HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP VÀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VŨ GIA - Pdf 72

1
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP VÀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN VŨ GIA
3.1. Đánh giá hiệu lực quản lý tài chính tại công ty cổ phần Vũ Gia
Công ty cổ phần Vũ Gia là một doanh nghiệp cổ phần, được thành lập trong thời
kỳ thị trường kinh doanh dịch vụ taxi diễn ra nhiều cạnh tranh khốc liệt nên việc tuân
thủ chế độ kế toán, chuẩn mực kế toán và các quy định khác của pháp luật hiện hành là
một việc làm hết sức cần thiết để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đi
vào nề nếp và đạt hiệu quả cao. Quy chế quản lý tài chính của công ty là một văn bản cụ
thể hóa các chính sách tài chính do Bộ tài chính ban hành dựa vào điều kiện cụ thể của
công ty.
Công ty luôn ý thức được việc tuân thủ theo các quy chế quản lý tài chính đó sẽ
mang lại hiệu quả kinh doanh cao cho công ty. Mọi khoản mục, nội dung trong quy chế
đều đi vào thực tế một cách hiệu quả và thiết thực.
+ Đối với các khoản phải thu, việc các khoản phải thu không có khả năng thu hồi
là chưa xảy ra trong thực tế nên doanh nghiệp không lập dự phòng các khoản phải thu.
Tuy nhiên, trong quy chế quản lý tài chính vẫn quy định về công tác xử lý các khoản
phải thu không có khả năng thu hồi, quy định này phù hợp với quy định của Bộ tài
chính và cũng rất tốt với công ty.
+ Công ty chưa trích lập dự phòng giảm giá các khoản đầu tư tài chính dài hạn
như theo quy định trong quy chế quản lý tài chính. Đây không hẳn là hạn chế của công
ty vì các khoản đầu tư tài chính dài hạn thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản
của công ty.
+ Các khoản doanh thu, thu nhập khác, chi phí sản xuất kinh doanh, chi phí khác
cũng như việc phân phối lợi nhuận đã được chi tiết, cụ thể phù hợp với tình hình thực tế
của công ty và được thực hiện nghiêm túc trong kỳ. Điều này được thể hiện rõ trong các
báo cáo chi tiết, báo cáo tổng hợp của công ty.
Trên đây là một số nhận xét về việc áp dụng quy chế quản ký tài chính vào thực
tiễn. Ngoài một số điều trên, còn lại tất cả các nội dung khác của quy chế đều được thực
hiện trong thực tế quản lý và hạch toán kế toán của công ty.
2

3
Tiến độ lập, gửi Báo cáo tài chính năm của công ty luôn đúng thời hạn theo quy
định chung của Bộ tài chính. Điều này đáp ứng được nhu cầu cung cấp thông tin kịp
thời, chính xác theo yêu cầu của các đối tượng quan tâm đến tình hình của công ty.
+ Quy trình lập Báo cáo tài chính:
Chất lượng nguồn số liệu lập Báo cáo tài chính được đảm bảo: chứng từ kế toán
đảm bảo tính hợp pháp, hợp lệ; công tác ghi sổ được phân công rõ ràng, có sự kiểm tra,
đối chiếu giữa các kế toán viên.
Công tác kế toán cuối kỳ (kiểm kê, thực hiện các bút toán cuối kỳ), công tác khóa
sổ được thực hiện theo đúng quy định của Bộ tài chính và phù hợp với đặc điểm của
công ty.
Các chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính được trình bày theo đúng mẫu quy định của
Bộ tài chính theo từng thời kỳ.
Trách nhiệm lập Báo cáo tài chính là của kế toán trưởng kiêm kế toán tổng hợp
trong công ty. Các kế toán viên đảm nhiệm các phần hành có trách nhiệm đảm bảo tính
chính xác của số liệu cung cấp cho kế toán tổng hợp thực hiện lập Báo cáo tài chính.
+ Phần mềm kế toán: phần mềm kế toán cùng với việc nối mạng nội bộ trong
công ty đã giúp công tác lập, kiểm tra, đối chiếu số liệu trên Báo cáo tài chính của công
ty diễn ra nhanh chóng, đảm bảo độ tin cậy hơn. Với phần mềm kế toán đang thử
nghiệm, công tác kế toán tại công ty được thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác,
tiết kiệm lao động kế toán cũng như giúp phần nào cho việc tổng hợp số liệu để việc lên
các Báo cáo tài chính được nhanh chóng, dễ dàng hơn nhiều so với thực hiện kế toán thủ
công. Hơn nữa, việc xây dựng mạng nội bộ trong công ty giúp cho việc kiểm tra, đối
chiếu số liệu, việc cung cấp thông tin phản hồi cũng kịp thời hơn.
Hạn chế: Bên cạnh những ưu điểm trên, công tác lập Báo cáo tài chính của công ty vẫn
còn một số hạn chế.
+ Quy trình lập Báo cáo tài chính: tuy chính sách kế toán của công ty yêu cầu lập
dự phòng với các khoản đầu tư tài chính dài hạn và các khoản nợ phải thu khó đòi
nhưng thực tế cho thấy trên Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp không hề xuất hiện
các khoản mục dự phòng. Điều đó làm giảm tính chính xác của thông tin kế toán cung

