Nồng độ các nội tiết tố nền và sau kích thích trên bệnh nhân dậy thì sớm trung ương tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 - Pdf 59

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 21 * Số 1 * 2017

Nghiên cứu Y học

NỒNG ĐỘ CÁC NỘI TIẾT TỐ NỀN VÀ SAU KÍCH THÍCH
TRÊN BỆNH NHÂN DẬY THÌ SỚM TRUNG ƯƠNG
TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2
Huỳnh Thị Vũ Quỳnh*, Lê Minh Tường Vân*, Phạm Minh Thu**

TÓM TẮT
Mục tiêu: Xác định nồng độ LH, FSH, tỉ lệ LH/FSH, nồng độ Estradiol nền và sau khi làm nghiệm pháp
kích thích ở các bệnh nhân dậy thì sớm trung ương tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 1/2010-12/2013.
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca.
Kết quả: 159 trẻ dậy thì sớm trung ương được đưa vào lô nghiên cứu. Nồng độ LH trung bình là 1,979 ±
2,208 mUI/ml, giá trị điểm cắt LH nền là 0,1; 0,3; 0,6 và 1 lần lượt có độ nhạy 96,7%; 76,4%; 60,2% và 53,7%
trong chẩn đoán dậy thì sớm trung ương. Nồng độ FSH trung bình là 4,224 ± 2,474 mUI/ml, Tỉ lệ LH nền / FSH
nền trung bình là 0,447 ± 0,424, nồng độ LH đỉnh trung bình sau khi làm nghiệm pháp kích thích là 26,591 ±
22,68. Thời điểm LH≥5mUI/ml sau 30 phút để chẩn đoán DTS trung ương có độ nhạy 87,7%. Tỉ lệ phần trăm
tích lũy nồng độ LH LH≥5mUI/ml sau 60 phút, 120 phút lần lượt là 92,3% và 96,9%. Nồng độ Estradiol trung
bình ở bé gái 37,285 ± 33,025 pg/ml, nồng độ Testosterone trung bình ở bé trai: 186,76 ± 103,941 ng/dl. 54,4%
(81/149 trường hợp) bé gái có nồng độ Estradiol đạt mức dậy thì: 54,4% 87,5% (7/8 trường hợp) bé trai có nồng
độ Testosterone đạt mức dậy thì.
Kết luận: Giá trị của LH nền và giá trị của LH đỉnh sau kích thích thay đổi tùy theo ngưỡng chẩn đoán dậy
thì sớm trung ương và thời điểm lấy máu khi làm nghiệm pháp kích thích. Nồng độ Estradiol trong máu có thể
không tăng trong dậy thì sớm trung ương ở nữ. Hầu hết các trường hợp dậy thì sớm trung ương ở nam có nồng
độ testosterone đạt được mức dậy thì.
Từ khóa: Dậy thì sớm trung ương, gonadotropin, estradiol, testosterone.

ABSTRACT
BASAL AND STIMULATED LEVEL OF GONADOTROPIN AND STEROID HORMONE IN
PRECOCIOUS PUBERTY PATIENTS

testosterone.
Keywords: Central precocious puberty, gonadotropin, Estradiol, Testosterone.
Lấy trọn.

ĐẶT VẤN ĐỀ
Dậy thì sớm ngày càng phổ biến trên thế giới
và ngay cả ở Việt Nam. Tuổi khởi phát dậy thì có
khuynh hướng ngày càng giảm(1,8). Dậy thì sớm
dẫn đến nhiều vấn đề khác nhau, như các rối
loạn về hành vi ứng xử, tâm lý, lạm dụng tình
dục, có thai sớm, đặc biệt là ảnh hưởng đến
chiều cao khi trưởng thành(12).
Chẩn đoán dậy thì sớm trung ương khi
chứng minh được sự hoạt hóa trục hạ đồi –
tuyến yên – tuyến sinh dục sớm hơn tuổi dậy thì
bình thường của trẻ. Quan trọng nhất là sự tăng
nồng độ LH trong máu trên ngưỡng dậy thì.
Nồng độ LH nền một thời điểm có thể thay đổi
và có giá trị chẩn đoán khác nhau trong chẩn
đoán dậy thì sớm trung ương. Tuy nhiên, tiêu
chuẩn vàng để chẩn đoán dậy thì sớm trung
ương nghiệm pháp kích thích Gonadotropin
bằng GnRH hoặc đồng vận của GnRH.
Ở Việt Nam, vấn đề dậy thì sớm vẫn còn ít
nghiên cứu. Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên
cứu này nhằm khảo sát các nồng độ của các nội
tiết tố Gonadotropin và các nội tiết tố sinh dục
cũng như giá trị của nó trong chẩn đoán dậy thì
sớm trung ương.


