BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
ĐÀO MẠNH HUY
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP VÀ TRÌNH BÀY
BÁO CÁO TÀI CHÍNH HỢP NHẤT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
SẢN XUẤT THÉP THUỘC HIỆP HỘI THÉP VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Hà Nội – 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
ĐÀO MẠNH HUY
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP VÀ TRÌNH BÀY
BÁO CÁO TÀI CHÍNH HỢP NHẤT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
SẢN XUẤT THÉP THUỘC HIỆP HỘI THÉP VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 62.34.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
AFTA
AASB
BCĐKT
BCKQHĐKD
BCLCTT
BCTC
BCTĐVSCH
CĐTS
CMKT
CTCP
CTTNHH
CTy
DN
DTL
FASB
HNKD
HPG
HSG
HTK
IAS
IASB
IASC
IFRS
KQKD
LN
LTTM
ME
MI
MTV
NCI
Hàng tồn kho
CMKT quốc tế
Hội đồng CMKT quốc tế
Ủy ban CMKT quốc tế
Chuẩn mực lập BCTC quốc tế
Kết quả kinh doanh
Lợi nhuận
Lợi thế thương mại
Microsoft Excel
Lợi ích của cổ đông thiểu số
Một thành viên
Lợi ích của cổ đông không kiểm soát
Công ty cổ phần Pomina
Các doanh nghiệp sản xuất thép thuộc Hiệp
hội Thép Việt Nam
Thực thể hoạt động theo các mục đích đặc
biệt
Sản xuất kinh doanh
Tập đoàn kinh tế
Công ty cổ phần Gang Thép Thái Nguyên
Thuyết minh báo cáo tài chính
Thu nhập doanh nghiệp
CMKT Mỹ
CMKT Việt Nam
Công ty TNHH thép Vina Kyoei
VNSTEEL
WTO
Ngành thép là một trong những ngành công nghiệp nền tảng, sản xuất tư liệu sản xuất để đảm
bảo đáp ứng nhu cầu đầu vào cho các ngành công nghiệp xây dựng và quốc phòng, hỗ trợ cho sự phát
triển của đất nước, đặc biệt là phát triển cơ sở hạ tầng. Những năm qua ngành thép đã có đóng góp
đáng kể trong việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động cũng như góp một phần vào
nguồn thu ngân sách. Ngành thép cũng là một trong ngành kinh tế mũi nhọn của cả nước có nhiều
doanh nghiệp lớn đang hoạt động sản xuất kinh doanh theo mô hình “ công ty mẹ công ty con” như:
Tập đoàn Hòa Phát, Tổng công ty thép Việt Nam, Tập đoàn Hoa Sen, công ty cổ phần Gang thép Thái
Nguyên…
Trong lĩnh vực quản lý kinh tế nói chung, kế toán nói riêng, báo cáo tài chính (BCTC) là loại tài
liệu kế toán quan trọng nhất trong công tác tài chính, kế toán. BCTC cung cấp các thông tin hữu ích
về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp cho các nhà quản lý,
đồng thời là nguồn cung cấp thông tin chủ yếu của các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp. Đối với
các Tập đoàn, Tổng công ty hoạt động theo mô hình “ công ty mẹ công ty con” BCTC hợp nhất có ý
nghĩa và tác dụng quan trọng đối với những đối tượng sử dụng thông tin kế toán của Tập đoàn.
BCTC hợp nhất giúp người sử dụng thông tin đánh giá tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và các
nghiên cứu khá toàn diện các vấn đề liên quan đến BCTC hợp nhất bao gồm các nội dung như: (i) các
khái niệm về nhóm công ty, thực thể báo cáo; khái niệm về kiểm soát, lợi ích cổ đông không kiểm
soát, lợi thế thương mại, sự cần thiết, mục đích của BCTC hợp nhất, các lý thuyết hợp nhất cơ bản;
(ii) các quy định của CMKT quốc gia, Châu Âu và của quốc tế về BCTC hợp nhất; (iii) nội dung,
phương pháp trình bày và phân tích về BCTC hợp nhất; (iv) chọn mẫu và kiểm định các giả thuyết
nghiên cứu về BCTC hợp nhất. Ngoài ra trong năm 2013, tác giả Victor – Octavian Muller cũng đã
nghiên cứu đề tài “The impact of IFRS adoption on the quality of cosolidated financial reporting”. Đề
tài này nghiên cứu sự ảnh hưởng của việc thực hiện IFRS đối với chất lượng của BCTC hợp nhất.