cáo tài chính của công ty do một người đảm đương trách nhiệm từ khi thành lập công ty
nên có điều kiện bao quát tình hình tài chính tại công ty. Ngoài ra, kế toán trưởng có thể
báo cáo trực tiếp với giám đốc công ty nên đảm bảo được tính thời sự của thông tin
phân tích.
5
+ Nội dung phân tích: các chỉ tiêu được phân tích đều theo quy định của Bộ tài
chính, ngoài ra còn bổ sung thêm các chỉ tiêu cần thiết khác. Các chỉ tiêu trong Bản
thuyết minh báo cáo tài chính được phân tích khá tỉ mỉ, thêm vào đó, các chỉ tiêu bổ
sung cũng được phân tích chi tiết để thấy rõ nguyên nhân biến động của các chỉ tiêu.
+ Quy trình phân tích:
Từng công việc trong quy trình phân tích được thực hiện khá đây đủ như: xác
định mục tiêu phân tích Báo cáo tài chính, nội dung phân tích, phạm vi phân tích, thông
tin cần thu nhập và thời gian tiến hành.
Trong giai đoạn thực hiện phân tích, các công việc phân tích Báo cáo được thực
hiện tuần tự từ sưu tầm tài liệu, xử lý số liệu; tính toán các chỉ tiêu phân tích; xác định
nguyên nhân và tính toán cụ thể mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến các chỉ tiêu
phân tích; tổng hợp kết quả và rút ra nhận xét, kết luận về tình hình tài chính của công
ty.
+ Kết quả phân tích: sản phẩm của phân tích Báo cáo tài chính không chỉ là kết
quả phân tích mà còn kèm theo các giải pháp nhằm khắc phục những nhược điểm trong
kỳ kế toán phân tích và tiếp tục phát huy những điểm mạnh của doanh nghiệp nhằm
nâng cao năng lực tài chính của công ty. Đây là một ưu điểm lớn cần phát huy.
Hạn chế: tuy nhiên, trong quá trình thực hiện phân tích Báo cáo tài chính của công ty
vẫn không tránh khỏi những hạn chế nhất định.
+ Lao động kế toán thực hiện phân tích: kế toán trưởng kiêm nhiệm luôn phân
tích Báo cáo tài chính làm cho công việc của kế toán trưởng phải thực hiện sẽ rất nhiều,
thêm vào đó những đánh giá sẽ mang tính chủ quan hơn. Đặc biệt, khi kết thúc năm tài
chính, ngoài việc kiểm soát lập báo cáo, thực hiện công việc hàng ngày, kế toán trưởng
còn thực hiện thêm công việc phân tích nên chất lượng công việc phân tích không tránh
khỏi bị ảnh hưởng. Công việc này chỉ do một người kiêm nhiệm nên các phân tích và

