I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
INH SểNG HI
Các hình thức đồng phạm
trong Luật hình sự Việt Nam
(trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang)
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2016
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
INH SểNG HI
Các hình thức đồng phạm
trong Luật hình sự Việt Nam
(trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: TS. Lấ LAN CHI
H NI - 2016
1.1.1.
Khái niệm đồng phạm ........................................................................ 6
1.1.2.
Khái niệm hình thức đồng phạm ..................................................... 11
1.2.
Ý nghĩa, cơ sở phân loại, nội dung phân loại các hình thức
đồng phạm ...................................................................................... 16
1.2.1.
Ý nghĩa, cơ sở phân loại các hình thức đồng phạm......................... 16
1.2.2.
Nội dung phân loại các hình thức đồng phạm ................................. 19
1.3.
Đồng phạm và các hình thức đồng phạm theo pháp luật
quốc tế ............................................................................................. 39
Kết luận Chương 1 ........................................................................................ 44
Chương 2: THỰC TIỄN PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
VỀ CÁC HÌNH THỨC ĐỒNG PHẠM TẠI TỈNH HÀ
GIANG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
hình thức đồng phạm ....................................................................... 70
2.3.2.
Các giải pháp khác nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định
của Bộ luật hình sự Việt Nam năm về các hình thức đồng phạm ... 78
Kết luận Chương 2 ........................................................................................ 81
KẾT LUẬN .................................................................................................... 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 84
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS:
Bộ luật hình sự
PLHS:
Pháp luật hình sự
TNHS:
Trách nhiệm hình sự
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
phạm có thông mưu trước, đồng phạm không có thông mưu trước; đồng phạm
giản đơn và đồng phạm phức tạp. Ngoài ra còn có một trường hợp đặc biệt về
đồng phạm, đó là đồng phạm có tổ chức – phạm tội có tổ chức. Trong các
hình thức đồng phạm thì chỉ đồng phạm có tổ chức là tình tiết tăng nặng và
tình tiết định khung hình phạt. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, hình thức
đồng phạm có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định mức độ lỗi, mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Trên cơ sở phân hóa các hình thức
đồng phạm, cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá đúng đắn hơn, toàn diện hơn
tính chất của trường hợp phạm tội, của vụ án và phân hóa vị trí, vai trò, trách
nhiệm hình sự của cá nhân người phạm tội trong vụ án có đồng phạm.
Tuy vậy, thực tiễn công tác điều tra, truy tố và xét xử cho thấy nhận
thức về đồng phạm nói chung và hình thức đồng phạm nói riêng hiện nay
1
chưa được thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, vẫn còn nhiều
quan điểm và ý kiến trái ngược nhau. Những ý kiến khác nhau này đã gây
khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Trên địa bàn tỉnh Hà Giang, do nhận
thức về bản chất pháp lý của các hình thức đồng phạm còn hạn chế nên việc
phân định giữa đồng phạm thường và đồng phạm có tổ chức còn chưa thống
nhất, ảnh hưởng đến công tác xét xử của một số Tòa án tại tỉnh Hà Giang.