Nghiên cứu này được thực hiện trên một số lượng lớn các công ty tại Châu Âu đã công ty niêm yết
trên thị trường chứng khoán (thị trường chứng khoán Paris, London, Frankfurt). Để thực hiện mục tiêu
nghiên cứu trên đề tài sử dụng các mô hình kinh tế lượng để kiểm định 2 giải thuyết: (i) BCTC hợp
nhất trình bày theo IFRS có chất lượng cao hơn so với trình bày theo chuẩn mực của quốc gia; (ii)
chất lượng BCTC hợp nhất sẽ cao hơn trong bối cảnh áp dụng IFRS.
Nghiên cứu của nhóm các tác giả Paolo Andrei, Pier Luigi Marchini, Veronica Tibiletti tại đại học
Parma nước Ý, thực hiện năm 2010 với đề tài “The impact of the adoption of International Financial
hiện năm 2011, tại trường Đại học Macquarie, Sydney, Úc. Đây là một công trình nghiên cứu toàn
diện về mặt lý luận các vấn đề liên quan đến lợi thế thương mại trên các khía cạnh: các quan điểm
định nghĩa lợi thế thương mại, đo lường lợi thế thương mại, phương pháp ghi nhận lợi thế thương
mại… Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về lợi thế thương mại, tác giả nghiên cứu thực tiễn xác định,
kế toán lợi thế thương mại tại Hong Kong.
“Financial Accounting and Reporting” (2011) của nhóm tác giả Barry Elliott và Jamie Elliott có
nội dung chủ yếu nghiên cứu các vấn đề về kế toán tài chính nâng cao, trong đó có nội dung quan
trọng nghiên cứu về kế toán lập BCTC hợp nhất. Trong nội dung này, các tác giả nghiên cứu các vấn
đề về kế toán hợp nhất tại thời điểm: (i) quyền kiểm soát được thiết lập (khái niệm về nhóm công
ty, định nghĩa về quyền kiểm soát, các phương pháp kế toán lập BCTC hợp nhất, lợi thế thương mại,
lợi ích của cồ đông không kiểm soát…); (ii) thời điểm sau khi quyền kiểm soát được thiết lập (thống
nhất chính sách kế toán, kế toán các khoản đầu tư của công ty mẹ vào công ty con, phương pháp kế
toán vào các công ty con, công ty liên kết…).
11
“Company Accounting” (2011) của nhóm tác giả Ken Leo, John Hoggett, John Sweeting. Nội dung
chủ yếu đề cập các vấn đề liên quan đến kế toán lập BCTC hợp nhất theo AASB đã sửa đổi cập
Thành phố Hồ Chí Minh. Luận án đã hệ thống hoá cơ sở lý thuyết về BCTC hợp nhất và sự hoà hợp
kế toán trong việc lập, trình bày BCTC hợp nhất. Luận án cũng đã xây dựng mô hình và kiểm định các
giả thuyết đánh giá về sự hoà hợp giữa kế toán Việt Nam và quốc tế trong việc lập BCTC hợp nhất
trên cơ sở khảo sát các doanh nghiệp đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Qua khảo
sát thực tiễn và kết quả kiểm định, luận án đã đề xuất các giải pháp góp phần thực hiện tiến trình
hoà hợp CMKT Việt Nam với CMKT quốc tế trong việc lập và trình bày BCTC hợp nhất. Các vấn đề
trình bày trong luận án khá toàn diện, phương pháp thực hiện khoa học trên cơ sở xây dựng mô hình
và sử dụng phần mềm thống kê để giải quyết các vấn đề nghiên cứu đặt ra trong đề tài.
Ngoài ra trên các tạp chí chuyên ngành có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu vấn đề liên
quan đến BCTC hợp nhất được đăng tải trên các tạp chí nghiên cứu khoa học chuyên ngành hoặc kỷ
yếu hội thảo. Trong đó, có một số bài viết quan trọng phải kể đến như:
Bài “Làm rõ bản chất của phương pháp tài khoản khi lập BCTC hợp nhất”, của tác giả Chúc
Anh Tú, Tạp chí kiểm toán, số 13/2008;
Bài “Sự ảnh hưởng của phương pháp kế toán khoản đầu tư vào công ty con trên BCTC công ty
mẹ đến BCTC hợp nhất”, của tác giả Đoàn Thị Dung, Tạp chí kế toán và kiểm toán số 98/2011;
13
Bài “Những thay đổi quan trọng trong chuẩn mực lập và trình bày BCTC quốc tế về hợp nhất
Các nghiên cứu mới chỉ tập trung nghiên cứu phương pháp, cách thức tổng hợp các chỉ tiêu để
lập BCĐKT hợp nhất, BCKQHĐKD hợp nhất mà chưa nghiên cứu cách thức lập Thuyết minh BCTC
hợp nhất và BCLCTT hợp nhất.