+ Về kết quả phân tích:
Các biện pháp đề ra sau quá trình thực hiện phân tích chưa được giải trình bằng
một văn bản cụ thể, do đó, các biện pháp đề ra đôi khi rất thiết thực và có tính khả thi
nhưng chưa được chú ý áp dụng một cách triệt để. Nguyên nhân là do chưa có một yêu
cầu nào về việc cung cấp bản giải trình kèm theo này từ phía ban quản lý công ty, công
tác phân tích phần nào vẫn mang tính hình thức.
7
Tuy nhiên, qua công tác phân tích tình hình tài chính cho thấy thực trạng kinh
doanh cũng như năng lực tài chính của doanh nghiệp là khá tốt. Tổng tài sản tăng qua
các năm, cơ cấu tài sản cho thấy những đầu tư mang tính chiều sâu của doanh nghiệp
vào tài sản cố định. Tỷ suất lợi nhuận tương đối ổn định tuy tỷ suất này năm 2007 giảm
so với năm 2006. Doanh nghiệp chưa chú ý thanh toán các khoản công nợ, tuy nhiên, do
tài sản có thể dùng để thanh toán của doanh nghiệp lớn nên khả năng thanh toán của
doanh nghiệp vẫn được đảm bảo.
+ Về nội dung phân tích: mặc dù công tác phân tích Báo cáo tài chính của công
ty được thực hiện khá chi tiết và tỷ mỉ nhưng vẫn còn một số nội dung công ty chưa
thực hiện phân tích. Công ty chưa thực hiện phân tích cấu trúc tài chính, phân tích từng
Báo cáo tài chính, phân tích rủi ro tài chính. Trên thực tế, những nội dung đó mới chỉ
được vạch ra trên lý thuyết, không có nhiều doanh nghiệp thực hiện phân tích. Đối với
một công ty quy mô nhỏ như công ty cổ phần Vũ Gia thì phân tích tất cả các nội dung
đó gây lãng phí nhân lực, không cần thiết và tính ứng dụng của kết quả phân tích không
cao.
Tồn tại trước mắt trong khâu phân tích Báo cáo tài chính của công ty là việc phân
tích tình hình thanh toán của công ty chưa đầy đủ. Công ty chưa thực hiện phân tích các
khoản nợ quan trọng, số vòng quay các khoản phải thu và thời gian các khoản phải thu.
Công ty chưa ý thức được tầm quan trọng của phân tích các khoản nợ quan trọng. Hiện
nay, nhà nước quy định trình tự ưu tiên trong quá trình thanh toán được sắp xếp theo thứ
tự sau: thanh toán cho người lao động, nộp ngân sách nhà nước, thanh toán với người
bán, thanh toán với người mua và trả nợ ngân hàng. Một doanh nghiệp có hệ số khả
năng thanh toán cao mà các khoản nợ người lao động và nợ nhà nước chiếm tỷ trọng

toán của công ty vì tình hình tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình thanh toán
lương với công nhân viên.
+ Ngân hàng và các tổ chức tín dụng quan tâm đến khả năng thanh toán cũng như
tình hình lãi lỗ trong kinh doanh của công ty để ra quyết định cho vay được chính xác.
Các nhà cung cấp cũng xem xét nhiều khả năng thanh toán của công ty để nhận định
xem công ty có đủ khả năng thanh toán tiền hàng hay không.
Như vậy, nhu cầu thông tin kế toán ngày càng đòi hỏi tính chính xác, kịp thời. Vì
thế, việc hoàn thiện công tác lập Báo cáo tài chính là hết sức bức thiết, nhằm nâng cao
chất lượng thông tin, đáp ứng yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế.
9
Thực trạng công tác lập và phân tích Báo cáo tài chính của công ty còn những
hạn chế nhất định. Để khắc phục những hạn chế đó và nâng cao chất lượng thông tin
trên các Báo cáo tài chính, công ty phải không ngừng hoàn thiện lập và trình bày Báo
cáo tài chính.
Cơ sở để đưa ra biện pháp hoàn thiện hệ thống Báo cáo tài chính, nâng cao chất
lượng lập Báo cáo tài chính tại công ty xuất phát từ yêu cầu của thông tin kế toán và
nhiệm vụ của công tác kế toán. Hạch toán kế toán với nhiệm vụ thu thập, xử lý và cung
cấp thông tin tài chính, kết quả kinh doanh để làm cơ sở cho việc ra quyết định quản lý.
Muốn vậy, thông tin kế toán phải được cung cấp kịp thời, chính xác, khách quan. Thông
tin trong Báo cáo tài chính là thông tin chung nhất về tình hình hoạt động kinh doanh
của công ty, tất cả những người quan tâm có thể nắm bắt, hiểu được tình hình tài chính
mà không cần phải tìm hiểu báo cáo chi tiết của công ty.
Cùng một thông tin kế toán thì khía cạnh xem xét, đánh giá là khác nhau tùy
thuộc vào nhu cầu sử dụng thông tin cũng như vai trò quản lý vĩ mô và lĩnh vực hoạt
động. Ví dụ như, đối với vai trò xem xét, đánh giá nhu cầu đầu tư, tại phòng kinh doanh
cần các thông tin mang tính thường xuyên, cụ thể chứ không phải các thông tin có tính
khái quát cao. Trong khi để đề ra các kế hoạch kinh doanh trong tương lai, ban giám đốc
cần các thông tin mang tính tổng hợp cao thể hiện tình hình hoạt động của công ty và
thông tin đó có thể là thường xuyên hoặc định kỳ đều được. Điều này chỉ có thể được
đáp ứng thông qua việc phân tích cụ thể thực trạng của công ty.