Đồng phạm có thông mưu trước là phạm tội có tổ chức hoặc ngược lại. Có
những bản án tuy không có dấu hiệu sai phạm về mặt áp dụng pháp luật,
nhưng việc quy định chưa rõ ràng về tình tiết phạm tội có tổ chức tại khoản
3 Điều 20 phần Chung Bộ luật hình sự (BLHS) đã dẫn tới nhận định một số
bản án chưa làm rõ được nhận định “tính có tổ chức”, tính “câu kết chặt chẽ”
theo tinh thần điều luật quy định về phạm tội có tổ chức, cũng như trong
nhiều trường hợp chưa phân định rõ được vai trò trong các vụ án phạm tội
có tổ chức. Việc quyết định hình phạt đối với các bị cáo nhiều khi bị đánh
Vạn Nguyên, hay đề tài luận văn cao học của Nguyễn Minh Đức “Hình thức
phạm tội có tổ chức trong chế định đồng phạm theo pháp luật Hình sự Việt
Nam” năm 1997. Tiếp cận ở góc độ tội phạm học là một số bài viết của các
tác giả nói về đồng phạm có tổ chức như: “Vấn đề tội phạm có tổ chức và
trách nhiệm hình sự pháp nhân trong sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999” của
GS.TS. Hồ Trọng Ngũ đăng trên tạp chí Lập pháp số 6/2009, bài nghiên cứu
“Đấu tranh phòng, chống tội phạm có tổ chức và tội phạm xuyên quốc gia
trong hội nhập kinh tế quốc tế” của PGS.TS Trần Hữu Ứng đăng trên tạp chí
Cộng sản điện tử. Một số bài viết của TS.Nguyễn Khắc Hải: “Đấu tranh
phòng chống tội phạm có tổ chức theo pháp luật hình sự Liên bang Nga”
trong tạp chí Khoa học – ĐHQG Hà Nội số 23/2007, “Nhận diện tội phạm có
tổ chức” (Kỷ yếu hội thảo khoa học về sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999) đã
củng cố thêm những nhận thức cơ bản trong việc tìm hiểu về đồng phạm có tổ
chức. Thêm vào đó, còn có các công trình như “Tội phạm có tổ chức – lịch sử
3
và vấn đề hôm nay” của GS.TS.Hồ Trọng Ngũ trả lời cho câu hỏi: “tội phạm
có tổ chức – nhận thức mới hay hiện tượng xã hội mới?”, bài viết “Tội phạm
có tổ chức và việc bổ sung chế định tổ chức tội phạm trong Bộ luật hình sự
Việt Nam” của TS.Lê Thị Sơn trong tạp chí Luật học số 12/2012, đề tài luận
án của Nguyễn Trung Thành “Phạm tội có tổ chức trong luật hình sự Việt
Nam và việc đấu tranh phòng chống” năm 2002 đề cập chi tiết đến trường
hợp đồng phạm có tổ chức ở cả góc độ khoa học luật hình sự và tội phạm học.
Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam cũng đã đề cập trên một số góc
độ về trường hợp phạm tội có tổ chức, nhưng phạm tội có tổ chức chỉ là một
trong các hình thức đồng phạm. Nghiên cứu chuyên sâu về hình thức đồng
phạm vẫn đang là một vấn đề còn bỏ ngỏ chưa thật sự được quan tâm trong
khoa học luật hình sự. Vì thế, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về hình thức
đưa ra được những kết luận khoa học, đề xuất các phương án cụ thể sao cho
phù hợp nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự có liên quan đến
các hình thức đồng phạm.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn có những đóng góp mới trong việc nghiên cứu, cụ thể là:
a. Góp phần làm sáng tỏ một cách hệ thống và toàn diện một số vấn đề
lý luận về các hình thức đồng phạm;
b. Làm rõ thực tiễn xét xử và một số tồn tại vướng mắc đối với việc xác
định các hình thức đồng phạm tại tỉnh Hà Giang;
c. Đưa ra một số đề xuất hoàn thiện thiện các quy định của Bộ luật hình
sự Việt Nam năm 1999 về các hình thức đồng phạm và một số giải pháp nâng
cao hiệu quả các quy định này.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm có phần mở đầu, 2 chương, phần kết luận và danh mục
tài liệu tham khảo.
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ CÁC HÌNH THỨC ĐỒNG PHẠM
1.1. Khái niệm đồng phạm, hình thức đồng phạm
1.1.1. Khái niệm đồng phạm
Tội phạm trên thực tế được thực hiện bởi một hoặc nhiều người. Khi tội
phạm do nhiều người thực hiện có thể có đồng phạm, hoặc có thể không có
đồng phạm tùy vào quy định của Bộ luật hình sự của từng nước. Nhiều người
thực hiện tội phạm có thể là đồng phạm cũng có thể chỉ là trường hợp những
người thực hiện tội phạm đã hành động trong sự độc lập hoàn toàn với nhau.
Vậy khi nào có đồng phạm, khi nào không có đồng phạm? Việc trả lời câu hỏi
thay thế cho thuật ngữ cộng phạm được sử dụng trong các văn bản pháp luật
hình sự trước đây, mặc dù bản chất pháp lý không thay đổi, nhưng chính xác
hơn. Đồng phạm ở đây chỉ sự kiện đồng phạm, quan hệ đồng phạm, người
đồng phạm bao gồm cả người thực hành, người tổ chức, người xúi giục,
người giúp sức - khác với nghĩa người đồng phạm chỉ là người đồng thực
hành trong Sắc lệnh 223-SL ngày 17/11/1946 về truy tố các tội hối lộ, phù
lạm, biển thủ công quỹ.