Chưa xây dựng hệ thống bảng hỏi và sử dụng phần mềm thống kê để đánh giá các vấn đề ảnh
hưởng đến công tác lập và trình bày BCTC hợp nhất. Riêng luận án của tác giả Trần Hồng Vân đã sử
dụng các kỹ thuật và phương pháp thống kê để đánh giá đối tượng nghiên cứu nhưng hướng của đề
tài tập trung nghiên cứu về mức độ hài hòa giữa CMKT Việt Nam với chuẩn mực quốc tế trong việc
lập và trình bày BCTC hợp nhất.
Một số đề tài phạm vi khảo sát còn hẹp mới chỉ đề cập đến thực trạng vấn đề cần nghiên cứu
tại một đơn vị có quy mô lớn như: Tập đoàn Bưu chính viễn thông, Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt
14
nam, Tập đoàn Hoàng Hà… Chưa có luận án nào nghiên cứu công tác lập và trình bày BCTC hợp nhất
trên phạm vi một nhóm các công ty.
Chưa có luận án nào trực tiếp nghiên cứu đến công tác lập và trình bày BCTC hợp nhất tại các
Tập đoàn, Tổng công ty trong hệ thống các doanh nghiệp ngành thép Việt Nam.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu tổng quát: Đề tài nghiên cứu đầy đủ cả về lý luận và thực tiễn về công tác lập và trình
đó, tác giả sẽ đưa ra các đánh giá về ưu nhược điểm công tác lập và trình bày BCTC hợp nhất tại các
đơn vị.
Thứ ba, trên cơ sở những tồn tại và nguyên nhân dẫn đến tồn tại của công tác lập và trình bày
BCTC hợp nhất, đề tài sẽ đề xuất các giải pháp khoa học, hợp lý nhằm giúp các đơn vị cải tiến và
hoàn thiện hơn nữa công tác lập và trình bày BCTC hợp nhất, nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao
chất lượng thông tin của BCTC hợp nhất tại các đơn vị.
4. Câu hỏi nghiên cứu:
15
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của Luận án, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:
Câu hỏi 1: Mô hình “công ty mẹ công ty con”?, các đặc điểm của mô hình “công ty mẹ công ty
con” ?, BCTC hợp nhất và công tác lập BCTC hợp nhất? Kinh nghiệm quốc tế về BCTC hợp nhất và
bài
h ọc
kinh
Về phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về không gian: Luận án sẽ lựa chọn các doanh nghiệp là những đơn vị sản xuất thép
thuộc Hiệp hội Thép Việt Nam có lập BCTC hợp nhất để nghiên cứu và đánh giá thực trạng công tác
lập và trình bày BCTC hợp nhất tại các đơn vị này. Trong luận án này, tác giả sẽ tập trung đi sâu nghiên
cứu công tác lập BCTC hợp nhất. Đối với công tác trình bày BCTC hợp nhất, luận án không đi sâu
nghiên cứu những vấn đề chung về trình bày BCTC hợp nhất với những nội dung giống một BCTC
thông thường, mà chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu những nội dung đặc trưng riêng có, mang tính điển
hình
mà
một
BCTC
hợp
Luận án sử dụng hai nguồn dữ liệu trong quá trình nghiên cứu: Dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ
cấp.
Nguồn dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp bao gồm các tài liệu liên quan đến công trình trong
nước và nước ngoài được thu thập thông qua các nguồn tài liệu tại các thư viện và tìm kiếm trên
mạng thông qua việc truy cập các trang web chuyên ngành. Ngoài ra các dữ liệu thứ cấp được sử
dụng trong Luận án còn bao gồm các BCTC của các công ty con, BCTC hợp nhất của công ty mẹ, các
biểu mẫu, báo cáo chi tiết, quy trình lập BCTC hợp nhất. Các tài liệu này thu thập trong quá trình
khảo sát trực tiếp và trên Website của các đơn vị.