Phương án thử nghiệm phần hành kế toán mới không những tốn kém mà còn có tính rủi
ro cao, vì vậy, trong thời gian trước mắt, doanh nghiệp nên xem xét phương án hoàn
thiện phần hành kế toán đang sử dụng.
Công tác lập Báo cáo tài chính của công ty nói chung là hoàn thiện, đáp ứng đầy
đủ yêu cầu về cung cấp thông tin kịp thời, chính xác. Một số hạn chế của công ty sẽ dần
được khắc phục trong thời gian tới.
3.4.2. Hoàn thiện phân tích Báo cáo tài chính tại công ty
Hiện nay, việc phân tích Báo cáo tài chính của công ty được thực hiện khá cẩn
thận so với tình trạng chỉ tính toán các chỉ tiêu theo quy định của phần lớn các doanh
nghiệp hiện nay. Bên cạnh những nhược điểm cần phát huy trong thời gian tới, doanh
nghiệp cần khắc phục hạn chế trong khâu phân tích Báo cáo tài chính, cụ thể như sau:
11
+ Về lao động kế toán và tổ chức thực hiện phân tích: doanh nghiệp nên bổ sung
nhân viên kế toán giúp kế toán trưởng phân tích tình hình tài chính vào thời điểm cuối
kỳ. Doanh nghiệp không cần thiết phải lập riêng một bộ phận để thực hiện phân tích tình
hình tài chính vì đây không phải là công việc tiến hành thường xuyên trong năm. Như
vậy, sẽ tránh lãng phí công việc mà vẫn đáp ứng yêu cầu công việc, khắc phục đựoc hạn
chế về tổ chức thực hiện phân tích.
+ Về nguồn số liệu phân tích: doanh nghiệp cần có biện pháp để đảm bảo tính tin
cậy của nguồn số liệu phục vụ phân tích. Các Báo cáo tài chính cần được lập và trình
bày theo quy định của chế độ và chuẩn mực kế toán hiện hành, được kiểm toán bởi một
tổ chức kiểm toán độc lập. Bên cạnh đó, doanh nghiệp vẫn cần tiếp tục hoàn thiện, nâng
cao chất lượng của hệ thống báo cáo nội bộ.
+ Về phương pháp sử dụng trong phân tích: nghiên cứu và đưa ra phương pháp
đò thị để công tác phân tích Báo cáo tài chính được hoàn thiện hơn, kết quả phân tích dễ
hiểu, có tính so sánh cao.
+ Về quy trình phân tích: thực hiện lập hồ sơ phân tích định kỳ hàng năm, báo
cáo kèm theo bộ Báo cáo tài chính của công ty.
+ Về kết quả phân tích: các biện pháp đề ra sau phân tích Báo cáo tài chính cần
được giải trình cụ thể trên một văn bản, có thể đính kèm hồ sơ phân tích hàng năm.

- Chỉ tiêu thời gian một vòng quay các khoản phải thu của khách hàng được tính
theo công thức sau:
Thời gian 1 vòng quay các khoản Thời gian của kỳ phân tích
= ------------------------------------------------------
phải thu của khách hàng Số vòng quay các khoản phải thu khách hàng
Chỉ tiêu này phản ánh thời gian của một vòng quay của một khoản phải thu
khách hàng là bao nhiêu ngày. Chỉ tiêu này cần so sánh với thời gian bình quân ghi
trong hợp đồng kinh tế để thấy được thực chất khả năng thu tiền của doanh nghiệp và uy
tín của khách hàng đối với doanh nghiệp.
- Chỉ tiêu số vòng quay các khoản phải trả người bán được tính theo công thức
sau:
Số vòng quay các khoản Tổng số tiền hàng mua chịu
= -----------------------------------------------
phải trả người bán Số dư bình quân phải trả người bán
13
Chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ phân tích số vòng quay phải trả người bán quay
được bao nhiêu vòng. Chỉ tiêu này càng cao thì tiến độ thanh toán của doanh nghiệp đối
với các khoản phải trả càng nhanh.
- Chỉ tiêu thời gian bình quân của một vòng quay khoản phải trả người bán được
tính theo công thức sau:
Thời gian 1 vòng quay các Thời gian kỳ phân tích
= ---------------------------------------------------------
khoản phải trả người bán Số vòng quay các khoản phải trả người bán
Chỉ tiêu này phản ánh thời gian của một vòng quay của một khoản phải trả người
bán là bao nhiêu ngày. Chỉ tiêu này cần so sánh với thời gian bình quân ghi trong hợp
đồng kinh tế để thấy được tình hình thanh toán của doanh nghiệp từ đó đưa ra giải pháp
phù hợp.
Ví dụ, từ số liệu trên Báo cáo tài chính và Bảng cân đối số phát sinh của công ty,
ta tính được:
Số vòng quay các khoản 90.012.684