Bộ luật hình sự năm 1999 đã đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm
đồng phạm tại khoản 1 Điều 20 như sau: "Đồng phạm là trường hợp có hai
người trở lên cùng cố ý thực hiện một tội phạm". Trên cơ sở khái niệm đồng
phạm được quy định tại Điều 20 BLHS 1999, có thể thấy, đồng phạm đòi hỏi
phải có những dấu hiệu phản ánh mối liên hệ về mặt khách quan và chủ quan
giữa những người cùng tham gia thực hiện tội phạm.
* Dấu hiệu về mặt khách quan
Dấu hiệu về mặt khách quan là dấu hiệu về số lượng người tham gia
trong vụ án, dấu hiệu thể hiện tính liên kết về hành vi cùng thực hiện một tội
phạm, và dấu hiệu hậu quả của do vụ án đồng phạm gây ra.
8
- Số lượng người trong vụ án: trong vụ án đồng phạm phải có từ hai
người trở lên, những người này đều phải có đủ năng lực trách nhiệm hình sự,
đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.
- Tính liên kết về hành vi: Những người trong vụ án đồng phạm phải
cùng nhau thực hiện một tội phạm. Hành vi của người đồng phạm này liên
kết chặt chẽ với hành vi của người đồng phạm kia. Hành vi của những người
đồng phạm phải hướng về một tội phạm, phải tạo điều kiện, hỗ trợ cho nhau
để thực hiện một tội phạm thuận lợi, nói cách khác hành vi của đồng phạm
này là tiền đề cho hành vi của đồng phạm kia. Hành vi của tất cả những
xúi giục, người giúp sức trong trường hợp người thực hành thực hiện các
hành vi vượt quá trong đồng phạm. Không xuất hiện đồng phạm nếu không có
sự liên kết, sự tác động, ảnh hưởng về tâm lý giữa những người thực hiện tội
phạm. Nói như vậy không đồng nghĩa với việc trong các vụ án có đồng phạm
tất cả những người tham gia phải biết rõ về nhau, biết rõ về từng hành vi
phạm tội của nhau. Thực tiễn xét xử cho thấy một số loại tội nghiêm trọng về
an ninh quốc gia hoặc những đường dây mua bán ma túy có tổ chức, có đông
người tham gia, do tính chất của tội phạm, mọi người chỉ có thể biết nhau qua
từng "mắt xích". Điều cơ bản là họ nhận thức được hành vi của mình có sự
liên kết, gắn bó với hành vi của những người khác, giữa họ có sự liên kết ủng
hộ về tinh thần...
Ngoài dấu hiệu cùng cố ý thực hiện tội phạm đã phân tích ở trên đồng
phạm đòi hỏi phải có sự thống nhất về mục đích, động cơ phạm tội khi thực
hiện những tội mà luật quy định mục đích, động cơ phạm tội là dấu hiệu bắt
buộc của cấu thành tội phạm. Ví dụ: Điều 91 Bộ luật hình sự năm 1999 quy
định rõ tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính
quyền nhân dân; Điều 167 Tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế thì động cơ
vụ lợi là dấu hiệu bắt buộc.
Tóm lại, từ những phân tích trên, dưới góc độ khoa học luật hình sự,
10
chúng tôi cho rằng, có thể đưa ra khái niệm về đồng phạm như sau: "Đồng
phạm là hình thức phạm tội do hai người trở lên cố ý cùng tham gia vào việc
thực hiện tội phạm".