Nguồn dữ liệu sơ cấp: đó là thông tin thu được qua khảo sát về thực trạng công tác lập và trình
bày BCTC hợp nhất tại các đơn vị. Tác giả sử dụng phiếu điều tra được thiết kế sẵn theo mẫu để
gửi cho các đơn vị. Đối tượng gửi Phiếu khảo sát là các cán bộ đảm nhiệm trực tiếp công tác lập
BCTC hợp nhất tại toàn bộ các công ty mẹ, công ty con tại các đơn vị trong phạm vi khảo sát. Ngoài
ra tác giả còn thực hiện khảo sát trực tiếp tại các đơn vị mang các đặc trưng điển hình như có số
lượng các công ty con, công ty liên kết lớn, nghiệp vụ phát sinh nhiều, đa dạng thông qua gặp gỡ, tiếp
xúc và phỏng vấn các cán bộ trực tiếp làm công tác lập BCTC hợp nhất tại các đơn vị này.
6.2. Về phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu và giải quyết được các câu hỏi nghiên cứu của đề tài, Luận án
lập BCTC hợp nhất thuộc Hiệp hội Thép Việt Nam. Theo quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán
Việt Nam việc lập BCTC hợp nhất chỉ được thực hiện ở những doanh nghiệp hoạt động theo mô
hình “công ty mẹ công ty con”. Theo tiêu chí này các đơn vị có lập BCTC hợp nhất trong hệ thống
các doanh nghiệp sản xuất thép thuộc hiệp hội thép Việt Nam hiện nay gồm có 7 đơn vị:
Công ty cổ phần Tập đoàn Hoà Phát
Tổng công ty thép Việt Nam
Công ty Gang thép Thái nguyên
Công ty cổ phần Thép POMINA
Công ty cổ phần Tập đoàn Hoa Sen
Công ty cổ phần Đại Thiên Lộc
Công ty cổ phần SMC
Phiếu khảo sát gồm 2 loại:
Phiếu khảo sát dành cho các công ty mẹ gồm 50 câu hỏi.
Phiếu khảo sát dành cho các công ty con gồm 20 câu hỏi.
Nội dung các phiếu khảo sát đều được chia thành 2 phần:
Phần 1: Thông tin cơ bản về doanh nghiệp gồm các câu hỏi liên quan đến đối tượng điều tra.
Phần 2: Các câu hỏi điều tra được thành 2 nhóm: Nhóm thứ nhất bao gồm các câu hỏi về đặc
điểm công tác kế toán nói chung và nhóm thứ hai bao gồm các câu hỏi khảo sát về công tác lập BCTC
hợp nhất tại đơn vị.
Đối tượng trực tiếp nhận và điền phiếu khảo sát là cán bộ kế toán trực tiếp lập BCTC hợp nhất
tại các công ty mẹ và cán bộ kế toán trực tiếp lập các biểu mẫu, báo cáo tại các công ty con. Phiếu
18
Trong quá trình thực hiện khảo sát, mặc dù tác giả đã tích cực, cố gắng và nỗ lực tối đa nhằm
mục đích thu thập thông tin khảo sát một cách đầy đủ nhất để phục vụ cho việc nghiên cứu của luận
án. Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian nên tác giả không thể thu thập được đầy đủ kết quả khảo sát
của các đơn vị. Bên cạnh đó, còn phải kể đến một hạn chế nữa do yếu tố khách quan tác động đó là
không phải toàn bộ các câu hỏi trong phiếu điều tra đã được đối tượng phỏng vấn trả lời một cách
nghiêm túc.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Việc thực hiện đề tài đem lại những ý nghĩa quan trọng cả về mặt khoa học và thực tiễn.
19
Về mặt khoa học, tiếp tục hoàn thiện cơ sở lý luận về BCTC hợp nhất bao gồm các vấn đề về
như: Tập đoàn, mô hình “công ty mẹ công ty con”, BCTC hợp nhất, phương pháp trình tự lập BCTC
hợp nhất.
Về mặt thực tiễn, đề tài vận dụng các lý luận để làm rõ thực trạng công tác lập, trình bày BCTC
hợp nhất và chỉ ra những vấn đề còn tồn tại về trong công tác lập và trình bày BCTC hợp nhất từ đó
đề xuất các giải pháp để hoàn thiện nhằm mục đích nâng cao chất lượng thông tin BCTC hợp nhất
qua đó cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin trung thực và minh bạch.
8. Những định hướng nghiên cứu của luận án
21
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẬP VÀ
TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH HỢP NHẤT
1.1.
Lý luận chung về mô hình “Công ty mẹ công ty con”
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm tổ chức quản lý
Thuật ngữ “nhóm công ty” (“business groups” hay “corporate group”) xuất hiện từ đầu thế kỷ 19
và được sử dụng phổ biến rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới với các nội hàm khác nhau.
