hoá tiền tệ, tạo nên sự liên tục của quá trình sản xuất và đẩy nhanh
quá trình lưu thông hàng hoá trên phạm vi quốc tế. Nếu hoạt động thanh toán quốc
tế được tiến hành nhanh chóng, an toàn sẽ giúp cho quan hệ lưu thông hàng hoá tiền
tệ giữa người mua và người bán diễn ra trôi chảy, hiệu quả hơn.
Trong thanh toán quốc tế, việc các bên tham gia lựa chọn phương thức thanh
toán là một điều kiện rất quan trọng. Tuỳ theo những hoàn cảnh và điều kiện cụ thể,
các bên tham gia trong thương mại quốc tế sẽ lựa chọn và thoả thuận với nhau, cùng
sử dụng một phương thức thanh toán thích hợp trên nguyên tắc cùng có lợi, người
bán thu được tiền nhanh và đầy đủ, người mua nhập hàng đúng số lượng, chất lượng
và đúng hạn. Để phù hợp với tính đa dạng và phong phú của mối quan hệ thương mại
và thanh toán quốc tế, người ta đã thiết lập nhiều phương thức thanh toán khác nhau.
Trong thực tế, khi các bên mua bán chưa có sự tín nhiệm nhau thì thanh toán tín
Agribank Từ Liêm qua các năm, tài liệu bên ngoài: báo cáo tổng kết của Ngân hàng
Nhà Nước, website của một số ngân hàng khác… các dữ liệu trích dẫn sẽ được ghi
chú chi tiết trong tài liệu tham khảo.
• Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp suy luận (suy luận từ
các mô hình, các lý thuyết có sẵn nhằm luận giải các vấn đề đặt ra trong thực tiễn
tại chi nhánh).
Phương pháp sử dụng trong phân tích chủ yếu là phương pháp phân tích thực
tế. Dựa trên những kinh nghiệm từ những tình huống đã phát sinh thực tế ở một số
ngân hàng, rút ra bài học cần thiết vận dụng trong công việc.
Phương pháp xử lý thông tin: tác giả sử dụng các phương pháp thống kê như:
tổng hợp, phân tích, so sánh theo năm, theo kế hoạch và thực hiện dựa trên cơ sở số
liệu thống kê của NHNo&PTNT Việt Nam.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Phát triển thanh toán quốc tế theo phương thức tín
dụng chứng từ của NHTM.
+ 14
+
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về tình hình phát triển
hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân Hàng
Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam – Chi nhánh Từ Liêm.
Mốc thời gian nghiên cứu: Từ năm 2014 đến năm 2016.
6. Kết cấu luận văn
Luận văn kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển hoạt động thanh toán quốc tế
theo phương thức tín dụng chứng từ của ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động thanh toán quốc tế theo phương
thức tín dụng chứng từ tại Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt
rất nhiều loại hàng hoá cần thiết cho sản xuất và tiêu dùng. Kết quả là, một nước sẽ
nhập khẩu những hàng hoá với giá rẻ, đồng thời xuất khẩu những hàng hoá có ưu
thế về năng suất lao động. Quá trình tiến hành mua bán, trao đổi hàng hóa tất yếu
nảy sinh những nhu cầu chi trả, thanh toán tiền tệ giữa các chủ thể ở các quốc gia
khác nhau. Từ đó nảy sinh nhu cầu thực hiện các hoạt động thanh toán quốc tế.
Thanh toán quốc tế đã ra đời từ lâu, nhưng nó mới chỉ phát triển mạnh mẽ vào
cuối thế kỷ 20 khi mà khối lượng mua bán, đầu tư quốc tế và chuyển tiền quốc tế
ngày càng gia tăng, từ đó làm cho khối lượng các giao dịch thanh toán qua ngân
hàng cũng tăng theo. Việc thanh toán qua ngân hàng làm gia tăng việc sử dụng đồng
tiền của các nước để chi trả lẫn nhau. Thanh toán quốc tế đã trở thành một bộ phận
không thể thiếu trong hoạt động của nền kinh tế của các quốc gia hiện nay.
1.1.1.2.
Khái niệm thanh toán quốc tế
Thanh toán quốc tế có thể được định nghĩa từ theo nhiều quan điểm khác nhau:
Theo Đinh Xuân Trình (1996), thanh toán quốc tế là việc thanh toán các nghĩa
vụ tiền tệ phát sinh có liên quan tới các quan hệ kinh tế, thương mại và các mối quan
hệ khác giữa các tổ chức, các công ty và các chủ thể khác nhau của các nước.