1.1.2. Khái niệm hình thức đồng phạm
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nội dung và hình
thức có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong đồng phạm, nội dung đồng
phạm và hình thức đồng phạm bao giờ cũng là một thể thống nhất, có quan hệ
người này đương nhiên phải thỏa mãn các dấu hiệu của chủ thể tội phạm. Mặt
khác, những người này phải cùng tham gia thực hiện tội phạm có nghĩa là họ
có thể trực tiếp (hành vi của người thực hành) hoặc gián tiếp (hành vi của
người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức) thông qua hành vi của người
thực hành thực hiện một tội phạm cụ thể, trong đó hành vi của mỗi người là
một bộ phận trong mối liên hệ thống nhất, tác động lẫn nhau để tạo nên kết
quả chung là tội phạm. Ở đây, phải xác định hành vi của người thực hành là
trung tâm. Thiếu hành vi của người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức
vẫn có thể có đồng phạm (những người đồng phạm đồng thực hành), còn nếu
thiếu hành vi của người thực hành thì không thể có đồng phạm. Trong trường
hợp thực hiện tội phạm vô ý, hành vi phạm tội của mỗi người tuy có mối liên
hệ khách quan về thời gian, không gian nhưng lại hoàn toàn độc lập với nhau
về ý thức đối với hậu quả.
Về mặt chủ quan của đồng phạm, như đã đề cập, là sự cố ý của những
người tham gia thực hiện một tội phạm. Đây là dấu hiệu bắt buộc mà thiếu nó,
nếu thỏa mãn những dấu hiệu của mặt khách quan nêu trên vẫn không có
đồng phạm. Sự cố ý được thể hiện ở hai phương diện lý trí và ý chí. Về lý trí:
Mỗi người đồng phạm vừa phải nhận thức được hành vi tham gia thực hiện
tội phạm của mình là nguy hiểm cho xã hội, vừa phải nhận thức được hành vi
của những người khác tham gia thực hiện tội phạm với mình cũng là nguy
hiểm cho xã hội; họ phải thấy trước (hoặc buộc phải thấy) hậu quả nguy hiểm
cho xã hội do hành vi của mình gây ra cũng như hậu quả chung của tội phạm
12
mà họ tham gia thực hiện. Về ý chí: Những người đồng phạm đều mong
muốn có hành động phạm tội chung, cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức đề
mặc hậu quả xảy ra.
Không phải mọi hình thức tội phạm có từ 2 người trở lên thực hiện đều
Mức độ phối hợp giữa những người đồng phạm cũng có thể rất chặt
chẽ. Ví dụ: A, B, C và D bàn bạc nhau thống nhất sản xuất pháo nổ. A và B
được phân công trực tiếp sản xuất, còn C và D được phân công “tiếp thị”, vận
chuyển số pháo này đem đi bán.
Trong trường hợp này, những người đồng phạm có thông mưu trước,
giữa những người phạm tội đã thống nhất được với nhau từ khi chuẩn bị đến
khi kết thúc kể cả những biện pháp lẩn tránh pháp luật, tạo ra trong ý thức
mỗi người một kế hoạch phạm tội có sự phối hợp hợp nhịp nhàng của những
người tham gia. Trong quá trình phạm tội, từ khi chuẩn bị đến khi kết thúc,
mỗi người phạm tội đều thể hiện sự phối hợp và liên kết chặt chẽ với nhau.
Mỗi người được giao một nhiệm vụ cụ thể và tất cả họ cùng nhau liên kết lại
thực hiện tội phạm và che dấu tội phạm. Mỗi thành viên có thể là người tổ
chức, người điều hành, người giúp sức hoặc người thực hành, họ giúp đỡ lẫn
nhau, tạo điều kiện cho nhau cùng thực hiện tội phạm.
Sự phân công vị trí, vai trò giữa những người đồng phạm cũng thể
hiện mức độ phối hợp trong hoạt động của một nhóm, một tập thể. Sự phân
công càng cụ thể càng cho thấy rõ mức độ lỗi, mức độ phối hợp tham gia
thực hiện tội phạm thể hiện sự phân hóa vai trò giữa những người đồng
phạm và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Trong một vụ án có đồng
phạm, tùy thuộc vào quy mô và tính chất mà có thể có những người giữ
những vai trò khác nhau theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật hình
sự gồm: "Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức
đều là những người đồng phạm."