Theo nhóm tác giả Almeida & Wolfenzon, 2006; Granovetter,1995; Morck & Yeung, 2003; Yiu,
Lu, Bruton, & Hoskisson, 2007, nhóm công ty là một thực thể kinh doanh bao gồm nhiều công ty có
mối liên kết với nhau theo cấu trúc sở hữu hình chóp có mối quan hệ thị trường chặt chẽ trong đó các
công ty hợp tác chặt chẽ với nhau.
Theo Khanna and Yafeh (2007), nhóm công ty được tạo thành bởi nhóm các đơn vị riêng lẻ có tư
cách pháp nhân với một cơ chế quản lý chung.
Theo từ điển Wikipedia nhóm công ty được định nghĩa là “một tập hợp bao gồm các công ty mẹ
và công ty con hoạt động như một thực thể kinh tế đơn lẻ thông qua một quyền kiểm soát chung”
[72].
Theo Colpan và các cộng sự thì nhóm công ty được xem là “Một cơ chế liên kết kinh doanh mà
buộc nhưng đều có đặc điểm chung như sau:
Nhóm công ty là một tập hợp bao gồm tối thiểu 2 công ty có tư cách pháp nhân độc lập trong đó
công ty nắm quyền kiểm soát đối với các thành viên khác trong nhóm được gọi là công ty mẹ. Các
công ty bị kiểm soát được gọi là công ty con.
Trong mô hình này, mối liên kết giữa công ty mẹ và công ty con thường dựa trên nền tảng đầu
tư tài chính của công ty mẹ vào công ty con. Thông qua quyền kiểm soát công ty con, công ty mẹ sẽ
chi phối, kiểm soát, định hướng hoạt động của công ty con theo mục tiêu, chiến lược kinh doanh của
cả nhóm, trên cơ sở điều lệ hoạt động của công ty mẹ, công ty con và phù hợp với pháp luật hiện
hành.
Nhóm công mẹ công ty con có thể được tổ chức theo dạng có cấu trúc đơn giản hoặc cấu trúc
hỗn hợp.
Cấu trúc đơn giản: Theo cấu trúc đơn giản, công ty mẹ thực hiện đầu tư vốn và nắm giữ
quyền kiểm soát đối với các công ty con (công ty cấp 2), đến lượt các công ty con cấp 2 đầu tư vốn
và nắm quyền kiểm soát các công ty cháu (công ty cấp 3), và cứ tiếp tục như vậy. Mô hình này công
ty mẹ sẽ thực hiện sự kiểm soát trực tiếp của đối với công ty con trực hệ và kiểm soát gián tiếp công
ty cháu thông qua các công ty con. Trong mô hình này không có sự đầu tư lẫn nhau giữa các thành viên
cùng cấp, không tồn tại việc đầu tư trực tiếp từ công ty mẹ vào các công ty cháu và cũng không có sự
Hợp nhất kinh doanh: Theo IFRS 3(2009): Hợp nhất kinh doanh được định nghĩa là việc kết
hợp các đơn vị, doanh nghiệp độc lập thành một thực thể báo cáo thông qua hình thức thâu tóm quyền
kiểm soát đối với tài sản thuần và hoạt động của đơn vị hoặc doanh nghiệp khác.
Hợp nhất kinh doanh diễn ra theo các hình thức sau:
Sáp nhập pháp lý: Một hay nhiều công ty hiện hữu được kết hợp vào một công ty khác, sau đó
chấm dứt tồn tại.
Sơ đồ 1.4. Mô hình sáp nhập pháp lý
Hợp nhất pháp lý: Các công ty hiện hữu kết hợp thành một chủ thể kinh tế pháp lý mới, sau đó
chấm dứt tồn tại.
Sơ đồ 1.5. Mô hình hợp nhất pháp lý
Hợp nhất thông qua đầu tư vốn: Một công ty mua cổ phần của các công ty khác và đạt đến mức
nắm quyền kiểm soát công ty đó. So với hai hình thức trên thì hình thức này có điểm khác ở chỗ: sau
hợp nhất, các công ty vẫn tồn tại như những thực thể pháp lý, không hình thành chủ thể pháp lý mới.
HNKD trong trường hợp này dẫn đến mô hình “công ty mẹ công ty con”.
Sơ đồ 1.6. Cấu trúc đơn giản của nhóm công ty mẹ công ty con
25