dậy thì sớm trung ương thõa mãn nghiên cứu
(theo tiêu chí chọn vào và tiêu chí loại ra). Ghi
nhận các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng như tuổi,
giới tính, tiền căn, cân nặng, chiều cao, BMI, lý
do nhập viện, các triệu chứng lâm sàng (vú to,
lông mu, lông nách, kinh nguyệt, huyết trắng,
tinh hoàn lớn, dương vật lớn), các kết quả cận
lâm sàng như nồng độ FSH, LH, Estradiol,
Testosteron nền và nồng độ FSH, LH, tỉ lệ
LH/FSH sau khi nghiệm pháp kích thích bằng
GnRH sau 30 phút, 60 phút và 120 phút. Nồng

Phương pháp lấy mẫu
322

Chuyên Đề Sức Khỏe Sinh Sản – Bà Mẹ Trẻ Em


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 21 * Số 1 * 2017
độ các nội tiết tố được đo bằng kỹ thuật hóa phát
quang (máy Architect thế hệ 3).

Xử lý số liệu
Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS.
Các biến số định lượng trình bày dưới dạng
trung bình ± độ lệch chuẩn, các biến số định tính
trình bày dưới dạng tần số và tỷ lệ %.

KẾT QUẢ
Từ 1/2010 đến 12/2013, tại bệnh viện Nhi

trị của ngưỡng của LH nền là 0,1; 0,3; 0,6;1
mUI/ml lần lượt có độ nhạy là 96,7%; 76,4%;
60,2% và 53,7%.

Tỉ lệ LH nền/FSH nền.
Tỉ lệ LH nền / FSH nền trung bình là 0,447 ±
0,424, nhỏ nhất là 0,013, lớn nhất là 2,241.
Tỉ lệ bệnh nhân có LH/FSH nền ≥ 1 là 13%.

Nghiệm pháp kích thích bằng aGnRH.
Trong 159 bệnh nhân được chẩn đoán dậy
thì sớm trung ương, có 130 bệnh nhân đượclàm
nghiệm pháp kích thích Gonadotropin bằng
aGnRH để chẩn đoán. Các bệnh nhân còn lại do
có nồng độ LH nền đủ để chẩn đoán dậy thì sớm
trung ương nên không được làm nghiệm pháp
kích thích.

Bảng 2: Nồng độ hormon hướng sinh dục và tỉ lệ LH/FSH trong nghiệm pháp kích thích bằng aGnRH (N=130).
0 phút(mUI/ml)

30 phút

60 phút

120 phút

Nồng độ đỉnh

LH


1,512 ± 1,129

2,168 ± 1,468

mIU/mL ở thời điểm 60 phút là 92,3%, ở thời
điểm 120 phút là 96,9%.

Nồng độ hormon estradiol (bé gái) và
testosterone (bé trai)
Nồng độ Estradiol trung bình ở bé gái
37,285 ± 33,025 pg/ml (nhỏ nhất 5 pg/ml, lớn
nhất 229 pg/ml).
Hình 1: Diễn tiến nồng độ trung bình hormon hướng
sinh dục trong nghiệm pháp kích thíchbằng aGnRH
(N=130).
Độ nhạy của LH ≥ 5 mIU/mL để chẩn đoán
dậy thì sớm trung ương vào thời điểm 30 phút là
87,7%. Tỉ lệ phần trăm tích lũy của LH ≥ 5

Nhi Khoa

Nồng độ Testosterone trung bình ở bé trai:
186,76 ± 103,941 ng/dl (nhỏ nhất 2,5 ng/dl, lớn
nhất 337,8 ng/dl).
54,4% (81/149 trường hợp) bé gái có nồng độ
Estradiol đạt mức dậy thì.
87,5% (7/8 trường hợp) bé trai có nồng độ
Testosterone đạt mức dậy thì.