Trong đó, người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Người
14
thực hành là người có vai trò quyết định trong việc thực hiện tội phạm,vì họ
là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội như: trực tiếp nhận hối lộ,
cho việc thực hiện tội phạm. Người này cũng có vai trò quan trọng trong một
vụ án có đồng phạm, giúp việc phạm tội thuận lợi hơn. Người giúp sức có thể
giúp bằng lời khuyên, cung cấp phương tiện phạm tội như dao, súng, hứa tiêu
thụ tài sản phạm tội... Hành vi tạo những điều kiện về tinh thần thường được
biểu hiện như: Hứa hẹn sẽ che giấu hoặc hứa ban phát cho người phạm tội
một lợi ích tinh thần nào đó như: hứa gả con, hứa đề bạt, thăng cấp, tăng
lương cho người phạm tội, bày vẽ cho người phạm tội cách thức thực hiện tội
phạm như: nói cho người phạm tội biết chủ nhà thường vắng nhà vào giờ nào
để đến trộm cắp, nói cho người phạm tội biết người bị hai hay đi về đường
nào để người phạm tội phục đánh...
Hành vi tạo điều kiện vật chất cho việc thực hiện tội phạm là hành vi
cung cấp phương tiện tội phạm như: cung cấp dao, súng, côn gỗ, xe máy, xe
ô tô... để người phạm tội thực hiện tội phạm. Dù tạo điều kiện tinh thần hay
vật chất cho việc thực hiện tội phạm thì hành vi đó cũng chỉ tạo điều kiện dễ
dàng cho việc thực hiện tội phạm chứ người giúp sức không trực tiếp thực
hiện tội phạm. Hành vi tạo điều kiện cho việc thực hiện tội phạm của người
giúp sức cũng có thể là hành vi của người tổ chức, nhưng khác với người tổ
chức, người giúp sức không phải là người chủ mưu. cầm đầu, chỉ huy mà chỉ
có vai trò thứ yếu trong vu án đồng phạm. Nếu các tình tiết khác như nhau
thì người giúp sức bao giờ cũng được áp dụng hình phạt nhẹ hơn những
người đồng phạm khác.
1.2. Ý nghĩa, cơ sở phân loại, nội dung phân loại các hình thức
đồng phạm
1.2.1. Ý nghĩa, cơ sở phân loại các hình thức đồng phạm
Trong đồng phạm, những người phạm tội có mối liên kết để thực hiện
hoạt động phạm tội, với nhiều trường hợp diễn ra rất phức tạp, đa dạng. Trên
16
chủ động, hình thức đồng phạm thụ động; hình thức đồng phạm cần
thiết, hình thức đồng phạm lựa chọn; hình thức đồng phạm trước,
hình thức đồng phạm sau [25, tr. 50].
Tại Việt Nam, các hình thức đồng phạm thường được chia thành: đồng
phạm không có thông mưu trước và đồng phạm có thông mưu trước hay đồng
phạm giản đơn (đồng phạm đồng thực hành) và đồng phạm phức tạp (đồng
phạm có sự thực hiện các vai trò khác nhau).
Ngoài ra, còn tồn tại cách phân loại đồng phạm có tổ chức và đồng
phạm thường.
Sau khi BLHS 1985 được ban hành, trong lý luận hình sự ở nước ta còn
có một số quan điểm phân loại khác. Có quan điểm phân loại các hình thức đồng
phạm theo hình thức tham gia của người đồng phạm với lập luận là để biết
những hình thức tham gia như thế nào thì bị coi là đồng phạm. Theo cách phân
loại này, có bốn hình thức đồng phạm là đồng phạm thực hành, đồng phạm xúi
giục, đồng phạm tổ chức và đồng phạm giúp sức [7, tr. 40]. Cách phân loại này
đã mắc phải sai lầm đó là nhầm lẫn giữa khái niệm hình thức đồng phạm với
khái niệm người đồng phạm. Đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau.
Có cách phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ cùng tham gia của
những người phạm tội. Theo quan điểm này, các hình thức đồng phạm được
phân chia thành 3 hình thức: phạm tội không có thông mưu trước (đồng phạm
đơn giản), phạm tội có thông mưu trước (đồng phạm phức tạp) và phạm tội có
tổ chức (đồng phạm phức tạp). Theo GS.TSKH. Lê Cảm:
Phạm tội không có thông mưu trước là hình thức đồng phạm
đơn giản và có sự cấu kết không chặt chẽ của những người cùng
thực hiện tội phạm; còn phạm tội có thông mưu trước là hình thức
đồng phạm phức tạp và có sự cấu kết tương đối chặt chẽ của những
người cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm [5, tr. 153].
18