Theo Trầm Thị Xuân Hương (2006), thanh toán quốc tế là quá trình thực hiện
các khoản thu chi tiền tệ quốc tế thông qua hệ thống ngân hàng trên thế giới nhằm
phục vụ cho các mối quan hệ trao đổi quốc tế phát sinh giữa các nước với nhau.
+ 16
+
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi
về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức,
cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ
chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan.
+ 17
+
TTQT làm tăng cường các mối quan hệ giao lưu kinh tế giữa các quốc gia,
giúp cho quá trình thanh toán diễn ra nhanh chóng, an toàn, tiện lợi và giảm bớt chi
phí cho các chủ thể tham gia. Bên cạnh đó, hoạt động TTQT làm tăng khối lượng
thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế, đồng thời thu hút một lượng kiều
hối đáng kể vào Việt Nam.
b. Đối với ngân hàng thương mại
Khi giao thương, không phải lúc nào người mua, người bán cũng có thể thanh
toán tiền hàng trực tiếp cho nhau, họ tìm đến NHTM với mạng lưới chi nhánh và hệ
thống ngân hàng đại lý rộng khắp toàn cầu, thay mặt họ thực hiện dịch vụ TTQT.
Các ngân hàng trở thành cầu nối trung gian thanh toán giữa hai bên mua và bên bán.
Với vai trò này, ngân hàng tiến hành thanh toán theo yêu cầu của KH, bảo vệ
quyền lợi cho KH, tư vấn, hướng dẫn KH những nghiệp vụ TTQT nhằm hạn chế rủi
ro, tạo sự tin tưởng cho KH trong quan hệ giao dịch mua bán với nước ngoài. Mặt
khác trong quá trình thực hiện TTQT, KH không đủ năng lực về vốn sẽ cần đến sự
tài trợ của ngân hàng, ngân hàng sẽ thực hiện tài trợ xuất nhập khẩu cho khách hàng
một cách chủ động và tích cực.
Tóm lại trong hoạt động kinh tế đối ngoại của quốc gia, hệ thống ngân hàng
tham gia đóng vai trò trung tâm trong hầu hết các giai đoạn như: Thanh toán quốc
tế, tài trợ xuất nhập khẩu, mua bán ngoại tệ, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại
thương... Thanh toán giữa các nước sẽ được thực hiện thông qua ngân hàng và vai
trò của ngân hàng trong TTQT chính là chất xúc tác, là cầu nối, là điều kiện để đảm
bảo an toàn và hiệu quả cho các bên tham gia hoạt động xuất nhập khẩu, đồng thời
tài trợ cho các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu.
1.1.1.4.
Các điều kiện trong thanh toán quốc tế
Điều kiện về tiền tệ:
toán của nước nào thì địa điểm thanh toán thường là nước ấy.
Điều kiện về thời gian thanh toán:
Điều kiện thời gian than toán là điều kiện quy định khi nào NNK phải thanh
toán tiền cho NXK. Thời gian thanh toán gồm: thanh toán trước, thanh toán ngay,
thanh toán sau và thanh toán hỗn hợp. Việc trả tiền thường được quy định mốc thời
gian là mốc thời điểm giao hàng (thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa).
Tuỳ theo tính chất của hợp đồng, tính chất của loại hàng hoá mà điều kiện thời gian
thanh toán sẽ được hai bên thoả thuận cụ thể.
Điều kiện về phương thức thanh toán:
Điều kiện về phương thức thanh toán quy định NXK dùng cách nào để thu tiền
về, NNK dùng cách nào để trả tiền. Hiện nay, có rất nhiều phương thức thanh toán
khác nhau, thể hiện bên nào sẽ đảm bảo trách nhiệm về chi phí, cũng như rủi ro cả
hàng hoá. Việc thanh toán thường được thực hiện với NH đóng vai trò trung gian.
1.1.1.5.
Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu
Phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quá trình điều kiện quy định để
người mua trả tiền và nhận hàng, còn người bán nhận tiền và giao hàng trong
thương mại quốc tế. Trên thực tế, có nhiều phương thức thanh toán khác nhau
nhưng các NHTM Việt Nam hiện nay chủ yếu đang áp dụng các phương thức thanh
toán quốc tế như sau:
+ 19
+
Phương thức chuyển tiền (Remittance)
Chuyển tiền là phương thức thanh toán trong đó khách hàng (người chuyển
tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho người thụ
hưởng ở một địa điểm và trong một thời gian nhất định. Có hai hình thức chuyển
diện hơn. Tuy nhiên mức độ phụ thuộc hoàn toàn vào nội dung các chỉ thị và những
gì mà người bán uỷ quyền cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ. Và cho dù ngân
hàng tham gia quá trình nhờ thu, nhưng nếu không có sự đồng ý rõ ràng, thì trong
tất cả các loại nhờ thu, ngân hàng không có bất kỳ bảo lãnh thanh toán nào cho
người mua và bảo lãnh thực hiện hợp đồng nào cho người bán. Sự tham gia của
ngân hàng nhằm trợ giúp cho thương mại quốc tế có được một trật tự cần thiết và
giúp cho nhờ thu trở thành phương thức thanh toán hiệu quả hơn so với trường hợp
không có ngân hàng tham gia.
Phương thức ứng trước (Advance Payment)
Người mua chấp nhận giá hàng của người bán và chuyển tiền thanh toán cùng
với đơn đặt hàng chắc chắn (không huỷ ngang), nghĩa là việc thanh toán xảy ra
trước khi hàng hoá được người bán gửi đi.
Phương thức này rất có lợi cho NXK vì được thanh toán trước, tuy nhiên gây
rẩt nhiều rủi ro cho nhà nhập khẩu. Sau khi nhận tiền, nhà xuất khẩu có thể chủ tâm
không giao hàng, giao hàng thiếu,…
Phương thức ghi sổ (Open Account)
Là phương thức thanh toán, trong đó quy định rằng người ghi sổ sau khi hoàn
thành nghĩa vụ của mình đã được quy định trong hợp đồng sẽ mở một quyển sổ ghi
nợ để ghi nợ người được ghi bằng một đơn vị tiền tệ nhất định và đến từng thời kỳ
theo thoả thuận (tháng, quý, năm) người được ghi sổ sẽ sử dụng phương thức
chuyển tiền để thanh toán cho người ghi sổ.
Bản chất của ghi sổ là mua chịu hàng nên phương thức này sẽ có lợi cho người
mua nhưng rất rủi ro cho người bán. Sau khi nhận hàng hóa, người mua có thể không
thanh toán hoặc không thể thanh toán hoặc chủ tâm trì hoãn kéo dài thời gian thanh
toán,…
Phương thức tín dụng chứng từ (Letter of credit)
Đây là phương thức quan trọng và chủ yếu tại NHTM hiện nay. TDCT được
gọi với nhiều tên khác nhau như: Letter of Credit, Credit, Document Credit. Ở Việt
L/C phải có sự đồng ý ít nhất của ba bên (NNK, NXK, NHPH).
1.1.2.2.
Đặc trưng của phương thức tín dụng chứng từ
L/C là hợp đồng kinh tế hai bên
Thực tế L/C là hợp đồng kinh tế độc lập chỉ của hai bên là NHPH và người thụ
hưởng, mọi yêu cầu và chỉ thị của người xin mở L/C đã do NHPH đại diện, do đó,
tiếng nói chính thức của người xin mở L/C không được thể hiện trong L/C. Và bất
kỳ một sự sửa đổi L/C đã được người XK và người NK đồng ý, nhưng nếu NHPH
+ 22
+
không chấp nhận thì sửa đổi đó sẽ không bao giờ trở nên có giá trị.
L/C độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hóa
L/C có tính chất rất quan trọng, nó hình thành trên cơ sở của hợp đồng ngoại
thương, nhưng sau khi được thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng này.
Một khi L/C đã được mở và đã được các bên chấp nhận, thì cho dù nội dung của
L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không, cũng không làm thay đổi quyền
lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan đến L/C.
L/C chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ
Các ngân hàng, chỉ trên cơ sở chứng từ, kiểm tra việc xuất trình để quyết định
xem trên bề mặt của chứng từ có tạo thành một xuất trình phù hợp hay không. Việc
nhà xuất khẩu có thu được tiền hay không, phụ thuộc duy nhất vào xuất trình chứng
từ có phù hợp; đồng thời, ngân hàng cũng chi trả tiền khi bộ chứng từ xuất trình phù
hợp, nghĩa là ngân hàng không chịu trách nhiệm về sự thật của hàng hoá mà bất kỳ
chứng từ nào đại diện.