Yehonatan Pasternak
(9)
Hyo-Kyoung Nam
(5)
Huseyin Demirbilek
(1)
Doosoo Kim
(10)
Elena Chiocca
(13)
Parvin Yazdani
Chúng tôi

Số trường Nồng độ Nồng độ
hợp
LH nền FSH nền
trung trung bình
bình
(mIU/mL)
(mIU/mL)
128
0,42
3,14
42
0,87
3,5
574
1,2
2,7
142

Với điểm cắt LH nền 0,6 mIU/mL, theo
nghiên cứu của Brito VN và cộng sự, có độ nhạy

324

Với điểm cắt LH nền 0,1 mIU/mL, theo
nghiên cứu của Parvin Yazdani và cộng sự, độ
nhạy ở bé trai là 100%, ở bé gái là 67%. Ngoài
ra, nồng độ LH nền > 0,1 mIU/mL cũng có liên
quan mạnh với nồng độ LH > 5 mIU/mL trong
nghiệm pháp kích thích bằng GnRH (r = 0,842;
p = 0,0001)(13). Trong khi đó, nghiên cứu của
Neely EK và cộng sự cho thấy điểm cắt nồng
độ LH nền > 0,1 mIU/mL có độ nhạy 94% và
độ đặc hiệu 88% trong chẩn đoán dậy thì sớm
trung ương(10).
Theo Han Kyul Kim, nồng độ LH nền càng
cao càng gợi ý nghiệm pháp kích thích bằng
GnRH dương tính, tuy nhiên, nồng độ LH nền
thấp lại không thể loại trừ dậy thì sớm trung
ương. Do đó, nồng độ LH nền không nên là
dấu chứng đơn độc cho chẩn đoán dậy thì
sớm trung ương(9).

Tỉ lệ LH nền/FSH nền
Tương tự sự thay đổi của FSH và LH, tỉ lệ
LH/FSH nền cũng có những thay đổi tương ứng.
Tỉ lệ này trong nghiên cứu của chúng tôi là 0,447.
Theo tác giả Han Kyul Kim, khi khảo sát trên 128
trường hợp dậy thì sớm trung ương, tỉ lệ

pháp trong các nghiên cứu khác nhau.
Mặc dù nồng độ FSH có tăng lên trong
nghiệm pháp kích thích bằng GnRH, nhưng
nồng độ FSH đỉnh không có sự khác biệt giữa
hai nhóm dậy thì sớm trung ương và phát
triển sớm tuyến vú đơn độc (p = 0,748 theo
nghiên cứu của Han Kyul Kim và cộng sự(9).
Do đó, nồng độ FSH không có giá trị trong
chẩn đoán dậy thì sớm trung ương. Khi đo
nồng độ hormon sinh dục nền và trong
nghiệm pháp kích thích bằng GnRH, các bác sĩ
lâm sàng cũng như các nhà nghiên cứu chỉ chú
trọng đến nồng độ LH.

Thời điểm LH đạt nồng độ ≥ 5 mIU/mL
Trong đa số các trường hợp, LH đạt nồng độ
≥ 5 mIU/mL sau nghiệm pháp 30 phút (87%).
Nếu chỉ đo nồng độ LH ở thời điểm 30 phút và
60 phút sẽ bỏ sót 4,6% trường hợp dậy thì sớm
trung ương, nếu chỉ đo nồng độ LH ở thời điểm
30 phút sẽ bỏ sót khoảng 9% trường hợp dậy thì
sớm trung ương.
Theo nghiên cứu của Han Kyul Kim và cộng
sự, phần trăm tích lũy của nồng độ LH nền ≥ 5
mIU/mL ở thời điểm 30 phút và 45 phút là 100%;
điểm cắt nồng độ LH 4,99 mIU/mL ở thời điểm
45 phút có độ nhạy 98,4% và độ đặc hiệu 100%
trong chẩn đoán dậy thì sớm trung ương. Nhiều
nghiên cứu trước đây cũng cho thấy, nồng độ
LH trong nghiệm pháp kích thích bằng GnRH