phân tích, có thể xây dựng mô hình phân tích tài chính Dupont theo một trong hai cách
sau:
• Mô hình 1:
Tỷ suất lợi nhuận trên Lợi nhuận Doanh thu
= ------------------ * -------------------------------
tổng tài sản (ROA) Doanh thu Tổng tài sản bình quân
Từ biểu thức trên, công ty xác định mối quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận trên tổng
tài sản với tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cũng như hiệu quả sử dụng tài sản theo
doanh thu. Hơn thế nữa, công ty xác định được 2 chỉ tiêu còn lại đã ảnh hưởng đến tỷ
suất lợi nhuận trên tổng tài sản như thế nào và sự thay đổi của tỷ suất lợi nhuận trên
tổng tài sản chủ yếu là do ảnh hưởng của nhân tố nào.
• Mô hình 2:
Tỷ suất lợi nhuận trên VCSH bình quân Lợi nhuận
= ------------------------------ * -----------------------
tổng tài sản (ROA) Tổng tài sản bình quân VCSH bình quân
Tương tự như trên, công ty sẽ xác định được sự thay đổi của nhân tố tỷ suất lợi
nhuận trên tổng tài sản chủ yếu do sự thay đổi của nhân tố tỷ suất tự tài trợ hay tỷ suất
lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE).
15
Ví dụ, phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh của
công ty theo mô hình 2:
Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007
ROA (LN/TTSBQ) 7,81 9,21
a (VCSHBQ/TTSBQ) 0,3621 0,4106
ROE (LN/VCSHBQ) 21,56 22,43
Nhân tố a thay đổi làm ROA thay đổi một lượng là: (0,4106 - 0,3621)*21,56 = 1,04566.
Trong khi đó, ROA thay đổi do ảnh hưởng của nhân tố ROE là: 0,4106*(22,43 – 21,56)
= 0,357222.
Như vậy, ROA tăng lên chủ yếu là do nhân tố a tăng lên, tuy nhiên, nhân tố ROE tăng
lên cũng làm cho ROA tăng lên đáng kể. Có thể kết luận, cơ cấu vốn của doanh nghiệp

chính đối với doanh nghiệp, để phân tích Báo cáo tài chính trong từng đơn vị được thực
hiện thống nhất hơn, đầy đủ hơn.
+ Cơ quan thống kê cần công khai hóa số liệu trung bình ngành và những số liệu
có thể công bố của các doanh nghiệp, để đảm bảo tính cạnh tranh lành mạnh của nền
kinh tế thị trường và cũng cung cấp cơ sở để các doanh nghiệp thực hiện so sánh với
tình hình bản thân doanh nghiệp mình.
17
KẾT LUẬN
Trong những năm gần đây, hệ thống những quy định liên quan đến Báo cáo tài
chính của Việt Nam không ngừng được thay đổi, cho phù hợp với điều kiện mới và cho
phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế. Vai trò cung cấp thông tin trên Báo cáo tài
chính không ngừng được nâng cao. Việc lập và trình bày Báo cáo tài chính phải tuân
theo đúng chuẩn mực nhằm cung cấp thông tin trung thực và hợp lý cho các đối tượng
quan tâm. Hơn thế nữa, thông qua các kết quả phân tích tình hình tài chính, có thể đưa
ra các dự báo về kinh tế, các quyết định về tài chính trong ngắn hạn, trung hạn, dài hạn
và từ đó có thể đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn.
Công ty cổ phần Vũ Gia nhận thức rõ vai trò của lập và phân tích Báo cáo tài
chính nên đã không ngừng cải thiện công tác này để đáp ứng nhu cầu về cung cấp thông
tin kế toán hữu ích, kịp thời của các đối tượng quan tâm đến hoạt động kinh doanh của
công ty.
Vì thời gian thực tập có hạn nên việc tìm hiểu công tác lập và phân tích Báo cáo
tài chính không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Khóa luận tốt nghiệp này ngoài
việc đánh giá ưu nhược điểm của công tác trên còn đưa ra một số ý kiến nhằm hoàn
thiện công tác này.
Em cũng xin được chân thành cảm ơn thạc sĩ Lê Kim Ngọc trong thời gian qua
đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp em hoàn thành bản khóa luận này theo thời gian quy
định của khoa kế toán.
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Điều tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần Vũ Gia.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status