Khi chứng từ xuất trình là phù hợp, thì NHPH phải thanh toán vô điều kiện
cho nhà xuất khẩu, mặc dù trên thực tế hàng hoá có thể không được giao hoặc được
L/C không thể huỷ ngang (Irrevocable L/C)
Là loại L/C mà sau khi đã mở, thì NHPH không sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ
trong thời hạn hiệu lực của L/C nếu không có sự đồng thuận của người thụ hưởng và
NHXN (nếu có). Vì quyền lợi của người xuất khẩu được đảm bảo nên loại L/C này
được sử dụng phổ biến nhất hiện nay trong thanh toán quốc tế. Một L/C không ghi chữ
“Irrevocable” thì vẫn được coi là không huỷ ngang, trừ khi nó nói rõ là có thể huỷ
ngang.
Theo phương thức sử dụng người ta phân chia L/C thành nhiều loại khác nhau
L/C không huỷ ngang có xác nhận (Congirmed Irrevocable L/C)
Là L/C không thể huỷ bỏ, theo yêu cầu của NHPH, một ngân hàng khác xác
nhận trả tiền cho L/C này, trách nhiệm trả tiền L/C của NHXN là giống như NHPH,
do đó NHPH phải trả phí xác nhận và thường là phải ký quỹ tại NHXN. Tỷ lệ ký
quỹ có khi lên tới 100% trị giá của L/C.
Do có hai ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền, nên L/C này là loại L/C đảm
bảo nhất cho nhà xuất khẩu. Và nhu cầu xác nhận L/C tuỳ thuộc vào mức độ tín
nhiệm và tình hình tài chính của NHPH, vào tình hình kinh tế chính trị của quốc gia
nơi NHPH có trụ sở.
+ 24
+
L/C chuyển nhượng (Tranferable L/C)
Là L/C không huỷ ngang, theo đó, người hưởng lợi thứ nhất chuyển nhượng
một phần hay toàn bộ nghĩa vụ thực hiện L/C cũng như quyền đòi tiền mà mình có
được cho những người hưởng lợi thứ hai, mỗi người hưởng lợi thứ hai cho mình
một phần của thương vụ.
L/C chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng một lần và chi phí chuyển
nhượng thường do người hưởng lợi ban đầu chịu, được sử dụng khi người hưởng lợi
thứ nhất không tự cung cấp được hàng hoá mà chỉ là một người môi giới, sự chuyển
nhượng phải được thực hiện theo L/C gốc.
-
Tuần hoàn hạn chế: Là chỉ khi nào NHPH thông báo cho người bán thì L/C
kế tiếp mới có hiệu lực.
L/C dự phòng (Standby L/C)
Để bảo vệ quyền lợi của nhà nhập khẩu trong trường hợp nhà xuất khẩu đã
nhận được L/C, tiền đặt cọc và tiền ứng trước nhưng không có khả năng giao hàng,
hoặc không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng như đã quy định trong L/C, đòi hỏi ngân
hàng phục vụ nhà xuất khẩu phát hành một L/C trong đó cam kết với người nhập
khẩu là sẽ hoàn trả lại số tiền đã đặt cọc, tiền ứng trước và chi phí mở L/C cho nhà
nhập khẩu. Một L/C như vậy gọi là L/C dự phòng.
L/C đối ứng (Reciprocal L/C)
L/C chỉ bắt đầu có hiệu lực khi L/C kia đối ứng với nó được mở, trong hai L/C
sẽ có một L/C mở trước phải ghi: “L/C này chỉ có hiệu lực khi người hưởng lợi đã
mở lại một L/C đối ứng cho người mở L/C này hưởng”; và trong
L/C
đối
ứng
phải ghi câu: “L/C này đối ứng với L/C số...mở ngày...tại ngân hàng...”
L/C điều khoản đỏ (Red Clause L/C)
Là L/C mà NHPH cho phép NHTB ứng trước cho người thụ hưởng để mua
hàng hoá, nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng hoá theo L/C đã mở. Điều cần hiểu là
tiền ứng trước được lấy từ tài khoản của người mở, nghĩa là tín dụng thương mại,
mà không phải là tín dụng của NHTB hay NHPH. NHTB chỉ thực hiện các thủ tục
theo điều khoản của L/C mà không cam kết hoặc chịu trách nhiệm về số tiền đó. Sau