Do vai trò của nồng độ LH nền, LH đỉnh
ngày càng rõ rệt, trên lâm sàng ngày càng ít sử
dụng giá trị LH/FSH trong chẩn đoán dậy thì
sớm trung ương. Trong nghiên cứu của chúng
tôi, chỉ có 13% bệnh nhi có LH/FSH nền ≥ 1, từ
đó có thể nhận thấy rằng, tỉ lệ LH/FSH nền
không phải là dữ liệu đáng tin cậy để chẩn đoán
dậy thì sớm trung ương. Tuy nhiên, theo nghiên
cứu của Han Kyul Kim và cộng sự, có sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỉ lệ LH/FSH nền; tỉ
lệ LH/FSH đỉnh ở hai nhóm dậy thì sớm trung
ương và phát triển tiến vú sớm (p < 0,001). Với tỉ
lệ LH nền/FSH nền > 0,2, độ nhạy và độ đặc hiệu
trong chẩn đoán dậy thì sớm trung ương lần lượt
là 36,7% và 97,4%(9).

Nồng độ hormon estradiol (bé gái) và
testosterone (bé trai):
Nồng độ Estradiol trung bình trong nghiên
cứu của chúng tôi là 37,285 pg/ml, thấp hơn
nồng độ Estradiol trong nghiên cứu của Elana
Chiocca(10), nhưng cao hơn nồng độ trong nghiên
cứu của Doosoo Kim (12,2 pg/ml) và Han Kyul
Kim (12,91 mUI/L)(1,9). Tương tự với tỉ lệ LH/FSH,
nồng độ estradiol trong máu thường chỉ được
dùng để đánh giá giai đoạn dậy thì, ít được sử
dụng trong chẩn đoán phân biệt dậy thì sớm

325


và thay đổi giọng nói.

tiết kiệm chi phí cho bệnh nhân trong chẩn
đoán dậy thì sớm trung ương.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

2.

3.

4.

5.

6.

7.

8.

9.

KẾT LUẬN
Giá trị của ngưỡng của LH nền là 0,1; 0,3;
0,6;1 mUI/ml lần lượt có độ nhạy là 96,7%;
76,4%; 60,2% và 53,7% trong chẩn đoán dậy thì
sớm trung ương. 87% bệnh nhân có đạt được
ngưỡng chẩn đoán vào thời điểm 30 phút. Các

Brito VN, Batista CM, et al (1999), Diagnostic Value of
Fluorometric Assays in the Evaluation of Precocious Puberty
1, The Journal of Clinical Endocrinology & Metabolism, 84: 35393544.
Chiocca E, Dati E, Baroncelli GI, et al (2012), Central
precocious puberty: treatment with triptorelin 11.25 mg.
ScientificWorldJournal, 2012: 1-6.
Demirbilek H, Alikasifoglu A, Gonc NE, Ozon A, Kandemir
N (2012), Assessment of gonadotrophin suppression in girls
treated with GnRH analogue for central precocious puberty;
validity of single luteinizing hormone measurement after
leuprolide acetate injection. Clinical endocrinology, 76: 126-130.
Houk CP, Kunselman AR, Lee PA (2009), Adequacy of a
single unstimulated luteinizing hormone level to diagnose
central precocious puberty in girls. Pediatrics, 123: e1059-1063.
Kim D, Cho SY, Maeng SH, et al (2012), Diagnosis and
constitutional and laboratory features of Korean girls referred
for precocious puberty. Korean journal of pediatrics, 55: 481-486.
Kim HK, Cho, Kee SJ, Seo JY, Jang EM, Chae HJ, Kim CJ
(2011), Gonadotropin-releasing hormone stimulation test for
precocious puberty. The Korean journal of laboratory medicine,
31: 244-249.
Nam HK, Rhie YJ, Son CS, Park SH, Lee KH (2012). Factors to
predict positive results of gonadotropin releasing hormone
stimulation test in girls with suspected precocious puberty. J
Korean Med Sci. 2012 Feb;27(2): 194-9. doi: 10.3346/jkms.
2012.27.2.194.
Neely EK, Wilson DM, Lee PA, Stene M, Hintz RL (1995),
Spontaneous serum gonadotropin concentrations in the
evaluation of precocious puberty. The Journal of pediatrics, 127:
47-52.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status